Hôm nay,  

Berlin, 20 Năm Nhìn Lại

07/11/200900:00:00(Xem: 5883)

Berlin, 20 Năm Nhìn Lại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9-11-1999 Lê Văn có mặt tại Bá Linh và chứng kiến ngày bức tường xụp đổ;Tác giả và bức ảnh lớn chụp T.T Kenedy thăm Berlin;Bảng quảng cáo phim Checkpoint Charlie

Bài của LÊ VĂN

LTS:  Ngày 9 tháng 11, thế giới sẽ kỷ niệm 20 năm việc phá đổ bức tường Bá Linh, một biến cố trọng đại đã đem lại tự do cho toàn vùng Đông Âu và đưa tới sự tan rã của khối cộng sản. Ông Lê Văn, lúc đó còn là chủ biên đài VOA, đã tình cờ có mặt tại Bá Linh và tận mắt chứng kiến biến cố bức tường bị phá đổ (hình bên). Hai mươi năm sau,  Lê Văn đã “trở lại Berlin để tìm dấu vết xưa.” Đây là bài viết đặc biệt của ông.

Cách đây đúng 20 năm, 1989, vì một sự tình cờ  tôi đã có mặt tại Berlin, khi ấy còn là một thành phố bị chia cắt nằm lọt thỏm ở bên trong lãnh thổ của cọâng sản Đông Đức. Nhờ vậy mà tôi được dịp chứng kiến tận mắt và tường thuật tại chỗ, qua làn sóng điện của đài VOA, về cuộc biểu tình vĩ đại của nhân dân Đông Berlin đòi dẹp bỏ chế độ cộng sản mà cuối cùng đã biến thành cuộc nổi dậy đập phá bức tường ô nhục từng giam hãm họ trong 28 năm.
Khoảng một tuần trước khi vụ này xảy ra, tôi được gởi sang Berlin chỉ để làm một loạt tường thuật và phỏng vấn với các nghệ sĩ danh tiếng của Việt nam vừa đào thoát sang Tây Đức đi tìm tự do, trong đó có những tên tuổi nổi bật như nghệ sĩ cải lương Thành Được, danh ca Ái Vân, và luôn cả một số các du sinh Việt Nam đang được huấn luyện về âm nhạc, kịch nghệ và vũ điệu Ballet tại các nhạc viện ở Đông Âu. Mục đích chuyến đi chỉ có thế.  Không ai tiên liệu được là một biến cố lịch sử vĩ đại, mở đường cho một loạt những sụp đổ như trúc chẻ ngói tan của toàn thể khối cộng sản Đông Âu, lại xảy ra đúng vào thời điểm ấy.

VÀI DÒNG LỊCH SỬ
Để hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, xin nhắc lại một vài biến cố chính sau thế chiến thứ 2. Đức quốc xã bị đồng minh đánh bại và bị chia cắt làm 4 phần: 3 phần ở phía tây họp chung thành Tây Đức do các nước Anh, Mỹ, Pháp quản trị và 1 phần phía Đông dành cho Liên Sô. Ngoài ra, Liên Sô còn được quyền cai trị cả một vùng Đông Âu rộng lớn nhờ những nhượng bộ quá mức và không cần thiết mà tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã dành cho họ tại hội nghị Yalta.
Tây Đức được phục hồi kinh tế tốt đẹp nhờ kế hoạch viện trợ Marshall của Mỹ. Nhà cửa được tái thiết, các xưởng máy được hoạt động trở lại, và chỉ mấy năm sau đã trở thành một quốc gia dân chủ phú cường, nhân dân sống trong tự do thịnh vượng. Nửa phía Đông trái lại bị Liên Sô áp đặt một chế độ cộng sản cai trị khắc nghiệt bằng cảnh sát công an, với nền kinh tế do trung ương chỉ huy theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Và như người ta đã thấy rõ, bất cứ ở nơi đâu mà chủ thuyết cộng sản được áp dụng và mô thức xã hội chủ nghĩa được thi hành, thì nền kinh tế ở đó đều đi từ bại đến xụi, và dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng đói khổ. Đông Âu nói chung và Đông Đức nói riêng cũng không thoát khỏi quy luật này.
