Hôm nay,  

Tiếng Hát Cho Tự Do

09/10/200800:00:00(Xem: 9944)

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> 

 Đôi uyên ương PVH và Nam Dao của thập niên 70 tại Paris. Và Phan Văn Hưng với ca khúc về dân tộc.

 

Việt Hải

 

"Việt Nam bao năm chìm trong bóng đêm dầy

 

Vẫn kiên cường nuôi chí phục hưng

 

Việt Nam vươn lên từ những tấm thân gầy

 

Nguyện xây đắp thương yêu tràn đầy

 

Người hỡi đứng lên giành quyền sống làm người

 

Dù máu xương đọa đầy vẫn tiền tới

 

Ngày đã đến cho trang sử mới ra đời

 

Tiếng non sông giục mời..."

 

(Bài Việt Nam Vinh Quang, thơ Nam Dao, nhạc Phan Văn Hưng)

 

Phan Văn Hưng ca cho cả một dân tộc Việt Nam trong khát vọng tự do, người dân hiền hòa bị chế độ Cộng Sản thống trị miền Bắc từ năm 1954 và toàn lãnh thổ vào năm định mệnh 1975. Lời thơ bài hùng ca này do hiền thê của anh viết. Nhà văn Nam Dao đã viết lên hàng trăm bài văn biên khảo chính trị, những bài tham luận về những cái xấu xa của chính sách độc đoán của nhà cầm quyền Cộng Sản. Một đất nước Việt Nam vinh quang về nguồn gốc lịch sử tạo nước và giữ nước của tiền nhân. Thế mà ngày hôm nay đất đai, lãnh hải bị nhà cầm quyền đem dâng nộp cho ngoại bang để được yên thân hiếp đáp và cai trị tiếp nhân dân trong hà khắc, bốc lột, từ bốc lột sức lao động của người dân đền bốc lột đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, những nguyên nhân gây ra nạn dân oan khiếu kiện.

 

Phan Văn Hưng sáng tác từ nguồn thơ của người bạn đời đồng chia sẻ những lý tưởng sống trong đời với anh, những tiếng lòng nhân bản nhưng bất khuất:

 

"Việt Nam oai linh nghìn thu sáng danh ngời

 

Đất Tiên Rồng nuôi chí hùng anh

 

Việt Nam dang tay thành tâm khắp nhân loại

 

Cùng thế giới đi xây tình dài

 

Việt Nam thắp cao ngọn đuốc ấm cho đời

 

Bằng trái tim vun trồng thời đại mới

 

Hồn sông núi vang trong mạch sống giống nòi

 

Bước đi trong miệt mài...."

 

Tôi nghe link nhạc “Việt Nam Vinh Quang”:

 

http://www.youtube.com/watch"v=cQcYbRaCGYw

 

Đây chính là bài hát làm kiêu hãnh Viêt Nam trong tôi, tiếng gọi tình thương quê hương và tình yêu đất nước dâng cao dạt dào. Tôi yêu lời ca của bài quốc ca Việt Nam Tự Do của chúng ta và bài hùng ca "Việt Nam, Việt Nam", nhưng rồi khi nghĩ đến những tác giả của nó tâm tư dâng lên nỗi cay đắng, muộn phiền.

 

Nhạc Phan Văn Hưng được xem như loại nhạc hưng ca, hay loại nhạc du ca, phần nhiều những tác phẩm anh sáng tác nói lên nỗi ngậm ngùi cơ cực của quê hương, anh đem những chuyện thực trong đời sống viết thành ca khúc, những chuyện vô lý của xã hội Cộng Sản vào lời ca tiếng hát như loài chim quốc sống xa quê hương, quốc nhớ nhà dâng lên tiếng hót cô liêu trong sầu bi, mang những lời ca như tiếng khóc thổn thức, những tình tự đầy trắc trở trên quê hương thống khổ.

 

Đôi nét về tiểu sử Phan Văn Hưng, anh sinh năm 1950 tại Hà Nội. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam. Sau khi đậu tú tài II anh được học bổng sang Pháp du học năm 1969 và tốt nghiệp về Kỹ Sư Cơ Khí và Hầm Mỏ. Bảy năm sau khi mất miền Nam, gia đình anh quyết định rời Pháp để sang định cư tại Úc, Phan Văn Hưng đã sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris với Trần Văn Bá. Trong suốt 10 năm sinh sống ở Pháp, ngoài những sáng tác và trình diễn âm nhạc, anh còn là sáng lập viên của tổ chức văn học "Văn Đoàn Lam Sơn" và của tờ báo "Nhân Bản", một tờ báo Việt ngữ mang lập trường quốc gia dân tộc nhân bản tại Âu Châu.

