Hôm nay,  

Đại Việt và Biển Đông

04/05/201100:00:00(Xem: 6627)

Đại Việt và Biển Đông

Luật Sư Đào Tăng Dực

Nhìn lại lịch sử gần 5,000 năm của dân tộc, trừ 200 năm lịch sử cận kim kể từ ngày Nguyễn Phước Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, thống nhất sơn hà, người Việt chúng ta đã chứng minh khả năng sống còn và ý chí phấn đấu vượt trên nhiều dân tộc khác sống trong quỹ đạo của Hán Tộc. Không những chỉ có người Việt, mà các dân tộc khác, đã thấm nhập nền văn hóa Trung Hoa mà đôi lúc còn bị sát nhập tức tưởi vào lãnh thổ Trung Quốc nữa.

Chúng ta nhìn thấy các dân tộc Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ và Việt Nam tồn tại như là những quốc gia độc lập trong quỹ đạo văn hóa Đông Á. Tuy nhiên ngoài Mông Cổ đã mất đi một nửa đất đai và dân số cho Trung Quốc, chúng ta nhìn thấy các dân tộc Mãn Châu Quốc, Tây Tạng, các tộc Hồi miền Tây đã bị sát nhập vào TQ. Dĩ nhiên đất đai của họ cũng trở thành lãnh thổ của TQ.

Sự kiện chúng ta còn dân tộc và lãnh thổ không có nghĩa là chúng ta không mất mát gì trong tay TQ trong quá khứ. Khảo cổ học đồng thuận rằng từ nguyên thủy, dân ta là một trong nhiều bộ tộc Bách Việt sinh sống phía nam sông Dương Tử. Nền văn hóa Bách Việt căn cứ trên nồng nghiệp mà chính là trồng lúa. Vì số sông ngòi rất nhiều miền nam TQ nên các tộc Việt thiện nghệ về thủy chiến. Trong khi đó, phía Bắc sông Dương Tử là Hán tộc và nền văn hóa của họ thiên về chăn nuôi và săn bắn. Vì lý do đó Hán tộc thiện nghệ hơn về kỵ binh.

Qua nhiều thế kỷ sống còn, dưới áp lực của Hán tộc, hầu như tất cả các nhóm Việt Tộc, từ phía nam sông Dương Tử đến Đài Loan và đảo Hải Nam đều bị hán hóa. Chỉ có Lạc Việt là phấn đấu để sống còn trong lưu vực Hồng Hà và sau đó bành trướng về phương nam, dọc theo dãy Trường Sơn, lãnh thổ trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Trong suốt chiều dài đó của lịch sử sống còn dân tộc, quốc hiệu chúng ta đã thay đổi nhiều lần. Từ Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt (Triệu Đà), Đại Ngu ( nhà Hồ), Vạn Xuân (Tiền Lý), Đại Cồ Việt (Đinh Bộ Lĩnh), đến Đại Việt (Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn), Đại Nam, An Nam rồi Việt Nam dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, một nước Việt Nam hậu cộng sản không những cần phải có một hiến pháp mới và một hệ thống luật pháp thể hiện tinh thần pháp trị của nhân loại trong kỷ nguyên mới, mà không kém phần quan trọng, đất nước ta cần một quốc hiệu mới, nói lên nền văn hiến đặc thù của dân tộc và ý chí quật cường đối với Bắc Phương.

Dân tộc chúng ta sống còn và được tôi luỵên không những trong truyền thống chống Thực Dân Pháp thống trị chúng ta chỉ 80 năm, mà quan trọng hơn nữa, là tiền nhân chúng ta thủa xưa và chúng ta ngày hôm nay đã được tôi luyện trong truyền thống chống xâm lăng từ phương Bắc đã thống trị dân tộc ta suốt 1,000 năm trong quá khứ và đang chực chờ thống trị chúng ta trong tương lai.

Theo thiển ý tác giả, khi chúng ta duyệt lại quá khứ và phóng tầm nhìn về định mệnh của dân ta trong tương lai, thì quốc hiệu Đại Việt thể hiện đúng đắn nhất ý chí quật cường, bất khuất của tiền nhân, sự đóng góp của dân tộc ta cho cộng đồng nhân loại trong tương lai và vị trí chiến lược trọng yếu về địa dư của Đại Việt cho hòa bình, ổn định và phồn vinh của vùng Đông Á nới riêng và thế giới nói chung.

Lịch sử cho thấy rằng, triều đại Tây Sơn, tuy ngắn ngủi, lại là triệu đại cuối cùng của dân tộc, có khả năng viết lên những trang sử oai hùng chống lại Bắc Phương. Triều Nguyễn là một triều đại bảo thủ và thiếu sáng tạo.

Sau khi thống nhất sơn hà, Gia Long đã sai sứ sang Trung Hoa xin được đổi tên nước thành Nam Việt và xin được triều đình Trung Quốc sắc phong làm Nam Việt Quốc Vương. Tuy nhiên triều đình TQ lo sợ rằng nếu quốc hiệu chúng ta là Nam Việt thì hàm chứa ý nghĩa là chúng ta mang thân phận hậu duệ của các nhóm Việt Tộc thủa xưa miền nam sông Dương Tử, với tham vọng lấy lại các vùng đất lưỡng quảng. Chính vì thể triều đình TQ đổi quốc hiệu là Việt Nam và ban bố quốc hiệu này cho chúng ta. Việt Nam có nghĩa là một dân tộc sống ở phía nam các Việt Tộc miền nam sông Dương Tử mà thôi.

