Hôm nay,  

Ý Thức Trách Nhiệm

30/04/201000:00:00(Xem: 5293)

Ý Thức Trách Nhiệm

Bìa “A Sense of Duty: Our Journey From Vietnam To America.” Photo: www.quangpham.net.)


Phạm Xuân Quang


(LTS: Trong ngày tưởng niệm 30-4, Việt Báo trích đăng một phần tác phẩm “A Sense of Duty: Our Journey From Vietnam To America” của nhà văn Quang Pham, tức Phạm Xuân Quang, với sự đồng ý của tác giả, Phần Việt dịch bởi LS Lê Công Tâm. Tác phẩm Anh văn này đã phát hành bản bìa mềm trong tháng này bởi nhà XB Random House. Có thể tìm mua ở các tiệm sách hay: www.quangpham.net.)
"Đối với một người đã từng sống và chiến đấu với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và chứng kiến sự nghiệp phục vụ xuất sắc của Quang Phạm trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thì đây là một cuốn sách đặc biệt cảm động. Mọi người Mỹ phải đọc câu chuyện này để cảm nhận rõ ràng hơn những quyền tự do mình đang hưởng."
Tướng Thủy Quân Lục Chiến Anthony Zinni (Nguyên Tư lệnh Lực lượng Trung ương Hoa Kỳ CENTCOM - trải trên một vùng rộng lớn từ Trung Á qua Trung Đông)
Ngày 29 tháng 4, quân Bắc Việt tiến vào vùng ngoại ô quanh Sài Gòn và bắn pháo vào căn cứ không quân. Bố tôi và các người đồng ngũ phải trốn trong hầm tránh bom ở nhà. Rạng sáng hôm sau, một vài người rời hầm tránh bom và ra đi trên chuyến bay C-130 cuối cùng của Không Quân VNCH rời đất nước (máy bay đã phải cất cánh trên đường băng đầy mảnh đạn, họ bay đến căn cứ U Tapao ở Thái Lan). Họ nhìn thấy bố tôi lần cuối khi ông đang ở trong hầm và nói chuyện điện thoại với bà tôi. Hai bạn đồng ngũ khác của ông chạy ra Vũng Tàu và rời Việt Nam trên tàu của Hải Quân Mỹ.
Thiếu úy TQLC Hoa Kỳ Ted Murray kiểm lại quân số ngay sau loạt pháo kích của Bắc Việt. Hai người tử trận. Trung sĩ Charles McMahon, Jr., và hạ sĩ Darwin Judge là 2 quân nhân Mỹ cuối cùng tử trận tại Việt Nam.
Ông Murray nhớ lại buổi sáng định mệnh: “Chúng tôi có nhiều công việc giấy tờ phải hoàn thành trước khi ra đi. Có hai mẹ con người Việt Nam, bà mẹ tên Von và cô con gái tên Vân. Tôi đã bảo đảm với bà Von hôm 28 tháng 4 là mẹ con bà sẽ được đi trước cả khi chúng tôi đi. Nhưng đêm đó, khi phi trường bị máy bay Dragonfly A-37 tấn công, bà Von đã trở về nhà. Tôi cũng không biết là bà có cơ hội để quay lại hay không… Tôi chỉ là một thiếu úy, cố gắng làm hết sức mình, và tôi đã làm một số việc có thể gây rắc rối cho tất cả chúng tôi. Đó là cho nhiều người đi theo lên máy bay mà không “lệnh trên” của Bộ Ngoại Giao hay bất kỳ người nào. Tại sao ư" Bởi vì tôi có thể làm vậy trong lúc đó. Và đó là điều làm tôi cảm thấy vô cùng tự hào.”