 

Như Phan Văn Hưng tâm sự anh chịu ảnh hưởng nhiều nhạc sĩ ngoại quốc khi học nhạc và guitar, tôi nghe bài hát "Sinh Ra Làm Người Việt Nam" mang âm hưởng nhạc của Cat Stevens. Tôi gần gủi với tiếng hát ngân dài của anh quyện vào âm vang tiếng nhạc pop rock ngày xưa. Nhưng tiếng ngân dài trong bài ca này nói lên nỗi xót xa của tuổi trẻ Việt Nam quê tôi sao quá gian truân. Không gian ngõ tối không nước không đèn. Vòng tay âu yếm của mẹ hiền Việt Nam trong sầu thương, với đôi tay khẳng khiu, đôi tay thật buồn. Mẹ ơi, vòng tay âu yếm  đôi tay thật buồn... Em sinh ra em làm người Việt Nam, và sinh trong cuộc lầm than. Sinh ra trong đời bấp bênh gian truân vô vọng mmm mmm... Tiếng hát của Phan Văn Hưng cất lên như tiếng khóc cho một dân tộc trong lầm than, anh khóc thay cho Mẹ Việt Nam, anh hát cho hàng trăm ngàn em bé thơ ngây hay tuổi trẻ Việt Nam bị mua bán thân xác hay sức lao động của các em từ Cam Bốt, Trung Quốc, Đài Loan đến Hàn Quốc.

 

Nhạc Phan Văn Hưng là tiếng lòng chia sẻ kiếp sống thống khổ của người dân tôi. Hình như bờ mi các em đang khóc từ nơi chân trời xa xăm, tiếng ngân dài của Phan Văn Hưng nơi cuối bài cho một cảm nhận bi thương để tim tôi ray rứt, lạc loài, và để mắt tôi bỗng cay nhạt nhòa...

 

 "Em sinh ra em làm người Việt Nam

 

Trong gian ngõ tối không nước không đèn

 

Vòng tay âu yếm của mẹ sầu thương

 

Đôi tay khẳng khiu, đôi tay thật buồn

 

Vòng tay âu yếm (mẹ ơi) đôi tay thật buồn

 

Em sinh ra em ở chợ Nghệ An

 

Em buông thuốc trắng ai hay bên đường

 

Đời trong xó rãnh đã quên tình thương

 

Đôi mắt già nua, đôi mắt lạnh lùng

 

Cặp mắt thờ ơ, (người ơi) đâm nhói vào hồn

 

Đ.K.

 

Em sinh ra em làm người Việt Nam

 

Và sinh trong cuộc lầm than

 

Sinh ra trong đời bấp bênh gian truân vô vọng

 

mmm mmm ...

 

Em sinh ra em học tập siêng năng

 

Nhưng hai tay trắng buông xuôi phận hèn

 

Làm sao em biết tương lai nào hơn

 

Đôi tay thừa dư, đôi tay bần cùng

 

Làm sao em biết (người ơi) đôi tay tuổi hờn.

 

Em sinh ra em nhập cuộc vui chơi

 

Mong quên đi nỗi trái ngang trong đời

 

Cuồng quay trong giấc vui say tàn hơi

 

Con tim thờ ơ, con tim hững hờ

 

Cuồng quay trong giấc (người ơi) con tim lạc loài

 

Em sinh ra em là một bông hoa

 

Đôi môi tươi thắm cho ai dày vò

 

Mình thân em đứng giữa chợ đường xa

 

Đôi môi hằn khô, đôi môi vật vờ

 

Chiều lộng trong gió (người ơi) đôi môi bụi mờ

 

Em sinh ra nơi cửa khẩu Lạng Sơn

 

Hai vai lam lũ vác muôn dặm trường

 

Màn đêm muỗi vắt trên ngọn mù sương

 

Đôi vai lạnh căm, đôi vai nhục nhằn

 

Màn đêm muỗi vắt (người ơi) đôi vai nhục nhằn... "

 

 (Sinh Ra làm người Việt Nam):

