Hôm nay,  

Hiệp Chủng Quốc Tịch

24/07/201000:00:00(Xem: 13244)

Hiệp Chủng Quốc Tịch
Nguyễn Xuân Nghĩa

Bá láp và Bá đạo nhân Đạo luật Di trú Arizona...
Ngày 23 Tháng Tư, bà Thống đốc Jan Brewer của Tiểu bang Arizona ban hành Đạo luật Di trú tên là "Yểm trợ việc Thi hành Luật pháp và An ninh Khu phố" ("Support Our Law Enforcement and Safe Neighborhood Act"). Đạo luật Arizona Senate Bill 1070 này sẽ chính thức áp dụng từ ngày 29 Tháng Bảy nhưng mấy tháng qua đã gây tranh luận trong chính trường Mỹ.
Được sự ủng hộ rất lớn của dân Arizona (64%) và toàn quốc (trên 60%), đạo luật khiến nhiều tiểu bang khác suy nghĩ và dự tính soạn thảo để áp dụng cho địa phương mình. Nhưng nó lại gặp sự chống đối của Chính quyền Obama cùng nhiều đảng viên Dân Chủ. Bộ Tư pháp còn kiện đạo luật và 70 thành phố kể cả Los Angeles, thì đòi tẩy chay Arizona.
Đó là chuyện chính trị trong một năm tranh cử. Ra khỏi chính trường, thì dù chưa đọc văn kiện, nhiều người cũng nhảy vào cuộc kết án đạo luật là kỳ thị di dân. Dân thiểu số tất nhiên cũng có thể nghĩ vậy, mà không biết là đang bị các chính khách lừa mị.
Thực tế thì Arizona tăng cường việc thực thi luật pháp liên bang - đã có sẵn mà không chấp hành - để đối phó với nạn di dân nhập lậu gia tăng sau khi San Diego dựng lên bức tường ngăn di dân bất hợp pháp tràn vào từ biên giới miền Nam tiếp giáp với xứ Mễ Tây Cơ. Trong mùa tranh cử, giới chính trị bên đảng Dân Chủ thổi bùng vụ này, tấn công Arizona để lấy lòng cử tri gốc Latino và các thành phần thiểu số. Ai khờ thì ráng chịu....
Bài này không nói về chuyện đó mà đi sâu hơn vào nước Mỹ.
***
QUỐC GIA CỦA DI DÂN
Như rất nhiều xứ khác, Hoa Kỳ là quốc gia của di dân. Chuyện ấy đã tưởng thành nhàm.
Thật ra, dân Mỹ nguyên thủy, thổ dân "da đỏ" chỉ là di dân đến từ Á Châu mấy chục thế kỷ trước Các đợt kế tiếp là di dân đến từ Âu Châu, Á Châu rồi Nam Mỹ Châu... Suy như vậy thì hầu hết các quốc gia đều thành hình từ nhiều đợt di dân đã sống chung rồi cùng chia sẻ một số giá trị tinh thần hay nguyện ước để dần dần lập nên một quốc gia. Việt Nam cũng không khác mà nhiều khi mình lỡ quên.
Trong lịch sử từ thời lập quốc - thật ra rất mỏng, từ năm 1776 - Hoa Kỳ thành hình chủ yếu với dân Anh, tập trung tại ven biển miền Đông. Nhu cầu an ninh trước mối đe dọa của Đế quốc Anh khiến dân Mỹ (gốc Anh Cát Lợi) thời lập quốc phải Tây tiến. Họ mở cửa nhận thêm di dân, chủ yếu thuộc sắc tộc Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan (Scots-Irish, xin tạm gọi là Tô-Ái)). Với dân Mỹ gốc Anh, đa số là nông gia đã lập nghiệp lâu đời ở miền Đông thì lớp dân Tô-Ái này là kẻ tứ chiếng, vừa nghèo vừa thất học. Trong các năm 1820 trở về sau, mâu thuẫn có xảy ra vì dị biệt trong cách sống.