Chính vì thế, Việt Nam không phải là quốc hiệu đất nước chúng ta tự chọn. Trong kỷ nguyên mới, chúng ta sẽ phải vươn lên như là một dân tộc lớn. Chúng ta không những phải bắt kịp mà còn qua mặt TQ về mọi phương diện từ kinh tế đến quân sự, mới mong sống còn bên cạnh TQ.

Nhật Bổn, Nam Hàn đã làm được và với một chế độ dân chủ thực sự, những chính sách kinh tế tự do và sáng suốt, mức độ sáng tạo và trí thông minh bình thường của người Việt, dân tộc mình sẽ không thua Nhật Bổn và Nam Hàn.

Quốc hiệu Đại Việt nói lên không những khả năng sống còn vượt bực của dân ta trong suốt chiều dài lịch sử, vượt lên trên nhiều chủng tộc khác, mà còn nói lên những chiến công hiển hách đối với Bắc phương từ Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền, đến Phá Tống của Lý Thường Kiệt, chiến thắng quân Mông Cổ của Hưng Đạo Đại Vương và quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh của Quang Trung Đại Đế.

Ngày hôm nay, chúng ta thừa hưởng một di sản vô cùng quý giá. Đó là một giải đất chiến lược. Đất nước chúng ta, lưng dựa một dãi Trường Sơn vững chãi như bức trường thành bảo vệ. Bên kia dãy Trường Sơn là các nước Lào và Cambốt, đất rộng, dân thưa là một hậu phương đem lại sự an toàn quốc phòng quan trọng. Hai quốc gia này có truyền thống được chúng ta bảo hộ. Trong khi lưng chúng ta dựa Trường Sơn thì mắt chúng ta có thể phóng tầm nhìn chiến lược bao trùm vùng Biển Đông bát ngát.

Trước khi mất Hoàng Sa và một phần Trường Sa hầu như Việt Nam có khả năng chiến lược để kiểm soát toàn bộ hành lang hàng hải, di chuyển thương thuyền từ Âu Châu và Địa Trung Hải, qua Ấn Độ Dương, xuyên eo biển Malacca và xuyên Biển Đông để nối liền thế giới và các thị trường vĩ đại của Đài Loan, Nhât Bổn và Trung Quốc. Từ các hải cảng quan trọng của chúng ta như Vũng Tàu, Cam Ranh, Đà Năng và Hải Phòng, không những chúng ta tiếp vận mà còn kiểm soát sự di chuyển và an toàn của đội thương thuyền trọng yếu của thế giới này. Thật vậy, nước Việt chúng ta, hình cong chữ S là một pháo đài vĩ đại phòng thủ cho toàn bộ Biển Đông.

Từ khi mất Hoàng Sa về tay TQ, cục diện hoàn toàn thay đổi. Hoàng Sa trong tay TQ đã được biến thành một pháo đài của Trung Quốc, khống chế lại tầm nhìn và phạm vi hoạt động cùa các hải cảng chiến lược như Hải Phòng, Cam Ranh, Đà Nẵng và Vũng Tàu. Thêm vào đó, sau khi chiếm được Hoàng Sa, TQ đã xây dựng quần đảo này thành một căn cứ hài quân quan trọng, có khả năng kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Ngoài ra, từ Hoàng Sa, TQ còn vói tay đến Trường Sa theo một lý thuyết Lưỡi Bò bá quyền vô lý nhưng được củng cố bằng hải quân hùng hậu.

Dĩ nhiên, ngoài lợi ích về chiến lược vị trí địa dư với nhiều lợi nhuận về kinh tế như phục vụ cho đội thương tuyền xử dụng Biển Đông, thì trong kỷ nguyên mới, trên nguyên tắc, tổ tiên còn trao truyền lại cho chúng ta các nguồn lợi nhuận về khoáng sản, dầu hỏa, hải sản v..v..từ thềm lục địa.

Ngày hôm nay, chúng ta phải thương tâm nhìn những ngư dân Việt nghèo khổ, đưa thuyền ra Biển Đông, đánh cá tại những vùng biển mà cha ông họ đã quen thuộc từ ngàn năm trước và bị hải quân CSTQ bắt giữ vì vi phạm "hải phận Trung Quốc", thuyền đánh cá bị tịch thâu và phải trả những số tiền phạt khổng lồ.

Sử dụng Hoàng Sa và Trường Sa để khống chế dân ta tại hướng đông chưa đủ, CSTQ còn có tầm nhìn xa hơn nữa. Cạnh sườn phía tây đất nước chúng ta, TQ còn tung nhân lực và vật lực vào hai quốc gia Lào và Cambốt, một mặt khai thác tài nguyên để nuôi nền kinh tế TQ, mặt khác, tích cực đẩy ảnh hưởng Việt Nam ra khỏi hai quốc gia này, và thay thế bằng ảnh hưởng TQ. TQ cũng xây dựng đường xá xuyên quốc gia tại hai tiểu quốc này, hầu đạt được những mục tiêu chiến lược khi cần thiết để khống chế Việt nam.