Ông Murray đã chứng kiến, có lẽ là chuyến bay cuối cùng của Không Quân VNCH. Sáng 29 tháng 4, một máy bay chiến đấu AC-119 cố gắng lần cuối cùng, bay vòng chung quanh căn cứ Tân Sơn Nhứt, nã đạn vào các nhóm tiền quân Bắc Việt. Chiếc máy bay này đã đậu tại căn cứ vào đêm hôm đó, tiếp thêm nhiên liệu và đạn dược, trước khi bị tên lửa đối không SA-7 bắn trúng lúc 7 giờ sáng. Máy gay nổ lớn và có vài chiếc dù bung ra. Hai chiếc Skyraider của Phi Đoàn 514th và 518th (đội bay trước đây của bố tôi) cũng tham chiến. Một chiếc bị bộ binh bắn rơi, còn chiếc kia bị trúng tên lửa của SA-7. Những trận chiến cuối cùng này đã viết nên trang sử kiêu hùng của Không Quân VNCH, sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, và có một kết thúc buồn.
Hàng trăm máy bay của Không Quân VNCH bay qua Thái Lan, nhìn cứ như đàn châu chấu ở đường chân trời, các trực thăng đáp trên các mẫu hạm của Mỹ trên biển Nam Trung Hoa, chỉ để bị đẩy xuống biển lấy chỗ cho các chiếc khác. Tướng Kỳ, trung tướng Ngô Quang Trường*, và vài người khác bay trên trực thăng riêng của ông Kỳ, đáp trên mẫu hạm USS Midway vào buổi trưa. Sĩ quan phụ tá ông Kỳ, thiếu tá Hồ Đăng Trí, một trong các người bạn thân của bố tôi, không chịu ra đi; cả gia đình ông Trí đều ở lại Saigon.
* Trung tướng Ngô Quang Trường là chỉ huy lực lượng “I Corp,” được nhiều người Mỹ (kể cả tướng Abrams) xem là chỉ huy chiến trường giỏi nhất của Việt Nam, và “chỉ đứng sau tướng George S.Patton,” theo lời ông Kỳ.
Cái giá của tự do không còn là điều quan trọng nữa. Thiếu tướng hải quân Lawrence Chambers ra lệnh đẩy vài chiếc trực thăng Huey đáng giá $10 triệu xuống biển để cứu một gia đình Việt Nam. Tướng Bung Lý của Không Lực VN (cùng với vợ và 5 con) đã đáp được chiếc máy bay quan sát O-1 lên mẫu hạm USS Midway.
Phải đến 15 năm sau, một người VN khác mới có thể đáp trực thăng của mình lên một mẫu hạm của hải quân Mỹ, trong cương vị một phi công TQLC.
Bố tôi quyết định quay lại Saigon lần cuối để đưa bà tôi đi. Khi bà từ chối, bố tôi quay trở lại căn cứ Tân Sơn Nhứt. Khi lái xe xuyên qua Saigon, bố tôi nhìn thấy quân dụng vất bỏ trên đường. Quân nhân thuộc sư đoàn 18th, đơn vị cuối cùng đánh tại Xuân Lộc, đã rút lui về thành phố. Các người lính chỉ mặc thường phục, quân phục và giày đều bỏ lại trên đường. Các khẩu M16 bị ném xuống sông Saigon.
Bố tôi cũng vậy, đã đổi quân phục sang thường phục. Chạy vòng vèo trên đường, ông nhấn ga chiếc Lambretta, chạy nhanh hết mức. Tránh được bọn nằm vùng và các nhóm tiền quân Bắc Việt, bố tôi cuối cùng cũng đến được Tân Sơn Nhứt, hy vọng sẽ bắt kịp một chiếc máy bay nào đó.