Nhưng, đám tứ chiếng đầy tinh thần phiêu lưu - và tự tin - chính là lớp người tiên phong đã xây dựng hậu cứ bền vững cho nước Mỹ khi vượt qua rặng Alleghenies đi về hướng Tây, lập ra trang trại và các thị trấn đầu tiên. Từ thế hệ quốc phụ nhuốm mùi tuý tộc như Washington và Jefferson, tầng lớp lãnh đạo mới đã có những người như Jackson hay Lincoln, xuất thân bần hàn hơn nhưng cũng làm cho nước Mỹ trở nên hùng cường.
Sau trận Nội chiến, tiến trình kỹ nghệ hoá khởi đầu và nước Mỹ đón nhận thêm di dân, từ Đông Âu và Nam Âu, rồi nhu cầu lao động rẻ cũng mở cửa cho người Hoa bước vào vùng Viễn Tây. Sau mỗi đợi di dân như vậy thì mâu thuẫn, hiềm khích và thậm chí xung đột có xảy ra. Người tới trước nhìn đám người tới sau với nhiều nghi ngại vì dân đến sau thường nghèo hơn, có lối sống khác biệt, có khi làm loãng đi cái "quốc tính" truyền thống của nước Mỹ - dưới con mắt của lớp người đi trước. ("Người Nam việt đâu có kỳ như vậy.... Đúng là Bắc kỳ!", sau 1954, câu đồng dao nghịch ngợm ở trong Nam có phần nào phản ảnh tinh thần ấy. Dễ hiểu thôi! Hãy hỏi dân Bắc kỳ 54 ngày nay nghĩ gì về Bắc kỳ 75 thì rõ...)
Nhìn lại Hoa Kỳ thì trung bình cứ nửa thế kỷ lại có một lần đấu tranh, xét lại, và xoay chuyển để dung hòa. Cuối cùng thì vẫn là "hội nhập". Hay nói theo sinh học, là "biến dưỡng", "metabolizing", một quá trình biến đổi để tồn tại. Hay sự đồng hóa của các tế bào... Hoa Kỳ là nơi mà các tế bào ta gọi là chủng tộc hay văn hóa đã được ghép liên tục để tổng hợp những ưu điểm nguyên thủy của các "tế bào gốc". Nhưng ưu điểm về tinh thần hơn là nhiễm sắc tố hay chủng tử DNA.
Quả thật như vậy. Là một quốc gia của di dân, nước Mỹ đón nhận và tạo cơ hội cho các di dân phát huy tài năng của họ và làm cho Hoa Kỳ thêm giàu mạnh. Hoa Kỳ cũng là quốc gia mà các công dân không gọi nhau là "đồng bào"! Họ gọi nhau là "công dân Mỹ", Americans chứ không phải là United Statians từ tên nước là United States. "America" không là một khái niệm chủng tộc mà chì là địa dư.
Yếu tố "biến dưỡng" tại Hoa Kỳ chính là ý chí thực dụng của những người yêu chuộng tự do và sùng đạo. Họ hy sinh một phần tự do cá nhân cho một quyền lực tập thể cao hơn - do họ lập ra ra và kiểm soát - để đem lại sự giàu mạnh chung, dưới sự phù hộ hay nhờ ân sủng của một đấng Tối cao nào đó mà mỗi nhóm người lại có quyền chọn lấy. Nếu đọc lại lịch sử Đàng Trong, trong giai đoạn Nam tiến của chín đời Chúa Nguyễn, đôi khi ta mường tượng ra chuyện xung đột rồi hội nhập hay đồng hóa như vậy. Về sau, cái chất đa nguyên phóng túng và quốc tế đặc biệt của miền Nam lại được các Hoàng đế thời Nguyễn Sơ đưa vào "chính quy nền nếp" theo kiểu tự Hán hóa. Và lụn bại dần cho tới thời Tây qua. Nhưng đấy là chuyện khác!
Nhìn lại như vậy thì trong hơn 200 năm lập quốc, vấn đề hội nhập và đồng hóa lớp người đi sau là hiện tượng bình thường của Hoa Kỳ, đã từng xảy ra bốn lần. Bài viết này đã quá dài nên không thể kể hết từng đợt như vậy.
