Hôm nay,  

Bi Kịch Palestine

21/05/201100:00:00(Xem: 10780)

Bi Kịch Palestine

Nguyễn Xuân Nghĩa 

Những mộng ước bất khả trong một thảm kịch lớn... 

Sau bài diễn văn hôm 19 về đối sách của Hoa Kỳ trong khu vực Á Rập Hồi giáo, và vụ đụng độ nháng lửa hôm sau với Thủ tướng Israel là Binyamin Netanyahu, Tổng thống Barack Obama chuẩn bị qua Âu Châu trong năm ngày công du, từ 23 đến 27, để giải quyết nhiều vấn đề của Âu Châu và mối quan hệ với Liên bang Nga. Chuyện Âu Châu, tuần sau ta sẽ tính.

Kỳ này, xin tìm hiểu về dự kiến của Tổng thống Mỹ tại khu vực Á Rập, nhất là một hồ sơ nan giải trong khu vực có tên là "Levant", miền Đông của Địa Trung hải. Với Âu Châu và Pháp - tác giả của chữ này tư thời Trung Cổ - đó là nơi mặt trời mọc, là bậc thềm tiến về Châu Á.

Quan trọng nhất, đó là đất sống của dân Do Thái từ thời Thượng cổ và ngày nay là vùng tranh chấp của xứ Israel với dân Palestine.

Trong bài diễn văn dài 45 phút hướng về dư luận bên ngoài, Tổng thống Obama trình bày niềm tin của mình về một trào lưu dân chủ tất yếu trong thế giới Á Rập, mà Hoa Kỳ có nhiệm vụ yểm trợ. Bỏ bên ngoài những lý do chính trị nội bộ, quan điểm của ông thật ra không khác với chủ trương của vị tiền nhiệm George W. Bush và lý luận của cánh "tân bảo thủ": Hoa Kỳ phải phát huy dân chủ để có hòa bình khi người dân xứ khác được tự do. Và ông tin rằng những biến động từ gần sáu tháng nay trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông là biểu hiện của trào lưu dân chủ.

Người ta có quyền đồng ý hay không về cách nhận định và diễn giải - narrative - của ông về biến cố này. Nhưng khi giàng hồ sơ Palestine vào kịch bản dân chủ hóa, có khi Tổng thống Mỹ lại gặp hậu quả bất lường và rủi ro lớn.

Vì hồ sơ này quá phức tạp, chúng ta cần nhìn ra bối cảnh và các yếu tố loạn hay trị tiềm ẩn bên trong.

***

Thứ nhất, xin nói về định nghĩa.

Chúng ta có dân tộc Do Thái - người Jews - hậu thân của người Do Thái cổ - Hebrew - và ngày nay có quốc gia Israel của dân Do Thái. Từ thời Thượng cổ và trong Thánh Kinh, dân Do Thái đã sinh sống, bành trướng, chiến đấu và bị đầy đọa nhiều lần trong khu vực này. Sau mấy ngàn năm như vậy và cho tới thế kỷ XX, dân Do Thái phát triển một bản năng sinh tồn rất mạnh khiến nhiều người khâm phục mà cũng làm nhiều người nghi ngại, thù ghét.

Còn lại, dân Á Rập trên đất Palestine - gọi là dân Palestinian - thì xin giải thích sau vì liên quan tới địa dư và lịch sử là chuyện kế tiếp.

Về địa dư, khu vực Levant, ngày nay cũng được gọi là "Trung Đông", nằm từ ven biển hướng Đông của Địa Trung hải vào tới lưu vực sông Jordan và đồi núi vây quanh. Phía Bắc có xứ Lebanon và Syria, phía Đông có sa mạc Syria của Bán đảo Á Rập, phía Tây Nam là sa mạc của Bán đảo Sinai thuộc xứ Ai Cập. Đây là khu vực bao trùm hay tiếp cận với các quốc gia là Lebanon, Syria, Jordan, Israel và Ai Cập, Egypt.

Thứ ba, xin nói về lịch sử, với hai dấu mốc là hai cuộc Thế chiến của thế kỷ XX.