Tuy nhiên, bố tôi không biết rằng sân bay đã đóng cửa sau khi bị không kích vì phi đạo không dùng được nữa. Các chuyến di tản của người Mỹ đã chuyển san khu IV, một khu sân bay trực thăng của Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ và DAO. Bài hát “White Christmas” của Bing Crosby, tín hiệu cho tất cả mọi người Mỹ phải di tản, đã được phát đi vài giờ trước đó. Bố tôi chạy được đến cổng Tân Sơn Nhứt và nhận ra vài khuôn mặt quen thuộc, nhưng giờ đang mặc quân phục của Việt Cộng. Ông đổi hướng, chạy về phía khu DAO, nơi trực thăng CH-53 Sea Stallion của TQLC Mỹ đã đáp vào lúc 3 giờ trưa. Bố tôi ngừng chiếc Lambretta và chạy về phía hàng rào, đứng chung với một đám đông đang hoảng loạn.
Giữa sự hỗn loạn và hoang mang này, một lính TQLC Hoa Kỳ mặc áo chống đạn, ấn nòng súng M16 vào ngực bố tôi, không cho ông bước vào khu sân bay của DAO. Bố tôi lùi lại và nhìn những người Việt Nam may mắn được cho vào. Một người lính TQLC đã cứu sống bố tôi vào 11 năm trước, và nay, một TQLC khác đã chận không cho bố tôi bước lên chuyến bay đi đến tự do. Rối bời và chán nản, bố tôi nhìn quanh, cảm thấy thất vọng khi nhìn thấy càng lúc càng nhiều người lính VNCH vất bỏ quân phục và ném súng xuống sông, để tránh bị Cộng Sản bắt giữ. Tối 29 tháng 4, bố tôi chạy xe trở về nhà bà ngoại để đón chờ định mệnh của mình.
Từ trưa hôm 29 cho đến sáng 30 tháng 4, ç của TQLC Hoa Ky va CIA đã đưa đi gần 7,000 người Mỹ, Việt Nam, và các quốc tịch khác, lên tàu hải quân đậu bên bờ biển. Chiến dịch “Frequent Wind” trở thành chiến dịch di tản bằng trực thăng lớn nhất từ trước đến nay. Lúc 4:59 phút sáng, trực thăng CH-46 với cuộc điện thoại mật danh là “Lady Ace 09” do đại tá Gerry Berry làm phi công, đã gọi cho mẫu hạm USS Blue Ridge. “Tiger, tiger, tiger” (mãnh hổ). Đây là thông báo cho biết Đại Sứ Martin đang trên đường rời khỏi Saigon. Ông Martin phải ở lại cho tới khi có điện thoại trực tiếp của Tổng Thống Ford cho phép ông rời tòa lãnh sự. Lúc 7 giờ sáng, ông Martin bay cùng với nhóm TQLC kế chót rời khỏi Saigon. “Anh có thể nhìn thấy các vụ bắn nhau. Quân đội miền Nam Việt Nam rút vào thành phố, và họ vẫn chiến đấu rất dũng mãnh, đặc biệt là tại phía Bắc thành phố,” ông Berry kể lại cho tôi nhiều năm sau đó. “Tôi nhìn thấy xe tank của Bắc Việt tiến vào thành phố. Sau 20 năm chiến tranh, nhìn thấy điều này thật là khó chịu.”
7 giờ 30 phút sáng, chiếc CH-46 bốc đi 11 lính TQLC cuối cùng trên nóc tòa lãnh sự Mỹ. Lúc 11 giờ trưa, 2 chiếc xe tank T-54 của Bắc Việt húc đổ cổng sắt dinh tổng thống. Một lính chạy vào dinh, và phất lá cờ đỏ của Cộng Sản trên ban-công phía trước. Tổng Thống Minh và nội các 3 ngày tuổi của ông chính thức đầu hàng với phóng viên chiến trường, đại tá Bùi Tín*.
Khi lệnh đầu hàng được phát trên radio, một vị tướng của quân đội VNCH, mặc quân phục, đứng tại khu tưởng niệm TQLC Việt Nam, giơ tay chào, và tự sát bằng phát súng vào đầu. Nhiều tướng lãnh khác của quân đội VNCH cũng tự sát. Lúc đó, các người thân trong gia đình tôi đã phải giấu súng của bố tôi đi, vì sợ rằng bố tôi cũng sẽ tự giết mình.