Trên mặt chiến lược, hệ thống đường sắt nối liền "Côn Minh-Tân Gia Ba" dự tính sẽ hòan tất năm 2015, không những sẽ đi từ Côn Minh (Trung Quốc) sang Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai và Tân Gia Ba, mà trên thực chất là một hệ thống mạng nhện nối liền cả Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

Source: Association of Southeast Asian Nations's Fact Sheet - www.aseansec.org

Trên nguyên tắc, TQ muốn kềm chế chúng ta cả hai mặt đông và tây hầu biến chúng ta thành một quận huyện lệ thuộc TQ. Vì thế, dự án cho phép TQ khai thác hầm mỏ Bauxite tại cao nguyên trung phần Việt Nam là một ý tưởng điên rồ, phản bội quyền lợi dân tộc.

Ngày hôm nay, TQ đã trở thành nguồn đầu tư ngọai quốc lớn nhất tại Lào và Cam Bốt.

Trong 6 tháng đầu năm 2010, TQ đã đầu tư vào Lào Quốc $340m.(Burma, Cambodia & Laos: Juggling trade and diplomacy- Nirmal Ghosh-The Straits Times-

Publication Date : 08-10-2010)

TQ cũng là nguồn đầu tư ngọai quốc lớn nhất vào Cam Bốt. TQ dự tính sẽ đầu tư $8b trong 360 dự án cho 7 tháng đầu của năm 2011 tại Cam Bốt. TQ cũng là nguồn viện trợ lớn nhất của quốc gia này ($600m năm 2007 và $260m năm 2008). (Reuters 6 April 2011)

Các chính quyền độc tài tại Đông Nam Á như Lào, Cam Bốt và Miến Điện luôn luôn ưa chuộng những sự cộng tác kinh tế và viện trợ từ TQ. Lý do là vì TQ cũng là một chế độ độc tài và không đòi hỏi những điều kiện về nhân quyền và dân chủ như các nước Tây Phương.

Tệ hại hơn nữa, TQ còn ngang nhiên vi phạm các luật quốc tế, xây dựng nhiều đập nước khổng lồ tại thượng nguồn của Sông Cửu Long, làm suy sụp đến mức độ nguy hiểm tòan bộ môi sinh đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam.

Làm sao chúng ta có thể thoát khỏi gọng kìm này của TQ"

Dĩ nhiên việc thứ nhất là phải xây dựng một thể chế chính trị dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên hầu đại đòan kết mọi thành phần của dân tộc bất kể khuynh hướng chính trị. Hai là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế qua mặt TQ như Nam Hàn và Đài Loan. Ba là phải xây dựng quân sự và quốc phòng hùng mạnh để đối đầu với TQ trong tinh thần tự chủ tự cường.

Tuy nhiên, tất cả những công tác đó cần thời gian. Điều tiên quyết là dân tộc Việt phải lập tức có một hành động dứt khóat, mang tính biểu tượng, minh thị tuyên ngôn độc lập đối với Hán Tộc Bắc Phương. Hành động này không cần chờ thời gian và không tốn kém ngân sách quốc gia, nhưng bên trong bày tỏ sự quyết tâm, bên ngòai là một thông điệp và tuyên ngôn độc lập, dứt bỏ quá khứ lệ thuộc ngọai bang. Hành động quyết liệt này là tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, hoặc thông qua lưỡng viện quốc hội, hoặc một thủ tục hợp hiến và hợp pháp khác, thay đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Việt, hoặc một quốc hiệu khác, được tòan dân đồng thuận (như Đại Nam…) để nói lên tinh thần độc lập và tự quyết dân tộc, dứt khoát với TQ.

Mặc dầu dưới quốc hiệu Đại Việt, dân tộc ta đã viết lên những trang sử oai hùng sáng chói. Tuy nhiên tác giả không phải là một chuyên gia về sử học và mong rằng các chuyên gia về sử học Việt sẽ nghiên cứu về lịch sử quốc hiệu nước ta để tòan dân có thêm dữ kiện, trước khi quyết định về quốc hiệu mới cho dân tộc Việt.

Những triều đại trong quá khứ phần lớn, nếu không nói tất cả, đều chịu sự sắc phong của thiên triều TQ. Thế kỷ 21 mở ra một trang sử mới. Nếu người CSVN tiếp tục cam tâm làm tôi đòi cho TQ thì họ sẽ là triều đình cuối cùng chịu sự sắc phong của "Thiên Triều", ngược lại ý nguyện tòan dân.

Trong khi đó, tòan thể Việt Tộc, với một quốc hiệu mới, sẽ khởi đầu một kỷ nguyên mới, dân chủ và phồn vinh thật sự cho đất nước chúng ta.

Sydney 1 tháng 5, 2011

Luật Sư Đào Tăng Dực

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.