Thành phố Berlin, thủ đô của nước Đức, tuy nằm sâu trong phần lãnh thổ do Liên Sô cai trị, nhưng cũng vẫn được chia thành 4 khu vực, do Anh, Mỹ, Pháp, Nga mỗi nước kiểm soát một khu. Dân chúng Berlin ai cũng mong được cư ngụ trong các khu vực phồn thịnh vui vẻ của Anh, Mỹ, Pháp và tìm cách di tản khỏi khu vực nghèo đói khắc nghiệt của Nga. Lãnh tụ Stalin hết sức căm giận nên hôm 24 tháng 6, 1948 đã ra lệnh đóng cửa mọi phương tiện giao thông vận tải từ Tây Đức ngang qua lãnh thổ Đông Đức để cắt đường tiếp tế cho Tây Berlin. Stalin cho rằng không có thực phẩm tiếp tế hằng ngày thì dân Tây Berlin không cách chi sống nổi và 3 nước Anh, Mỹ, Pháp rồi cũng phải bỏ ra đi, để mặc thành phố Berlin cho một mình Nga cai trị.
Đồng minh Tây phương đã phản ứng lại ngón đòn hiểm độc này của Stalin bằng một biện pháp kiên quyết không ngờ, đó là thiết lập một cầu hàng không, để chuyên chở các nhu yếu phẩm tới Tây Berlin bằng những chiếc máy bay vận tải khổng lồ, không cần tới đường bộ nữa. Chở hàng bằng máy bay dĩ nhiên là tốn kém hơn nhiều, nhưng đây là một cuộc đấu tranh chính trị, một cuộc thi gan xem ai bền vững hơn ai nên phe đồng minh không quản ngại tốn công tốn của, mỗi ngày chuyển vận khoảng 13 ngàn tấn thực phẩm cung ứng cho dân chúng trong thành phố bị bao vây.
Thoạt tiên phe cộng sản cho rằng cầu hàng không sẽ chỉ kéo dài được dăm ba bữa hoặc nửa tháng là cùng và sẽ không thể thành công. Nhưng các vận tải cơ của Anh, Mỹ, Pháp cứ tiếp tục ngày đêm bay tới Tây Berlin trong gần một năm trời mà vẫn không thấy dấu hiệu mệt mỏi, trái lại càng ngày càng chở nhiều vật phẩm hơn. Liên Sô thấy cuộc phong tỏa Berlin của họ như vậy là hoàn toàn vô ích vì chẳng bắt bí được ai mà chỉ gây thù chuốc oán với Tây phương nên chỉ chưa đầy 1 năm sau họ đành phải bãi bỏ lệnh cấm vận, cho phép các tuyến đường giao thông bằng xe buýt, xe vận tải và xe lửa từ Tây Đức tới Berlin được nối tiếp lại. Vả lại họ cũng cần giao dịch buôn bán với Tây Berlin để kiếm thêm ngoại tệ mạnh, hầu nâng đỡ nền kinh tế đang sa sút thảm hại của Đông Berlin. Vụ này là một thất bại nhục nhã cho phía cộng sản.
Nhưng kinh tế sa sút vẫn chưa làm chính quyền cộng sản mất mặt cho bằng việc dân chúng cứ ùn ùn bỏ trốn chế độ của họ. Bất chấp những rào cản, những lính gác biên giới, người dân từ Đông Đức đã tìm mọi cách đi qua ngả Berlin để vượt thoát sang Tây Đức mỗi lúc một nhiều hơn. Cho tới năm 1961, đã có hơn 2 triệu rưởi người, tức là khoảng 20% dân số Đông Đức lọt được sang Tây phương, trong đó phần lớn là những kỹ sư, bác sĩ, những người có tay nghề và kỹ thuật chuyên môn cao, khiến cho Đông Đức bị thất thoát chất xám trầm trọng.