Vì cần chú ý đến lần thứ năm là ngày nay, với dân gốc Latino.
TRẺ TRUNG HÙNG MẠNH NHỜ DI DÂN
Trong các nước hậu công nghiệp (tạm gọi tắt về Âu-Mỹ-Nhật), Hoa Kỳ là nơi mà dân số vẫn tăng đều và không bị lão hóa.
Thành phần trẻ vẫn chiếm đa số. Tuổi "trung vị" median - phân nửa già hơn và phân nửa trẻ hơn - chỉ là 36,7. Đây là một sức mạnh kinh tế của Hoa Kỳ. Nguyên nhân chính là vì Mỹ vẫn có chánh sách đón nhận di dân cởi mở hơn các quốc gia "thuần chủng" kia. Và thành phần di dân có sinh suất - tỷ lệ sinh đẻ - cao hơn vì đến từ các xã hội nghèo hơn và bất trắc hơn nếu so với người Mỹ bản địa mà đa số tới 75 là da trắng. Chánh sách di dân cởi mở của Mỹ xuất phát từ cả nhu cầu kinh tế - nhân công - lẫn tâm lý hay tâm linh của dân Mỹ: là đất tự do cho thập phương nhập làm một.
Nhìn về dài thì với lãnh thổ quá rộng, Hoa Kỳ có mật độ dân số thuộc loại thấp nhất trong các nước hậu công nghiệp. Nếu không kể tiểu bang Alaska, vùng đất không người gần Bắc cực, mật độ dân số tại Mỹ chỉ có 34 người một cây số vuông, so với mật độ gấp 10 là 340 người tại Nhật, hay 230 người tại Đức hay gần 250 người tại Anh. Nếu chịu sống chật chội như người Anh, thay vì 310 triệu như hiện nay nước Mỹ có thể chứa được hai tỷ người. Trung Quốc mà nhằm nhò gì với diện tích canh tác tính theo đầu người chỉ bằng 1/3 trung bình của thế giới!


Cho nên Hoa Kỳ không sợ hiện tượng "bồng bế nhau lên chúng ở non" và còn có thể đón nhận di dân nữa. Cũng vì vậy mà trong bốn chục năm qua, Hoa Kỳ đã tiếp nhận rất nhiều di dân, lần này là gốc Á. Vấn đề ngày nay là di dân nhập lậu. Mà vì là lậu, không biết là hiện lên tới bao nhiêu - từ 12 đến 20 triệu người, đa số tới hơn 80% là đến từ Mễ Tây Cơ và các nước Nam Mỹ (di dân bất hợp pháp từ Á châu chỉ có khoảng 9%!)
Nhưng, cơ thể gốc cần thời gian biến dưỡng - đồng hóa - các tế bào mới, theo nhịp độ tiệm tiến. Làn sóng di dân lậu là vấn đề vì lý do ấy, chưa nói đến sự bất công cho những người muốn chấp hành thủ tục di trú một cách hợp pháp.
Mà không chỉ có vấn đề hội nhập, biến dưỡng, hoặc Mỹ hóa lớp di dân mới.
CÔNG DÂN MỄ QUỐC TỊCH MỸ
Vấn đề là trong lớp di dân mới, nhiều người không muốn hội nhập - hay bị đồng hóa, bị Mỹ hóa. Họ coi Hoa Kỳ là nơi kiếm ăn, kiếm sống, không hơn không kém và giữ niềm thủy chung với quê hương hay tổ quốc nguyên thủy. Trong các cuộc khảo sát về dân số, nhiều người thuộc thành phần ta gọi là "da trắng" vẫn khẳng định họ là Hispanic-Latino.
