Hôm nay,  

Các Lá Cờ Việt Nam

24/06/200800:00:00(Xem: 12100)
(Trình bày tại Lễ Kỷ niệm 60 năm CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ do Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH tổ chức tại Toronto ngày 21-6-2008)

1. LÁ CỜ TRUYỀN THUYẾT

Trong  bộ sử thi Đại Nam quốc sử diễn ca, hai tác giả Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát (thế kỷ 19) có lẽ là những người đầu tiên đề cập đến lá cờ:  “Đầu voi phất ngọn cơ vàng, / Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha.” (Đại Nam quốc sử diễn ca, câu 399-400.) 

Đó là hình ảnh của bà Triệu Thị Trinh trong cuộc khởi nghĩa năm 248 (mậu thìn), chống quân Trung Hoa xâm lược.  Đây chỉ là lá cờ truyền thuyết trong thi ca, chứ không phải quốc kỳ của nước Việt.

Trong suốt thời gian từ thời Ngô Quyền tuyên bố độc lập năm 939 cho đến khi bị Pháp bảo hộ, các bộ chính sử hoàn toàn không đề cập gì đến quốc kỳ của nước Việt.  Thậm chí, vào thế kỷ 19, khi Phan Thanh Giản (1796-1867) cầm đầu phái đoàn sang Pháp năm 1863 để thương lượng ngoại giao, phái đoàn cũng không có quốc kỳ. 

Trong sách Tây hành nhật ký do phó sứ là ông Phạm Phú Thứ (1820-1883) ghi lại, có kể câu chuyện như sau:  Khi tàu của phái đoàn Việt Nam ngang qua kênh đào Suez ở Ai Cập, thì một đại diện Pháp nói với phái đoàn: “Đây [Ai Cập] sang Pháp, những nơi nào sứ bộ đi qua đều có nổ súng đón chào.  Vì thế cần phải có cờ sứ bộ trương lên đáp lễ.”  Lúc đó, Phạm Phú Thứ trả lời rằng: “Chúng tôi hiện có đem theo lá quốc kỳ.”  Viên đại diện Pháp xem xong bảo: “Cờ nầy về phần màu sắc lẫn lộn với cờ các nước, sợ khó phân biệt, vậy xin sứ bộ viết thêm mấy chữ của quý quốc vào đó thì hơn.”  Sứ bộ lấy tơ đỏ thêu thêm 4 chữ “Đại Nam khâm sứ” ở cả hai mặt, rồi treo trên cột buồm. (Phạm Phú Thứ, Tây hành nhật ký [chữ Nho], bản dịch của Tô Nam và Văn Vinh, TpHCM: Nxb. Văn Nghệ, 2001, tr. 25.)

Mẩu đối thoại trên đây không cho biết lá cờ màu gì, chỉ biết chắc chắn không phải là màu đỏ vì 4 chữ “Đại Nam khâm sứ” được thêu bằng chỉ đỏ.  Nhiều người phỏng đoán đó là màu vàng bởi vì màu vàng được xem là màu truyền thống của những nhà lãnh đạo quân chủ Việt Nam.   Nhiều giai thoại cho rằng phái đoàn không có chuẩn bị quốc kỳ, nên sứ bộ đã lấy một miếng vải vàng dùng làm quốc kỳ, nhưng thật sự bốn chữ thêu cho thấy đây chỉ là cờ của sứ bộ, chứ không phải là quốc kỳ Việt Nam.  Câu chuyện nầy còn cho thấy rằng cho đến khi Phan Thanh Giản đi sứ năm 1863, nhà Nguyễn cũng chưa có lá cờ chính thức tượng trưng cho nước Việt Nam.

2.- CỜ THỜI PHÁP THUỘC

Cờ bảo hộ:  Sáu tỉnh Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp sau hòa ước 1874.  Trung và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ năm 1884.  Năm 1886, Pháp áp đặt triều đình Huế và vua Việt Nam phải thực hiện một lá cờ, gọi là cờ “Bảo hộ”. Cờ màu vàng, chia làm bốn phần.  Ba phần màu vàng, một phần tư ở trên, sát cán cờ có ba màu, là xanh, trắng và đỏ, tức cờ tam tài của Pháp.  Lá cờ nầy thường được gọi là Cờ bảo hộ.