Bố tôi nhìn ra đường khi quân Bắc Việt tiến vào thành phố. Đầu óc ông hoang mang. Đời lính chiến kéo dài 20 năm của ông đã kết thúc. Hàng ngàn người lính đã hy sinh cho miền Nam, kể cả những người bạn thân của bố tôi, đã nằm xuống trong cuộc chiến. Một sự yên lặng kỳ lạ phủ lên Saigon vào tối hôm đó. Bố tôi ở lại nhà bà ngoại 1 tháng rưỡi, trước khi ra trình diện rồi bị bắt đi cải tạo cùng với các sĩ quan miền Nam VN khác. Đối với hầu hết người Việt Nam, chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng với vài triệu người, tuy nhiên, sự chết chóc và chịu đựng vẫn tiếp diễn trong nhiều năm sau khi Saigon “giải phóng.”
* Vì sự kiểm duyệt gắt gao và thiếu dân chủ tại Việt Nam sau chiến tranh, Bùi Tín đã bỏ sang Pháp năm 1990. Trong hồi ký “Đi theo Hồ Chí Minh,” ông Tín kể lại ngày miền Nam đầu hàng. “Trong ngày 30 tháng 4, ông ấy (Nguyễn Văn Hảo, giám đốc Ngân Hàng Quốc Gia Miền Nam) nói rằng số vàng tích trữ của miền Nam (16 tấn), bị đồn là Tổng Thống Thiệu đã chuyển ra nước ngoài, thật ra vẫn đang nằm nguyên vẹn trong ngân khố Saigon.”
Ông Bùi Diệm, lãnh sự miền Nam Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhớ lại những ngày cuối cùng*: “‘Có thể nào, một quốc gia lớn lại hành động như vậy không"’ Đó là câu hỏi mà một người bạn đã hỏi tôi tại Saigon khi tin tức vào tháng 8, 1974 cho biết, Quốc Hội (Mỹ) cắt giảm viện trợ. Ông ấy là bạn học cùng trường với tôi khi còn ở miền Bắc và hiện là chủ cửa hàng, một người hoàn toàn không làm chính trị. ‘Anh là đại sứ,’ ông nói. ‘Có lẽ anh hiểu chuyện hơn tôi. Nhưng anh có giải thích được thái độ này của người Mỹ không" Họ muốn tới thì tới, đi thì đi. Giống như có một người hàng xóm đến nhà anh, gây đủ thứ rắc rối, sau đó nói là anh ta quyết định sai, và bỏ đi. Sao mà họ có thể làm vậy được"’ Đó là một câu hỏi đơn giản của người bạn chất phác. Nhưng tôi không trả lời được.”
“Người dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là giới lãnh đạo, trong đó có tôi, phải chịu trách nhiệm cao nhất về định mệnh của quốc gia, và nói thật, họ có rất nhiều điều đáng để hối tiếc và xấu hổ.”
Hai tuần sau khi Saigon thất thủ, trong đoạn báo cáo gởi Tổng Thống Ford (tiết lộ năm 2000), ông Henry Kissinger viết, “Khi nước Mỹ tham chiến vào những năm 1960s, họ đã đi quá giới hạn đến độ làm chấm dứt sự nghiệp và cả cuộc sống của giới lãnh đạo của nước đồng minh, và gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Mỹ. Khi chúng ta nhận đây là “cuộc chiến của chúng ta,” thì đáng lẽ không nên để miền Nam Việt Nam phải tham gia cuộc chiến; và khi mọi sự trở thành “cuộc chiến của họ,” thì đáng lẽ chúng ta không nên nhúng tay vào.” Bản báo cáo này đã không bao giờ được gởi tới cho tổng thống.
* Theo hồi ký của ông Bùi Diệm: “Trong gọng kềm của lịch sử.”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.