 

http://vietnamlibrary.informe.com/sinh-ra-lnom-ng-i-vi-t-nam-phan-v-an-h-ng-dt215.html

 

Tôi nghe Phan Văn Hưng nói về anh hùng Trần Văn Bá như sau: "Anh Trần Văn Bá là một người lãnh đạo không giống như ý nghĩa thông thường. Khi nói đến lãnh đạo, người ta hay nghĩ đến một người hùng biện, phất cờ xông pha, chỉ tay, vạch đường lối. Anh Bá không như thế. Sự kiên quyết thì anh có thừa, nhưng luôn luôn được bộc lộ ra ngoài bằng những lời lẽ ôn tồn, thân thiện. Lòng can đảm anh cũng chẳng thiếu, nhưng không bao giờ thấy anh hô hào kêu gọi bất cứ ai đi theo anh. Anh có một viễn kiến chính trị rất sâu sắc, nhưng hiếm khi nào thấy anh tranh luận. Ảnh hưởng của anh trong đám sinh viên tụi tôi nhẹ nhàng nhưng rất sâu. Ngay cả thời tôi làm báo cho anh, anh cũng chỉ đôi ba lần gợi ý về những điều cần nói, còn tất cả để mặc cho tôi lo liệu. Chỉ đến khi anh ra đi thì anh em sinh viên tụi tôi mới thấy thiếu anh...

 

Tôi không biết có phải là sự ngẫu nhiên hay không, nhưng tôi cũng muốn nhạc của mình như thế. Tôi không muốn dùng nhạc để hô hào, mà chỉ muốn lay chuyển nội tâm của người nghe. Lòng kiên quyết có khi cần nằm ẩn đằng sau những nốt nhạc mềm mại. Chuyện hô hào, thúc giục thì có lẽ nên để cho mỗi người tự làm lấy, vì một khi cái tâm phụng sự được nuôi lớn thì người đó sẽ tự mình tìm thấy cách thực hiện hay nhất trong hoàn cảnh riêng của mình."

 

Đến năm 1982, đôi bạn đời Phan Văn Hưng và Nam Dao sang định cư tại Úc châu và vẫn tiếp tục sáng tác, thực hiện những bài hát đạt được sự mến mộ nồng nhiệt từ quần chúng. Đan cử ví dụ như: "Việt Nam Vinh Quang", "Ai Về Xứ Việt", "Bài Ca Tuổi Trẻ", "Sinh Ra Là Người Việt Nam", "Đứa Bé Việt Nam và Viên Sỏi", "Bạn Bè Của Tôi", "Hai Mươi Năm", "Trái Tim Tôi Là Bến", "Nếu Em Nghe Bài Hát Này",  "Có Phải Em Là Em Bé", "Bài Ca Cho Em Bé Thảo", "Giọt Nước Mắt Của Mẹ", "Bài Ca Cho Bé Hải", "Thằng Bé Tát Dầu”,...

 

Tôi còn nhớ năm 1995, ký giả Kiều Mỹ Duyên giới thiệu tôi dĩa CD "Hai Mươi Năm" của anh Phan Văn Hưng, CD có bài hát "Thằng Bé Tát Dầu”, chị Duyên kể rằng lần đầu nghe bài hát chị xúc động đến rơi lệ. Câu chuyện nói lên nỗi oan khiên hai đứa bé ăn cắp dầu ở Xưởng tàu Ba Son.

 

Năm 1980 Phan Văn Hưng phổ thành bài hát "Thằng Bé Tát Dầu" từ thơ Nam Dao, ý nói lên hoàn cảnh cơ cực, bần cùng của người dân nghèo. Trong một ngục tù vĩ đại được Cộng Sản tạo ra, trẻ em phải đi ăn cắp dầu từ xưởng Ba Son mưu sinh cho gia đình, để rồi hai bé trai thơ ngây phải đền mạng do việc ăn cắp dầu. Đứa bé anh ở tuổi mười ba, đã bị gục ngã dưới làn đạn AK của Công Sản. Đứa bé em khóc ngất khi ôm xác anh mình đã chết:

 

"Tôi muốn hát cho thằng bé tát dầu

 

Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son

 

Tuổi mười ba da trần xạm nắng

 

Vớt cặn dầu về đổi lấy miếng cơm

 

Hai đứa bé bơi xuồng đến gầm cầu

 

Đứa quơ dầm miệng giục em ơi

 

Phải làm nhanh coi chừng họ thấy

 

Tát lẹ vào dầu đổ ướt chiếc khoang

 

Ôi quá nhiều dầu sao quá nhiều

 

Chắc phen này hẳn được cơm no!