Cờ bảo hộ được thêu thành tám lá, chia cho sáu bộ (lục bộ) sáu lá, cơ mật viện một lá và ty hành nhân một lá.  (Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu, bản dịch tiếng Việt, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 560.)  Ty hành nhân là cơ quan phụ trách việc ngoại giao, gởi sứ đoàn ra ngoài hay tiếp đón sứ đoàn các nước.  Tuy nhiên lá cờ nầy không được dân chúng Việt Nam chấp nhận, nên sau bị bãi bỏ.

Cờ long tinh: Những người lớn tuổi, khoảng từ 70 tuổi trở lên, cho biết lúc nhỏ, khi đi học, tại Trung Kỳ, vào những dịp có hoàng gia (vua, hoàng hậu, hay hoàng tử) đến dự lễ, thì có treo cờ long tinh.  Gọi là cờ long tinh vì hình thức lá cờ nầy giống như dây vải đeo long bội tinh là chiếc bội tinh cũng do vua Đồng Khánh lập ra năm 1886.  Chiều cao của lá cờ được chia đều thành 4 phần.  Hai phần hai bên màu vàng, ở giữa (2 phần) là màu đỏ.  Lá cờ nầy không được sử sách đề cập đến, nhưng có thật trong đời sống, và được ghi lại trong các hình ảnh của vua Khải Định (trị vì 1916-1925) và vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945).  Tuy nhiên các cụ lớn tuổi cho rằng đây là cờ hoàng gia chứ cũng không phải là quốc kỳ Việt Nam. 

3.-  CỜ QUẺ LY

Nguyên vào thế chiến thứ hai (1939-1945), tình hình chính trị Việt Nam xôn xao mạnh với sự xuất hiện của Nhật Bản.  Ngày 9-3-1945, bằng cuộc hành quân Meigo, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.  Nhật lên tiếng trao trả độc lập lại cho Việt Nam và yêu cầu Việt Nam gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật lãnh đạo. 

Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tuyên bố hủy bỏ hòa ước bảo hộ bất bình đẳng ký kết giữa Việt Nam và Pháp năm 1884 và đưa ra bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945.  Vua Bảo Đại giao cho ông Trần Trọng Kim (1882-1953) thành lập chính phủ.  Ngày 17-4-1945, ông Trần Trọng Kim lập chính phủ tân tiến đầu tiên gồm các bộ theo kiểu tây phương.  Do sự cưỡng ép của Nhật Bản, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ An ninh, hay bộ Quốc phòng, vì lúc đó Nhật muốn nắm toàn quyền quân sự tại Đông Dương.  Chính vì vậy mà Việt Minh mới dễ cướp được chính quyền năm 1945.

Ngày 2-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim chọn quốc kỳ nền vàng, trên có ba sọc đỏ theo hình quẻ ly.  Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch.  Quẻ ly gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang). 

Tác giả lá cờ, thủ tướng Trần Trọng Kim đã giải thích về hình thức lá cờ như sau:  “Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng "Đầu voi phất ngọn cờ vàng". Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.

Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, chương 4, Internet.)

3.-  CỜ ĐỎ SAO VÀNG

Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngày 9-8-1945, thì Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, chấm dứt thế chiến thứ hai tại Đông Á.

Tại Việt Nam, quân đội Nhật Bản hạ khí giới, ngưng chiến đấu, chờ đợi quân đội Đồng minh đến giải giới.  Chính phủ phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, nên không có quân đội trong tay để duy trì an ninh. 

