Hôm nay,  

Chuyện Tình... Báo Hại

18/07/200900:00:00(Xem: 9125)

Chuyện Tình... Báo Hại
Nguyễn Xuân Nghĩa

Khi chính khách kê súng vào mồm... để bắn CIA
Cuối năm 1981, Tổng thống Ronald Reagan ký Sắc lệnh Hành pháp Executive Order số 12333 quy định quyền hạn và trách nhiệm mở rộng của các cơ quan tình báo, trong đó có điều khoản cấm nhân viên tình báo Hoa Kỳ không được thi hành việc ám sát. Sau vụ khủng bố 9-11, lệnh này được Chính quyền George W. Bush tu chỉnh hai lần, nhưng việc cấm ám sát vẫn có hiệu lực.
Ngoại lệ là nếu nhân viên tình báo được lệnh riêng của Tổng thống - presidential finding - để thi hành "nghiệp vụ đặc biệt" - bí mật về quân sự hay chính trị - mà Chính quyền có thể phủ nhận, hoặc coi như không biết. Trong các nghiệp vụ ấy có cả chuyện ám sát đặc công khủng bố của al-Qaeda.
Ngày 23 tháng Sáu vừa qua, Giám đốc Trung ương Tình báo CIA là Leon Pantetta mới biết về một chương trình biệt lập nhằm ám sát đặc công al-Qeda, được lập ra sau vụ khủng bố 9-11. Khi thấy chương trình bí mật ấy không được thông báo cho Quốc hội, ông lập tức ra lệnh hủy bỏ và hôm sau triệu tập buổi họp khẩn cấp để báo cho các ủy ban Quốc hội có nhiệm vụ giám sát hệ thống tình báo. Sau đấy, một số chi tiết về chương trình được tiết lộ cho báo chí nổ lớn thành đề tài chính trị ăn khách.
Đảng Dân Chủ khai thác câu chuyện thành đề mục hấp dẫn: "CIA qua mặt Quốc hội!" Báo chí châm thêm chi tiết gay cấn, rằng Phó Tổng thống Dick Cheney là người cấm CIA không được thông báo cho Quốc hội biết về chương trình ấy. Nhân vật hắc ám này quả là lắm tội! Phe Dân Chủ muốn khai thác chuyện tình báo để vẹn tình bảo vệ Dân biểu Nancy Pelosi - Chủ tịch Hạ viện - khi bà bị đả kích là nói dối rằng mình bị CIA che giấu sự thật trong vụ trấn nước tù khủng bố. Bây giờ, CIA bị bắt quả tang là che giấu Quốc hội và vi phạm đạo luật về Tình báo năm 1947, năm thành lập cơ quan này.
Đây là một tiêu biểu - nữa - về sự xuẩn động của các chính khách bất lương khi họ đem trò chơi chính trị vào chuyện an ninh. Nhưng, muốn bắn hạ cơ quan tình báo, họ tự kê súng vào mồm....
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu chuyện ấy, từ nhiều khía cạnh khác nhau. 
***
Việc ám sát đặc công khủng bố al-Qaeda không thể làm chúng ta ngạc nhiên.
Hơn hai chục năm trước, khi hai toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Đông Phi bị al-Qaeda tấn công, Tổng thống Bill Clinton ra lệnh mở chiến dịch quân sự và các điệp vụ mật nhằm triệt hạ đầu não của tổ chức khủng bố này. Chính quyền của ông còn bị phê phán là thiếu hữu hiệu và chểnh mảng nên mới để xảy ra vụ 9-11 vào năm 2001. Ngay sau đó, Tổng thống Bush đã công khai tuyên bố mục tiêu diệt trừ al-Qaeda rồi cũng bị đả kích là không hoàn tất nhiệm vụ.
Trong hai cuộc tranh cử tổng thống năm 2004 và 2008, Chính quyền Bush bị đối lập phê phán là thiếu tập trung vào việc diệt trừ al-Qaeda hoặc ám sát Osama bin Laden mà cứ đi lo chuyện khác. Năm ngoái, ứng cử viên Barack Obama là một tiếng nói đả kích mạnh nhất.
Thật ra, ngay từ năm 2002, cơ quan CIA đã tung ra nhiều đợt không tập căn cứ hay nhân sự đầu não của al-Qeda tại Afghanistan và Pakistan bằng loại máy bay tự động (không người lái UAVs) như Predator hay Reaper, hoặc bằng máy bay AC-130 cải tiến thành một pháo đài bay. Riêng từ hai năm qua, các nghiệp vụ ấy còn gia tăng, rồi tiếp tục mạnh mẽ hơn sau khi Obama nhậm chức. Ngoài hai địa bàn chính là Pakistan và Afghanistan, tình báo Hoa Kỳ còn tấn công al-Qaeda ở nhiều nơi khác, từ Somalia tới Yemen...
Vì vậy, việc diệt trừ đặc công al-Qaeda là quyết định "lưỡng đảng" do ba chính quyền Hoa Kỳ cùng đồng ý tiến hành, từ thời Clinton qua Bush đến Obama, với sự đồng ý của Quốc hội. Ám sát nhân sự al-Qaeda là một nghĩa vụ.
Nhưng không dễ thi hành.
***
Trước hết, hãy nói về định nghĩa. Al-Qaeda như ta hiểu ngày nay là mạng lưới khủng bố Hồi giáo do Osama bin Laden và Ayman al-Zawahiri đề xướng và hoạt động tại nhiều nơi trước khi rút về hậu cứ tại Afghanistan, nhờ sự bảo vệ của lực lượng Taliban. Đây là mạng lưới có trình độ tổ chức và nghiệp vụ cao, đã từng tấn công Hoa Kỳ ở nhiều nơi trước khi đạt thành tích làm nước Mỹ kinh hoàng là vụ 9-11 rồi vụ tấn công Bali tại Nam Dương, vụ Madrid tại Tây Ban Nha và xâm nhập vào Iraq trong khu vực sinh hoạt của cộng đồng Sunni.
Sau đấy, nhiều nhóm Hồi giáo cực đoan nơi khác cũng noi gương và xưng danh al-Qaeda để tiến hành nhiều đợt khủng bố khác, với mức tàn phá thấp hơn vì kém trình độ nghiệp vụ. Thí dụ là al-Qaeda tại Bắc Phi hay Đông Phi hay các tổ đặc công xưng danh "Thánh Chiến" khác, thí dụ như nhóm Jemaah Islamiyah (JI), thủ phạm của vụ đánh bom Bali lần thứ nhì vào năm 2005 và vừa lại tấn công hai khách sạn quốc tế (Mỹ) giữa thủ đô Jakarta của Nam Dương hôm 17 vừa rồi. Các nhóm đó có thể gián tiếp liên lạc với al-Qaeda nhưng chưa chắc đã được tổ chức này trực tiếp yểm trợ hay huấn luyện. Điều ấy không có nghĩa là họ không muốn liên lạc và không thể trở thành chuyện đáng lo.
Vì vậy, lý thuyết có thể phân biệt "al-Qaeda chính gốc" với "al-Qaeda địa phương" hoặc "al-Qaeda nội hóa", "al-Qaeda tự phát"... Các nhà làm luật ngồi trong phòng lạnh an toàn tại Mỹ thì mới muốn phân biệt chuyện đó để minh định đối tượng được diệt theo lệnh Tổng thống. Chứ trong lãnh vực an ninh thì đối tượng nào cũng đều đáng theo dõi, ngăn cản và diệt trừ, nếu được.