Nhà cầm quyền cộng sản đi đến kết luận là nếu không có biện pháp ngăn chặn tức thời và hữu hiệu thì chẳng bao lâu nữa họ sẽ mất hết dân. Quyết tâm cắt đứt mọi ngả đường đào thoát, họ đã đột ngột dựng lên một bức tường kiên cố để ngăn đôi thành phố Berlin vào đêm khuya hôm 13 tháng 8, 1961 trong lúc ai nấy còn đang yên ngủ.
Sáng hôm sau thức dậy, dân chúng Tây Berlin ngỡ ngàng nhận thấy mình đang bị giam tù ngay giữa lòng thành phố và mọi hy vọng đi tìm tự do đều tắt ngúm. Rất chớp nhoángï chỉ trong vòng 5 ngày, một bức tường dài tới 155 kilomét, chiều cao 4 mét, với vọng gác chòi canh và những họng súng liên thanh đen ngòm đầy đe dọa đã được hoàn tất. Chính quyền huy động một lực lượng cảnh sát công an hùng hậu lên tới 11,500 người để tuần phòng dọc theo bức tường, và bất cứ ai trèo tường vượt biên đều bị bắn chết ngay tại chỗ. Thế nhưng niềm khao khát tự do vẫn thúc đẩy nhiều người tìm cách vượt qua. Liên tục trong 28 năm trời, bắt đầu từ 1961 khi bức tường Berlin được dựng lên cho đến 1989 khi nó bị phá đổ, đã có 136 người trèo tường vượt biên bị bắn chết bên phía Đông Berlin, xác treo lủng lẳng trên bờ tường, máu chảy tung tóe đầy mặt đất. Những vụ bắn giết dã man đó đã khiến cho thế giới bên ngoài vô cùng phẫn nộ. Vì vậy mà họ đặt tên cho nó là "bức tường ô nhục". 


Sau khi bức tường được dựng lên, phe đồng minh Tây phương đã phản ứng mạnh mẽ nhưng cũng chẳng làm được gì hơn là đưa ra những kháng thư với lời lẽ nghiêm khắc lên án hành động đó. Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã đích thân tới thăm thành phố bị bao vây này và tuyên bố một câu bất hủ bằng tiếng Đức: "Ich bin Berliner" (Tôi là một người dân Berlin). Ông Kennedy đã khẳng định rằng ông là người Berlin thì cộng sản đâu còn dám bóp nghẹt dân chúng bên phía Tây thành phố thêm nữa.
Trong khi ấy thì ở phía Đông, người dân tuy không thể leo qua bức tường nhưng vẫn tiếp tục nghĩ ra những phương cách càng ngày càng độc đáo hơn để vượt thoát. Một trong những cách được nhiều người xử dụng nhất là giả bộ lái xe đến gần trạm kiểm soát Charlie (Checkpoint Charlie) ngay cửa ngõ đi vào khu vực của Mỹ, rồi bỗng nhiên rồ hết gas phóng xe nhào qua trạm, thế là sang được vùng tự do, khiến lính gác cộng sản không kịp phản ứng. Một số các nhà bác học xuất sắc bên Đông Đức đã thoát được bằng phương cách đó. Ngày nay, Checkpoint Charlie cùng với tấm bảng viết những hàng chữ bằng 3 thứ tiếng Anh, Nga và Pháp (You are leaving the American sector/Vous sortez du Secteur Américain)  để cảnh cáo du khách chớ đi lạc qua Đông Berlin vẫn còn được duy trì. Và cũng có cả một cuốn phim thuộc loại hồi hộp nín thở được thực hiện với nhan đề Checkpoint Charlie, kể lại câu chuyện gián điệp li kỳ hấp dẫn để đưa người vượt qua chỗ này.
NỖI KINH HOÀNG NĂM XƯA
Tôi đến Berlin lần đầu tiên vào năm 1969, tức là 40 năm về trước, đúng vào lúc cuộc chiến tranh lạnh đang lên đến cao độ và tình hình ở các đường biên giới luôn luôn căng thẳng. Từ trên các chòi canh, những người lính Đông Đức mặt mũi lầm lì như có cô hồn, túc trực bên những khẩu trung liên và đại liên sẵn sàng xả súng bắn xuống bất cứ ai liều mạng vượt biên.