Trong bốn thế kỷ từ 1517 đến 1919, khu vực Levant là một tỉnh của Đế quốc Hồi giáo Ottoman, gọi là tỉnh Syria. Khi Đế quốc Ottoman liên kết với nước Đức trong Thế chiến I và năm 1919 tan rã cùng sự bại trận của Đức, khu vực Levant rơi vào vòng kiểm soát - chia chác - của hai cường quốc "chiến thắng" tại Âu Châu là Anh và Pháp. Chuyện ấy gieo mầm cho những tai họa ở đây, khi họ trao cho các thị tộc thiểu số quyền cai trị trên từng vùng đất được gọi là "quốc gia" theo quan điểm của Âu Châu, trên những lãnh thổ chưa có quốc dân.

Bây giờ gom lại cả tấm bản đồ và cuốn lịch, ta có thảm kịch Palestine.

Từ năm 1916, mật ước Anh-Pháp gọi là Sykes-Picoty - có sự đồng ý của Đế quốc Nga - đã chuẩn bị thực đơn sáu món về lãnh thổ của Đế quốc Ottoman: sau khi đánh gục Ottoman thì chia xứ này thành nhiều mảnh! Sau Thế chiến I, riêng tại khu vực Levant, Anh và Pháp cắt nhỏ tỉnh Syria rồi gom lại thành nhiều nước được ban cho các thị tộc đã yểm trợ họ trong Thế chiến.

Thuộc quyền giám hộ của Pháp, phía Bắc tỉnh Syria được cắt riêng thành nước Syria. Nhưng Pháp xắn một phần của Syria thưởng cho hệ phái Thiên chúa giáo Maronite lập ra nước Liban hay Lebanon, là tên một rặng núi. Quốc gia Lebanon thành hình mà thật ra chưa có quốc dân thống nhất, còn Syria coi Lebanon là phần đất của mình, nơi mình có quyền can thiệp và khai thác.

Quản lý phía Nam tỉnh Syria cũ, Anh trao quyền lãnh đạo cho dòng Hashemite trên cả khu vực Levant và Bán đảo Á Rập. Khi dòng Saudi chiếm phân nửa và lập ra xứ Saudi Arabia từ giữa năm 1920, Anh tưởng thưởng dòng Hashemite phần còn lại của bán đảo Á Rập để lập ra Vương quốc Trans-Jordan, là nước Jordan này nay, và vùng đất sau này sẽ là cường quốc Iraq.

Trong cả khu vực, một deo đất hẹp nằm tại miền Nam núi Hermon và Tây ngạn sông Jordan đã là một huyện của tỉnh Syria, xưa kia là đất "Filistia" do tên của dân Philistine mà người ta có thể đọc thấy trong Thánh Kinh. Hai nước Anh và Pháp lấy lại tên cũ mà gọi đó là đất Palestine.

Chưa hết nhức đầu.

Khu vực Levant này là của dân Á Rập, thuộc thị tộc này hay hệ phái kia, nhưng đều theo Hồi giáo, không thuộc sắc tộc Ba Tư như Iran hay Thổ như Turkey. Tuy vậy, mẫu số chung là "Á Rập Hồi giáo" chưa kết tinh thành một cộng đồng quốc gia như ta hiểu ngày nay mà vẫn có những dị biệt và tranh chấp về thị tộc và hệ phái tôn giáo lẫn thể chế chính trị, là thế quyền hay thần quyền, quân chủ hay "dân chủ", v.v....

Khi các thị tộc lớn của dân Á Rập đều được trao đất thành lập ra các quốc gia, dân Á Rập trên đất Palestine bị bỏ quên. Họ bị các quốc gia Á Rập kia bỏ rơi, nghi ngờ và xua đuổi, chẳng khác gì dân Do Thái cũng lần mò về đó sinh sống!

Xứ Syria coi đất Palestine y như Lebanon và Jordan: thuộc chủ quyền của mình mà bị Âu Châu xén mất. Còn dân Palestine thì chỉ là thần dân của Syria. Nói đến một quốc gia độc lập cho dân Palestine là có sự phản đối của Syria!

Dòng Hashemite ngự trên đất lạ là Jordan thì cũng coi đất Palestine này là của mình. Thực tế thì Vương quốc Jordan đã chiếm Tây ngạn sông Jordan, sau này cứ được gọi tắt là West Bank, và phía Đông của Thánh địa Jerusalem, là hai vùng ngụ cư của dân Palestinevì Israel chiếm cứ từ 1967.