Hồ Chí Minh (1890"-1969) và Mặt trận Việt Minh liền lợi dụng thời cơ, nhanh tay cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19-8.  Đại sứ Nhật tại Huế là Yokoyama vào yết kiến vua Bảo Đại, xin đem lực lượng Nhật tại Đông Dương (còn nguyên vẹn) dẹp tan cuộc đảo chánh của Việt Minh, nhưng vua Bảo Đại từ chối vì sợ cảnh nội chiến tương tàn trước sự lợi dụng của ngoại bang.  Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị ngày 25-8 và chính phủ Trần Trọng Kim giải tán.

Chính phủ Việt Minh do Hồ Chí Minh cầm đầu ra mắt tại Hà Nội ngày 2-9-1945, gồm đại đa số là đảng viên cộng sản, chọn lá cờ của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, tức Mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ. Đó là lá cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng, phỏng theo hồng kỳ của đảng Cộng Sản và nhà nước Liên Xô, cũng như đảng Cộng Sản Trung Hoa.  Tuy khác nhau về hình thức và cách sắp đặt các ngôi sao, cờ Liên Xô và Trung Cộng cũng nền đỏ với các ngôi sao vàng.  Lá cờ cộng sản Việt Nam mang ba ý nghĩa rõ rệt.

Thứ nhất, đây là lá cờ của Mặt trận Việt Minh.  Mặt trận Việt Minh do đảng Cộng Sản Đông Dương thành lập, gồm đa số là đảng viên cộng sản.  Lấy lá cờ của một tổ chức để làm lá cờ tổ quốc là một sự áp đặt thô bạo lên tinh thần và tâm tư tình cảm của dân tộc. 

Thứ hai, hình thức lá cờ nầy phỏng theo các hồng kỳ các đảng cộng sản nước Liên Xô và Trung Hoa.  Việc du nhập hình thức lá cờ cộng sản ngoại lai phản ảnh đúng chủ trương của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản là du nhập chủ thuyết Mác xít - Lê nin nít và lý thuyết Mao Trạch Đông, thay thế nền tảng văn hóa dân tộc cổ truyền, làm đảo lộn các giá trị nhân bản Việt Nam.

Thứ ba, vì xuất phát từ phong trào cộng sản quốc tế ngoại nhập, du nhập cả lý thuyết đến tổ chức, nhận viện trợ và chịu sự chỉ huy của khối cộng sản quốc tế, cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho một chế độ tay sai của ngoại bang, thi hành chỉ thị của ngoại bang. 

4.-  CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Năm 1945, khi chiếm được chính quyền, đảng CSVN chủ trương giết tiềm lực, tức là giết tất cả những cá nhân, đoàn thể, đảng phái có khả năng tiềm ẩn, nhưng không theo hay chống lại cộng sản để trừ hậu hoạn cho cộng sản.  Việt Minh đã giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ và hàng trăm ngàn người nữa trên toàn cõi Việt Nam.
Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn bản thân, những người theo khuynh hướng chính trị dân chủ, độc lập, không cộng sản chẳng đặng đừng phải tạm thời liên kết với Pháp chống lại Việt Minh cộng sản.  Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng.  Nguyễn Văn Xuân từng là quốc vụ khanh trong chính phủ ngày 2-9-1945 của Hồ Chí Minh.

Khi đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị.  Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.

Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ.  Ba sọc nầy tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước trên nền vàng tượng trưng căn bản của quốc gia.  Nếu lá cờ năm 1945 của ông Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh của hoàng gia, thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, chẳng những về hình thức, màu sắc, mà cả về lý tưởng chính trị, đó là lý tưởng quốc gia., và đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh. 

Ý nghĩa thứ nhất của lá cờ nầy là tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.  Lúc đó, người Pháp muốn Nam Kỳ tự trị, tách ra khỏi Việt Nam, nhưng toàn dân Việt Nam chống đối điều đó, và riêng tự thân các chính trị gia cũng như dân chúng miền Nam cũng quyết liệt chống đối điều đó, và muốn cùng đứng chung trong cộng đồng dân tộc.  Ba sọc đỏ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng căn bản của quốc gia. 