Al-Qaeda chính gốc thì bị bao vây và truy lùng tại Afghanistan và Pakistan, nhưng chân rết của họ có thể đang trưởng thành và được huấn luyện ở nơi khác để chuẩn bị giết người và thực tế đã giết người. Làm sao vào đến những "nơi khác" đó"
Một thí dụ đáng suy nghĩ đã xảy ra năm 1996.
***
Năm đó, Chính quyền Clinton có yêu cầu chính phủ của Qatar giúp đỡ để bắt giữ Khalid Sheikh Mohammed, nghi can khủng bố của al-Qaeda đang sống ung dung tại thủ đô Doha, trong vai trò một kỹ sư cho chính quyền Qatar. Được nhân viên trong chính quyền Doha rỉ tai cho biết yêu cầu của Mỹ, Mohammed bèn lỉnh qua Pakistan. Sau này, phúc trình của Ủy ban Điều tra của Quốc hội Mỹ về vụ 9-11 mới cho biết rằng tay đặc công ấy là đồng đạo và đồng chí với Sheikh Abdullah bin Khalid al-Thani, khi đó đang là Bộ trưởng Tôn giáo vụ của xứ Qatar.
Thoát về Pakistan, Sheikh Mohammed là công trình sư của nhiều đợt khủng bố ác liệt trước khi tổ chức vụ 9-11 tại Mỹ năm 2001 rồi vụ tấn công Bali năm 2002 tại Nam Dương. Nếu đợi khi Mohammed về tới Pakistan với chứng cớ rõ ràng là đặc công của al-Qaeda rồi mới ra tay hạ thủ thì quá trễ - mà quả là trễ.
Nhưng làm sao ra tay ám sát một đặc công al-Qaeda khi đương sự đang sống trong một quốc gia "vô can", lại có quan hệ ngoại giao với Mỹ" Dù có mắt thần và tình báo nhân sự tại chỗ, Predator cũng không thể bắn hạ khủng bố al-Qaeda tại Doha - hay Luân Đôn, Bali, Jakarta... Dấu vết đạn dược - hay hỏa tiễn Hellfire - là cái gì đó không dễ xoá tại các thành phố của đồng minh, bên trong lại có cơ sở của khủng bố.
Vì thế, nếu chỉ dùng hỏa tiễn bắn từ phi cơ xuống thì không đủ. Hoa Kỳ cần gửi người vào tận nơi, trong đất bạn và thù - thường thì là đất bạn - để thanh toán mục tiêu cho gọn mà không để lại dấu vết. Đồng minh nào mà cho tình báo Mỹ xâm nhập để giết người như vậy" Và nếu CIA để lại dấu vết thì sẽ gây vấn đề ngoại giao: xâm nhập một quốc gia khác để giết người thì... Tòa án Quốc tế về Tội ác Chiến tranh sẽ thụ lý hồ sơ, với sự cổ võ của các tổ chức cực tả của Mỹ.
Và cả thế giới sẽ hùa theo báo chí... Mỹ đả kích Hoa Kỳ là côn đồ, ngang ngược.
Tình báo Mỹ cẩn giải pháp tinh vi hơn để xác định và tiêu diệt đối tượng.
***
Cơ quan CIA phải huấn luyện nhân viên đi vào vùng đất xám - có thể là một xứ đồng minh mà có vẫn có mạng lưới bao che cho quân khủng bố - và tìm ra đặc công khủng bố để thanh toán rồi rút lui êm thấm. Xin phép nước bạn vào đó là điều khó, mà lại dễ bị lộ ngay từ khi manh nha. Phải bí mật xâm nhập mà không để bị bắt, bị truy tố và gây ra vấn đề. Nếu lại bị chính quân khủng bố bắt được thì coi như xong: bị tra tấn rồi tố cáo om xòm, xong mới bị chặt đầu. Vợ con chít khăn tang trong nín lặng vì Chính quyền Mỹ không bao giờ công nhận là có nhúng tay vào chuyện ám sát. May lắm, trong trụ sở CIA tại Langley mới có một ngôi sao và một cái tên...