 

Ngày chợ đến sẽ mua sữa một lần

 

Cho thằng Cu nếm thử nghe em

 

Mơ chưa dứt, trên cầu chúng thấy rồi

 

Mắt lạnh lùng nạp khẩu AK!...

 

Tràng đạn bắn chết em quá vội vàng

 

Buông dầm rơi ngỡ ngàng trên khoang...

 

Máu em trào nhuộm cả hai vai

 

Thằng nhỏ ôm anh mình bật khóc

 

Lớp cặn dầu này đổi lấy xác anh !

 

Bé tát dầu, thằng bé tát dầu!

 

Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son..."

 

Đứa Bé Vượt Biên

 

Hình như Phan Văn Hưng quan tâm đến tuổi thơ, trong số khá nhiều bài ca của anh đề cập về tuổi trẻ, hoặc tuổi thơ. Chẳng hạn như "Có Phải Em Là Em Bé", "Bài Ca Cho Em Bé Thảo", "Bài Ca Cho Bé Hải", và bài hát bi thương phổ thơ Trần Trung Đạo, "Đứa Bé Việt Nam và Viên Sỏi", em bé 5, 6 tuổi theo gia đình vượt biên, cả gia đình đều tử nạn trên biển, phép nhiệm màu cứu vớt em sống. Mỗi chiều trong trại tị nạn tạm cư Palawan, em thường ra biển nhặt những viên sỏi trong cô đơn.

 

“Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

 

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

 

- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

 

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

 

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

 

Viên kẹo lớn này để lại cho em

 

Còn viên kẹo thật to này ...là phần Bé đấy

 

Bên bờ biển Palawan

 

Có một em bé gái

 

Tuổi mới chừng lên sáu lên năm

 

Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ

 

Và nói chuyện môt. mình

 

Như nói với xa xăm …

 

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

 

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

 

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

 

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

 

Họ kể lại em từ đâu không biết

 

Cha mẹ em đã chết đói trên tàu

 

Chị của em hải tặc bắt đi đâu

 

Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

 

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi

 

Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em

 

Ôi những giọt máu Việt Nam

 

Linh diệu vô cùng

 

Nuôi sống em

 

Một người con gái Việt

 

Mai em lớn dù phương nào cách biệt

 

Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam

 

Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm

 

Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

 

- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

 

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

 

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

 

Viên kẹo lớn này để lại cho em

 

Còn viên kẹo thật to này ... là phần Bé đấy

 

…Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

 

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.”

 

(thơ Trần Trung Đạo, nhạc Phan Văn Hưng)

 

Một bài ca khác liên quan đến thời gian phong trào vượt biên lên cao. Bài hát "Trái Tim Tôi Là Bến", nhạc Phan Văn Hưng, phổ thơ Bắc Phong. Khi nghe Phan Văn Hưng hát tôi có cảm tưởng như anh cất lên lời nguyện cầu từ con tim, từ làn da thớ thịt, bằng máu xương cầu xin cho sự bình an, nhạc anh dìu những cánh buồm rách nát trong cơn giông bão tố đến bến bờ Tình Thương của con người.

 

"Buồm của anh rách nát

 

Bởi bao đợt sóng nhồi

 

Thì xin anh hãy vá

 

Bằng những miếng da tôi

 

Ngòi của anh đã gãy

 

Hãy mài trên xương tôi

 

Chấm máu tôi mà viết

 

Về lương tâm con người

 

Đ.K.:

 

Dù đêm trăng không lên

 

Nhưng mắt trẻ là sao

 

Trái tim tôi là bến

 

Xin anh cứ bơi vào

 

Đàn của anh đã vỡ

 

Hãy dạo trên thân tôi

 

Lấy tiếng tôi mà hát

 

Về đau thương con người"

 

Trái Tim Tôi Là Bến (Phan Văn Hưng - Bắc Phong) : http://www.nhaccuatui.com/nghe"M=-FTtM11i0U

 

Phan Văn Hưng tâm sự về nhạc anh thực hiện kết hợp cùng với người bạn đời Nam Dao. Anh chị không chú trọng vào lời cầu kỳ, hoa mỹ. Ngược lại, anh chị chỉ dùng lời nhạc bình dị, mộc mạc. Tôi nghĩ đó là điểm thành công của họ, vì nhạc như vậy sẽ dễ nhập tâm và đi vào lòng người.