Tuy ngăn cấm người dân của họ nhưng nhà cầm quyền cộng sản lại cho phép dân Tây Đức và du khách từ các nước ngoài được tự do ra vào Đông Đức hay tới Berlin thăm bà con hoặc đi du lịch. Lý do là vì họ rất thèm ngoại tệ mạnh của Tây phương. Họ còn chịu bỏ tiền ra xây dựng cả một đường xa lộ dài hơn 250 kilomét đi từ Hamburg tới Berlin để du khách đem tiền vào đó mua bán tiêu xài
Nhưng muốn được vào lãnh thổ của họ, người nước ngoài phải chịu những biện pháp khám xét và những hạn chế rất nghiêm ngặt để ngăn ngừa bất cứ mưu toan nào nhằm trợ giúp cho dân Đông Đức vượt thoát. Trước đó đã có những vụ hẹn gặp để người Đông Đức ra núp sẵn trong một bụi cây hay nằm nép dưới đường mương sát bên xa lộ, đợi xe hơi của du khách từ Berlin trở về Tây Đức đến gần thì nhào ra chui vào trong thùng xe hay bám sát dưới gầm xe. Qua được biên giới là họ thoát.
Rút kinh nghiệm từ những vụ như vậy, nhà cầm quyền cộng sản ra lệnh khám xét kỹ các xe hơi của du khách, kể cả việc rà soát dưới gầm xe. Ngoài ra, người lái xe trên các xa lộ ra vào Berlin đều bị cấm chỉ không được dừng lại ở bất cứ chỗ nào, dù là để đi tiểu. Nếu trái lệnh, xe hơi có thể bị lính đi tuần tiễu xả súng bắn liền. Xa lộ dài tới hơn 250 kilomét nên dù có lái xe mau lắm cũng phải mất 3 tiếng đồng hồ mới đến nơi. 3 giờ đồng hồ nhịn tiểu là điều khó làm đối với nhiều người. Du khách chỉ được dịp giải tỏa sau khi tới 1 trạm kiểm soát ngay trước cửa ngõ đi vào Tây Berlin. (Trạm kiểm soát của Đông Đức).
Biết thế nên anh bạn cũ, một sinh viên từ Saigon đang du học ở Tây Berlin, đã cẩn thận dặn dò tôi: "Này, phải nhớ đi toilet cho thật kỹ trước khi lên đường, và phải chịu khó nhịn uống nước trong lúc lái xe, không thì kẹt lắm đấy." Tôi ngoan ngoãn làm theo đúng lời dặn, nhưng sau gần 3 tiếng đồng hồ lái xe là đã thấy căng lắm rồi. Đến được trạm kiểm soát, tôi mừng biết mấy vì tưởng là được vào toilet ngay. Quái ác thay, họ chưa cho vào mà còn bắt đứng sắp thành hàng dài để kiểm soát passport, visa đủ thứ rồi mới được nhập cảnh. Tôi kẹt quá bèn tách ra và nói khó với người gác cổng cho tôi vào bên trong. Anh ta cũng thương tình chỉ chỗ cho đi.
Muốn đến phòng toilet lại còn phải băng ngang qua một sân rộng tối om vì lúc đó chưa đến giờ mở cửa, chưa ai được vào. Tôi nào có biết thế nên cứ xăm xăm tiến tới. Vừa đi đến giữa sân, tôi bỗng lóa mắt bởi mấy chục ngọn đèn pha đột nhiên bật sáng chiếu thẳng vào mình, và bốn chung quanh là những tiếng lên đạn lách tách và những tiếng hô "Achtung!" đầy đe dọa. Tôi vốn không phải là đứa nhát gan. Trong những năm tháng làm thông tín viên quốc tế, tôi không ngại xông xáo tới những nơi vẫn được coi là nguy hiểm để săn tin và để được dịp tường thuật tại chỗ. Vùng tam giác vàng tôi cũng dám vô, biên giới Việt Miên khi đang có nạn "cáp duồn" tôi cũng dám đến. Ông chủ sở lo ngại cho tính mệnh của tôi còn đánh điện ra lệnh cho tôi phải trở về Bangkok ngay lập tức và trách tôi là quá táo bạo, không biết sợ. Nhưng hôm ấy thì tôi sợ thật.