Các lớp di dân gốc Anh, Tô-Ái, Đức, Ý, Pháp, Nga, Ấn, Hoa và Việt, v.v... đều chọn nơi này là quê hương dù có thể còn tình cảm luyến nhớ cố hương. Nhưng cố hương đã ở quá xa - cách một đại dương. Họ lần lượt trở thành công dân Mỹ và dù có còn quan hệ thân tộc với người ở nhà - ngày một ít hơn - con cháu họ đều sống, suy nghĩ và chấp nhận một quy luật chung là gắn bó với Hoa Kỳ, với những giá trị tinh thần của nước Mỹ. Khi gia nhập quốc tịch, họ làm lễ tuyên thệ hẳn hoi là từ bỏ mọi sự thần phục hay chung thủy với quốc gia cũ đẻ trung thành với nước Mỹ! Và kết thúc bằng câu "so help me God!...
Nhiều thành phần gốc Mễ lại không như vậy.
Quê hương của họ ở ngay Nam vĩ tuyến, gia đình thì họ gặp lại dễ dàng và tháng tháng vẫn gửi tiền chu cấp, một năm khoảng 25 tỷ đô la, tính theo dân số thì nhiều nhất. Do vị trí địa dư đó, họ không có ý chí hay nhu cầu hội nhập như các thành phần di dân khác. Cái "Mễ tính" vẫn nặng hơn "Mỹ tính". Đấy là một vấn đề.
Năm 2007, khi biểu tình chống lại việc cải tổ chế độ di trú, họ đã giương cờ Mễ, cho tới khi thấy hố thì mới đem cờ Mỹ ra phất. Yêu cầu tối thiểu của hội nhập là Anh ngữ mà họ còn coi thường và đòi chính quyền phải dạy con em tiếng Tây Ban Nha. Đây là một nhu cầu chính đáng, nhưng phải do cộng đồng tự túc tiến hành chứ không thể do nhà nước lo toan được.
SỐNG TẬP TRUNG MÀ HỘI NHẬP RIÊNG
Vấn đề thứ hai, khác hẳn các thành phần di dân kia được phân tán khắp nơi, dân Mễ lại sống tập trung tại các tiểu bang ở miền Tây-Nam Hoa Kỳ. Nhiều nhất tại Texas, New Mexico, Arizona và California. Trong khu vực ấy, nhiều người Mỹ gốc Mễ đã lên tới vị trí quan trọng của quyền lực chính trị địa phương: họ không hề bị kỳ thị nên mới lên tới vị trí có ảnh hưởng như vậy. Nhưng lên tới nơi, họ trở thành sức mạnh cho cộng đồng Mễ. Và thực tế tranh thủ quyền lợi cho "thiểu số Latino" hay người Mỹ gốc Mễ, nay đã chiếm đa số ở nhiều nơi. Nhiều khi các nhóm thiểu số khác thì chỉ có tiếng mà không có miếng. Cái "miếng" đó nó không đến phần mình.
Mật độ tập trung như vậy là một bài toán về bản sắc của một phần lãnh thổ, có khi trầm trọng hơn bốn đợt di dân trước đây.
Chỉ vì tới giữa thế kỷ 19, khu vực này là lãnh thổ Mễ Tây Cơ.
ĐẤT HỨA LÀ ĐẤT CŨ
Chuyện dời đổi là qua ba đợt biến cố. Lần thứ nhất là năm 1845, sau "Cách mạng Độc lập" của Texas thời 1835-1836, khi dân Texas đòi ly khai khỏi xứ Mễ để lập ra một nước riêng rồi sát nhập vào Hiệp chủng quốc. Lần thứ hai là năm 1848, sau Chiến tranh Mỹ-Mễ 1846-1848, khi Mễ Tây Cơ phải nhượng đất cho Hoa Kỳ lập ra sáu tiểu bang sau này, trong đó có California, Nevada và Arizona... Lần thứ ba là vụ mua đất năm 1853, khi Mỹ mua lại của Mễ gần 77 ngàn cây số vuông, nay là miền Nam của Arizona và  New Mexico (Gadsden Purchase).
Nếu nhớ lại thì với nhiều người Mễ, rõ ràng là quốc gia Mễ Tây Cơ bị xử ép, bị Mỹ tước đoạt hay mua rẻ mất một phần lãnh thổ phì nhiêu trải rộng từ Texas qua Cali lên tới sát Oregon. Họ nghĩ không sai, thế mới chết!