 

Phan Văn Hưng và Nam Dao là những chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận văn hóa. Đôi uyên ương này dùng khả năng thiên khiếu của mình vào mục tiêu phụng sự cho quê hương và dân tộc.

 

“Tôi sẽ hát những bài hát đầu tay của Nam Dao và tôi, những bài hát mộc mạc không tham vọng, nhưng cũng là những bài hát đã đánh dấu cuộc đời chúng tôi cũng như của các bạn của tôi. Thời đó chúng tôi đã khóc cho quê hương, cho đồng bào mình, thì ngày hôm nay tiếng khóc đó vẫn chưa dứt. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn viết ca khúc, có thể kỹ thuật làm nhạc đã già dặn hơn, đề tài cũng có thể đã thay đổi theo những biến đổi của đất nước, nhưng trong tiếng uất nghẹn chưa nguôi đó, tôi vẫn cảm thấy lòng mình rực lửa vì con đường dân tộc mình đi nhất định sẽ có ngày rực sáng.” (Lời Phan văn Hưng)

 

"Bài Ca Tuổi Trẻ" là tác phẩm nối kết tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi hãy ý thức vai trò đấu tranh cho tự do cho quê hương lầm than, thiếu vắng tự do:

 

"Từ khắp những phương trời

 

Và muôn lối đi trong đời

 

Gặp nhau trong tâm hồn Việt Nam sáng ngời

 

Mồ hôi trên cánh đồng

 

Mẹ ru trên núi sông

 

Tình quê hương ta ôm ấm trong lòng

 

Chúng ta là bước người xông pha,

 

Chúng ta là những lớp phù sa

 

Chúng ta là ngọn đuốc bừng to

 

Chúng ta là TỰ DO !!!

 

Bạn hỡi ... ơ....ơi !

 

Hành trang ta đem trong ta,

 

Một khối óc, một tấm lòng, một giấc mơ"

 

Bài Ca Tuổi Trẻ:

 

http://www.nhaccuatui.com/nghe"M=he9THiCcma

 

Anh vẽ lên bức tranh quê hương bằng máu đỏ như sự cương quyết của dân tộc đứng thẳng chống chọi với bạo lực. Anh mang tiếng lòng của loài chim quốc bay đi đó đây hát cho tự do, cho yêu thương và cho tình người qua 121 bài ca.

 

Nhạc anh nhìn qua lăng kính nhân bản là những nét chấm phá tô điểm cho bao câu chuyện thương tâm khiến người nghe dễ xúc động. Tiếng ca ai oán ngân dài thanh âm rung vút cao, dù những lời cầu bình an cho thuyền tị nạn, hay nỗi khao khát tự do nhân quyền hoặc tôn vinh đất nước Việt Nam như bài ca tôi vốn yêu thích:

 

"Việt Nam oai linh nghìn thu sáng danh ngời

 

Đất Tiên Rồng nuôi chí hùng anh

 

Việt Nam dang tay thành tâm khắp nhân loại

 

Cùng thế giới đi xây tình dài

 

Việt Nam thắp cao ngọn đuốc ấm cho đời

 

Bằng trái tim vun trồng thời đại mới

 

Hồn sông núi vang trong mạch sống giống nòi

 

Bước đi trong miệt mài...."

 

Việt Nam Vinh Quang, thơ Nam Dao, nhạc Phan Văn Hưng:

 

http://www.youtube.com/watch"v=cQcYbRaCGYw

 

Việt Hải

 

Lời nhắn

 

Xin thông báo Buổi trình diển âm nhạc Phan Văn Hưng tại Nam Cali.

 

Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông, 14891 Moran Street, Westminster, CA 92683.

 

Vào Chủ Nhật, ngày 12 tháng 10, từ 2PM tới 5PM. Vào Cửa Tự Do. Trân trọng kính mời tất cả quý đồng hương.

 

Liên lạc:

 

1/ Thanh Thủy (616) 230-4143,

 

2/ Bích Ngọc (714) 726-6267,

 

3/ Kiều Mỹ Duyên (714) 636-2993.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.