Sau này nghĩ lại tôi thấy không phải tôi sợ chết. Chính cái khung cảnh rùng rợn, ma quái đầy vẻ khủng bố dọa nạt của trạm kiểm soát bên phía cộng sản Đông Đức đã làm tôi mất tinh thần. Tôi đứng sững như trời trồng, không nhúc nhích. Một toán lính Đức võ trang đến tận răng xông ra hạch hỏi xem tôi đi đâu mà dám vào vòng cấm địa khi chưa được phép. Ấy đấy, chỉ một chuyện nho nhỏ như vậy cũng đủ cho thấy cái chính sách uy hiếp bằng sắt máu bạo lực mà nhà cầm quyền Đông Đức và quan thầy Liên Sô của họ áp dụng đối với thành phố Berlin hồi ấy nó dễ sợ tới mức nào!
Ngày hôm sau, tôi ra đứng ngắm "bức tường ô nhục" với những vòng dây kẽm gai nhọn hoắt mà ngao ngán cảm thấy như nó là bức trường thành kiên cố vĩnh viễn không sao phá nổi. Tôi không thể nào ngờ được là chỉ 20 năm sau, nhân dân Đức ở cả 2 bên bức tường đã phẫn nộ vùng lên đập đổ nó đi. Và đúng vào cái ngày lịch sử ấy, tôi lại may mắn có mặt ngay tại chỗ để được nhìn thấy cảnh tượng hàng triệu con người thuộc đủ mọi thành phần già trẻ lớn bé ồ ạt kéo nhau đi biểu tình đòi dẹp bỏ chế độ cộng sản.
Nhân khí thế hăng say của cuộc biểu tình, họ xông ra đập phá bức tường, người vác búa, kẻ cầm rìu, và chỉ một lúc sau là cả một mảnh lớn của bức tường đã bị phá sập. Thế là như nước vỡ bờ không gì cản nổi, dân chúng cứ thi nhau mà đập nốt, lính cộng sản Đông Đức cũng đành trơ mắt ngồi coi không dám can thiệp, lại càng không dám nổ súng bắn giết như hồi trước. Tôi kinh ngạc đứng nhìn một biến cố lịch sử xảy diễn mà không dám tin ở chính mắt mình!
Từ đó đến nay lại thêm 20 năm nữa trôi qua, tôi trở về Berlin để tìm dấu vết xưa. Bức tường ô nhục hiện giờ chỉ còn lại một đoạn ngắn ngủn được chính phủ Đức lưu giữ như một chứng tích về sự giam hãm con người mà chế độ cộng sản đã áp đặt trong hơn một phần tư thế kỷ.
Đông Đức sau khi thoát nạn cộng sản đã được thống nhất trở lại với Tây Đức trong một diễn tiến hòa bình và nước Đức ngày nay là đầu máy kinh tế kéo theo cả khối Tây Âu tới chỗ thịnh vượng.
Nhìn ngắm dân chúng Đức sống trong cảnh thanh bình phú túc, người Việt chân chính nào mà chẳng bùi ngùi thương xót cho số phận nước mình, dân mình mãi đến tận bây giờ cũng vẫn còn bị đảng cộng sản cai trị nghiệt ngã, bóc lột tàn bạo, và đất đai sông biển của cha ông để lại còn bị chúng cắt xén đem dâng hiến cho Tàu. Đồng bào tôi ơi, biết đến bao giờ cuộc cách mạng nhung mà chúng ta hằng mơ ước mới xảy đến cho Việt Nam mình đây"
Lê Văn 
www.levanwineclub.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.