Khi ta có một cộng đồng sắc tộc sống tập trung ngay vùng biên vực và có sự chung thủy hai hàng như vậy, vấn đề về dài sẽ là nhu cầu kẻ vạch lại biên cương.
***
Vì vậy, chuyện chính không chỉ có nạn di dân nhập lậu hoặc kỳ thị người Mễ.
Cũng chẳng là phản ứng gay gắt của tiểu bang Arizona. Cũng không là sự ruỗng nát của chính quyền Liên bang Mễ Tây Cơ (Estados Unidos Mexicanos) trước sự hoành hành của các tổ chức tội ác có võ trang, hàng năm cung cấp khoảng 90% lượng ma túy cho thị trường Hoa Kỳ và ra vào lãnh thổ Mỹ như đi chợ. Mà cũng chẳng là tinh thần mị dân dại dột của đảng Dân Chủ nhằm hốt phiếu dân thiểu số và đả kích người khác là kỳ thị di dân.
Vấn đề chính là tương lai lâu dài của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Là tinh thần công dân mờ nhạt của nhiều người đã có quốc tịch Mỹ. Với các chính khách Hoa Kỳ, chuyện tương lai lâu dài như vậy là rừng thỏ lông rùa, hoang đường không đáng kể. Với họ tấm lịch tranh cử mới là chính.
Vì vậy, không ai dám nêu ra vài câu hỏi then chốt là 1) Di dân từ các khu vực khác của Hoa Kỳ: có nên tạo ra thế cân bằng về địa dư và màu da cho cái quốc gia "hiệp chủng" này không" 2) Di dân từ Mễ Tây Cơ: làm sao tạo điều kiện cho họ hội nhập nhưng phân tán vào các địa phương khác" 3) Di dân từ Mễ Tây Cơ đang tập trung tại khu biên vực Mỹ-Mễ: họ muốn là người Mỹ hay người Mễ" 4) Và có ngày nào con cháu họ đòi vạch lại biên cương cho "công bằng" không"
Nhưng câu hỏi ấy có thể là quá xa vời. Nó cũng xa vời như khi Mễ Tây Cơ là cường quốc và nước Mỹ còn là đất hoang vu vắng người. Sau đó, Hoa Kỳ mới thành cường quốc và biến vùng đất khô cằn ngày xưa của Mễ thành nơi tiền rừng bạc biển của Mỹ. Chuyện thịnh suy dâu biển như vậy thường chẳng xảy ra một lần trong lịch sử nhân loại. Cả Âu Châu đều có gặp, và đang gặp sau khi Liên Xô tan rã và nhiều sắc dân đòi nhổ cọc biên giới để phản ảnh thực tế dân số. Gần nhất là việc Kosovo được độc lập, như Toà án Quốc tế của Liên hiệp quốc vừa biểu quyết hôm 22 vừa qua.
Nói cho rõ hơn, nếu các sắc dân sơn cước hay người Việt gốc Hoa ở biên giới Việt-Hoa lại muốn thành công dân Trung Quốc và sau này đòi bỏ phiếu nhổ cọc biên giới, với lá phiếu ủng hộ của Trung Quốc thì ta tính sao" Với nhiều người, chuyện ấy quá xa xôi, dù có thể đã có trong đầu lãnh đạo Bắc Kinh.
Nói cho gần hơn nữa về không gian lẫn thời gian, trong các năm 1992 và 1995, người Việt tại Québec của Canada lo sốt vó và gọi nhau đi bầu đông đảo để chống lại việc chính quyền thuộc cánh hữu của Quebec đòi trưng cầu dân ý để ly khai. Thành một quốc gia riêng! Trong quốc gia nhỏ bé ấy, người Việt sẽ sinh sống ra sao, vì thế mà bà con ta bên Gia Nã Đại ráo riết đi bỏ phiếu chống. May mà cuộc "cách mạng độc lập" của Québec không thành!
Hãy nghĩ đến chuyện ấy đi, trước khi đả kích Arizona!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.