Chương trình này vì vậy phải coi chuyện bảo mật là ưu tiên, bảo mật ngay từ bên trong CIA ra tới bên ngoài. Người được huấn luyện xong thì coi như sẽ thành Kinh Kha kamikaze- mà không được uống rượu làm thơ trước khi lên đường. Những đòi hỏi ấy có thể là lý do khiến chương trình không thành hình, có lẽ chưa qua được giai đoạn huấn luyện để trở thành một trong các hoạt động của CIA. Nhưng việc bảo mật ấy có công hiệu: sau hơn bảy năm rưỡi chuẩn bị, chương trình vẫn nằm trong bóng tối.
Bây giờ vì sao lại bị phanh phui"
Là nhờ Quốc hội Mỹ.
***
Thông thường, các cơ quan hữu trách Hoa Kỳ về tình báo đều tường trình lên tám nhân vật chủ chốt trong Quốc hội.
Đó là bốn người lãnh đạo hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà tại hai viện trên dưới, với bốn người cầm đầu hai đảng trong Ủy ban Tình báo Thượng và Hạ viện. Khi chỉ có tám người đó được biết chuyện tuyệt mật, rủi ro bị tiết lộ tất nhiên bị thu hẹp, nhờ vậy mà nhiều chuyện chưa bị tiết lộ.
Nhưng khi cơ quan CIA phải báo cáo với toàn thể Dân biểu Nghị sĩ có trách nhiệm về tình báo - bốn chục người, chưa kể ban tham mưu của họ - thì chuyện lộ mật trở thành quy luật phổ biến.
Nhờ tiết lộ đó, quân khủng bố biết thêm về phương pháp truy lùng của Mỹ mà thoát hiểm và tiếp tục giết người. Vì tiết lộ đó, công sức tình báo thành công cốc - tốn kém cho ngân sách - và nhân viên tình báo có khi mắc nạn, không bị khủng bố chặt đầu thì bị mời ra điều trần trước Quốc hội, có khi bị truy tố vì phạm luật! Thật ra, Quốc hội Mỹ đã nhiều lần là trung tâm tiết lộ bí mật quốc gia chỉ vì một đám chính khách bất lương và truyền thông đốn mạt.
Vụ CIA "giấu diếm Quốc hội" đang gây om xòm dư luận là một điển hình:
Giám đốc CIA vừa thông báo cho hai Uỷ ban về Tình báo của Lưỡng viện hôm 24 tháng Sáu là báo chí Mỹ lập tức biết ngay về một dự án được giữ kín trong hơn bảy năm rưỡi! Và cho nổ lớn để vài Dân biểu có lý cớ điều tra về tội ác CIA. Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Silvestre Reyes (Dân Chủ Texas) mau mắn nghĩ tới việc đó. Nhiều Dân biểu Dân Chủ còn thông báo là họ sẽ đổi luật để từ nay các cơ quan về tình báo phải báo cáo cho nhiều người hơn trong Quốc hội.
Thế thì... giã từ mẫu thân - nôm na là bỏ mẹ! Đá khéo nên... không khá.
Kết luận"
Một góc Quốc hội Mỹ đang tự biến ra trại gia súc của truyền thông thiên tả. Nhiều chính khách Mỹ tự biến ra điềm chỉ viên cho báo chí vô trách nhiệm. Al-Qaeda lại được yên tâm vì các chính khách Mỹ đang tự kê súng vào mồm. Trong khi nhân viên tình báo CIA ngao ngán đi tìm việc khác an toàn hơn - về chính trị.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.