Thật ra, xứ Jordan không muốn Palestine biến thành một quốc gia, đã hai lần từ chối việc đó vào năm 1948 và 1967 và một lần tàn sát dân Palestine sống tại Jordan, đẩy họ qua xứ Lebanon (năm 1970). Nỗi lo của dòng Hashemite là dân Palestine từ hướng Tây dạt qua sẽ sinh con đẻ cái tại Jordan và có ngày đảo chính vương quyền, là điều đã xảy ra mà không thành, thành tích của Yasser Arafat và tổ chức PLO!

Cách đất Palestine một sa mạc Sinai, xứ Ai Cập cũng không yên tâm với dân Palestine vì cho rằng đất Palestine này là một phần lãnh thổ của "Cộng hoà Á Rập Thống nhất", do Ai Cập lập ra với Syria! Rất kỵ quốc gia Israel từ ngày thành lập vào năm 1948, Ai Cập lại trông cậy vào dân Do Thái và Chính quyền Israel để Palestine không thể trở thành một quốc gia độc lập.

Nhưng ngần ấy quốc gia đều khích lệ tinh thần độc lập của dân Paalestine để phát huy sức mạnh Á Rập Hồi giáo chống lại một "kẻ thù chung" mà rất được việc. Là dân Do Thái và xứ Israel!

Ngay sau ngày lập quốc thời 1948, dân Do Thái tại chỗ đã đón nhận di dân và đồng bào của họ để củng cố quốc gia Israel. Trong khi đó, cũng từ ngày ấy, dân Palestine bị đồng bào Á Rập của họ tại các nước lân bang xua đuổi, và chỉ được gom vào hai tụ điểm là Tây ngạn Jordan và Dải Gaza, để ca bài hát chống Do Thái.

Sự thâm hiểm của Anh và Pháp từ 1916 đến 1967 chỉ thua kém sự gian ác của các nước Á Rập chung quanh từ 1967 cho đến nay! Không nhìn ra điều ấy mà cứ phê phán chuyện Palestine thì khó hiểu ra nỗi khó của Hoa Kỳ!

***

Bây giờ đến chuyện xứ Israel của người Do Thái.

Đa số truyền thông Mỹ và cả thế giới cứ nói đến nhóm vận động Do Thái ("Jewish Lobby") trong chính trường Hoa Kỳ. Họ ít đọc lại lịch sử và quên mất địa dư của khu vực Levant.

Trên đà sụp đổ của Đế quốc Ottoman, Đế quốc Anh thời đó muốn kiểm soát khu vực Levant và vì vậy mới cùng Pháp chia nhau xả thịt tỉnh Syria thành từng mảnh như đã nói ở trên. Qua Thế chiến II, có hai đại cường khác cũng ngó vào vùng đất trung chuyển giữa Âu và Á, Tây và Đông, đó là Liên Xô và Hoa Kỳ. Vì vậy, song song cùng tranh chấp và đấu lực tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, hai nước lãnh đạo Chiến tranh lạnh cùng ngó vào đất Levant của Đế quốc Anh đang suy tàn, và Thực dân Pháp đã hết thời.

Chính là hai xứ này đã gây sức ép với Anh và vận động sự thành lập của quốc gia Israel. Chủ nghĩa Zionism và tinh thần độc lập của dân Do Thái đã khôn khéo khai thác chiều hướng này. Đây là chuyện khác, sẽ tìm hiểu trong dịp khác.

Liên Xô ủng hộ sự thành lập quốc gia Do Thái với dân định cư có cùng... ý thức hệ. Đa số di dân Do Thái bước vào đất Israel là đến từ Nga, với quan niệm xây dựng nông trại theo kiểu "đồn điền" - vừa sản xuất vừa chiến đấu - và phát huy mô thức "công xã" của Liên Xô. Nhìn lại thì người dân lập ra quốc gia Israel thì đến từ Nga, tiền bạc do dân Do Thái tại Mỹ chung góp một phần! Sau này, Israel mới là mảnh đất của dân Do Thái đến từ tứ xứ.