Thứ hai, lá cờ nầy báo hiệu sự xuất hiện của một khuynh hướng chính trị mới ở khắp Bắc, Trung và Nam phần Việt Nam lúc đó, là khuynh hướng chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp để chống Việt Minh cộng sản độc tài đang được Liên Xô và Trung Cộng hỗ trợ. 

Khuynh hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam sau khi ký hiệp ước Élysée ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol.  Hiệp định Élysée chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam.  Cựu hoàng Bảo Đại tiếp tục chọn lá cờ nầy làm quốc kỳ.

Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chế độ mà lá cờ tượng trưng.  Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ.  Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẫu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý dân như cờ cộng sản.

Sau khi ký hiệp ước Élysée tại điện Élysée (Paris), ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, tiếp tục chọn lá cờ nầy làm quốc kỳ.

Khi ông Ngô Đình Diệm (1901-1963) về nước chấp chánh, nước Việt Nam bị chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống.  Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ.  Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị.  Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát  nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.   Lá cờ nầy được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. 

Trước năm 1975, do sự tuyên truyền của CSVN, có một số người chưa hiểu và chưa biết bản chất của chế độ cộng sản.  Sau biến cố 30-4-1975, dân chúng miền Nam Việt Nam mới thấy rõ bản chất độc tài toàn trị của cộng sản, và đã ào ạt bỏ nước ra đi.  Từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, theo thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người Việt bỏ nước ra đi và đến được các nước tạm cư là 989,100, kể cả đường biển lẫn đường bộ.  Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được.  Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại của dân chúng chống lại chế độ cộng sản Việt Nam bằng chính mạng sống của mình.  Cuộc vượt biên ào ạt bất chấp mạng sống của người Việt đã làm rúng động lương tâm nhân loại.  Nhiều nước trên thế giới đã mở rộng cánh cửa bao dung, đón nhận thuyền nhân Việt Nam.  Tổng số người Việt ở hải ngoại hiện lên trên 2,000,000 người, và hàng năm gởi về Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân trong nước.

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho tổ quốc thiêng liêng, đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.  Lá cờ nầy hiện nay trở thành BIỂU TƯỢNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI khắp nơi trên thế giới. 

Trên đây là xuất xứ và hình thức các lá cờ Việt Nam, dựa trên những tài liệu cụ thể.  Lá cờ chỉ là biểu tượng của các chế độ chính trị.  Giá trị của lá cờ không phải ở màu sắc, hình thức và tuổi tác của lá cờ.  Giá trị của lá cờ tùy thuộc vào giá trị của chế độ mà lá cờ tượng trưng.  Cho đến nay, tại Việt Nam, giữa chế độ VIỆT NAM CỘNG HÒA (TỰ DO DÂN CHỦ) và chế độ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ), chế độ nào tốt, chế độ nào xấu, thì chẳng những người Việt Nam đã biết, mà cả nhân dân thế giới cũng đều biết.  Trong lần viếng thăm Việt Nam năm 2000, thượng nghị sĩ tiểu bang Arizona, ông John Mc Cain đã nói một câu để đời: “Trong cuộc chiến vừa qua, bên xấu đã chiến thắng.”  Tuy nhiên, cần phải thêm hai chữ nữa mới đầy đủ ý nghĩa hơn: “Trong cuộc chiến vừa qua, bên xấu đã tạm thời chiến thắng.”  Cộng sản chỉ tạm thời chiến thắng, vì theo lẽ tự nhiên của Trời đất, những điều xấu chỉ có tính cách tạm bợ và sẽ bị đào thải, chỉ có những điều tốt mới vĩnh hằng với thời gian. 

Và như thế có nghĩa là một ngày nào đó, Lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho TỰ DO DÂN CHỦ, sẽ tung bay trở lại trên bầu trời quê hưong yêu dấu của chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG 

(21-6-2008) 

(Nếu quý vị nào muốn đăng báo bài nầy, xin vui lòng đừng thêm vào hình Cờ đỏ sao vàng của CSVN.  Xin cảm ơn. Người viết.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.