Nhớ lại thì từ năm 1948 cho đến 1967, Israel là một nước thân Xô viết, chống Mỹ, được Pháp yểm trợ và gây khá nhiều vấn đề cho Hoa Kỳ. Vụ khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 là một nhắc nhở. Sau năm 1967, Hoa Kỳ mới đảo ngược quyết định, khi Israel mất chỗ tựa vào nước Pháp và tách dần khỏi ảnh hưởng Xô viết.

Trong 54 năm liền, ảnh hưởng rất lớn của dân Do Thái tại Mỹ chưa từng khiến nước Mỹ lấy những quyết định có lợi cho Israel mà có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ - là định nghĩa của "chi phối". Dân Do Thái cũng không có khả năng chìm hay nổi để chọn người lên lãnh đạo nước Mỹ, tiến trình tuyển cử và bầu bán quá phức tạp của một xứ quá đa diện như Hoa Kỳ hoàn toàn vượt qua khả năng của các phù thủy Do Thái.

Và ngày nay, đa số dân Do Thái, từ tài phiệt đến trí thức và nghệ sĩ cùng các hiệp hội của họ tại Mỹ dồn tiền ủng hộ đảng Dân Chủ và có lập trường khá nghiêm khắc với Chính quyền Israel. Chỉ có một thiểu số là dồn phiếu bên Cộng Hoà để bảo vệ Israel.

***

Ở tại chỗ, Israel có khả năng tự vệ chống lại mọi cuộc xâm lược của các lân bang, nhờ địa dư hình thể và thực lực của các lân bang này.

Muốn tấn công Do Thái từ hai ngả Đông Tây thì phải vượt qua sa mạc Negev và sa mạc Sinai, là điều bất khả cho cả Jordan và Ai Cập. Hai xứ này đã trả giá cho việc thử nghiệm đó. Muốn tấn công từ mạn Bắc, Syria không thể vượt qua núi mà chỉ còn khoảng trống vài chục cây số,từ Cao nguyên Golan tới biển Galilee, và sẽ bị du kích Israel cho phơi thây trên sông Jordan. Còn lại chỉ có xứ Lebanon phía Bắc - và lực lượng Hezbollah ở phía Nam Lebanon - có thể vượt sông Litani và pháo kích vào lãnh thổ Israel. Nhưng khu vực này là vùng buôn bán cần thiết cho Lebanon với các nước Địa Trung hải và Lebanon không dại gì hy sinh sự phồn thịnh của mình để vẽ lại bản đồ Israel cho dân Palestine!

Trừ phi có sự xúi giục của một cường quốc ở xa là Iran, qua trung gian của lực lượng Hezbollah và xứ Syria...

Bên trong, người Do Thái miền duyên hải và miền Bắc thì giỏi buôn bán và có tinh thần hiếu hòa hơn là dân Do Thái ở phía Đông, vốn dĩ thường xuyên ứng chiến từ thời lập quốc 1948. Phe "diều hâu" Do Thái ở phía Đông cũng cần đất sống và hàng rào phòng ngự nên lấn dần vào Tây ngạn sông Jordan là nơi sinh hoạt của dân Palestine do Israel kiểm soát từ năm 1967 sau khi chiếm của Jordan. Còn lại, dân Palestine chỉ có deo đất hẹp ở hướng Tây Nam là Dải Gaza, nay thuộc quyền kiểm soát của lực lượng Hamas, nổi tiếng với phương pháp khủng bố và chủ trương tiêu diệt quốc gia Israel.

Về mặt phòng thủ, Israel có đủ sức tự vệ trước áp lực của các nước Á Rập vây quanh, nhưng không thể cưỡng lại áp lực của các đại cường ở xa, như Hoa Kỳ hay Liên Xô. Chuyện gần là tự vệ thì Chính quyền Tel Aviv còn giải quyết được bằng quân sự, chứ chuyện đối phó với các đại cường ở xa thì phải dùng phương pháp ngoại giao.

Ngoại giao để từ chối lui về biên cương 1967 tức là ra khỏi Tây ngạn sông Jordan, là điều Thủ tướng Netanyahu nói thẳng tại cuộc họp báo với Tổng thống Obama trưa Thứ Sáu 20. Lui về đó là hết đất phòng thủ trước một số khuynh hướng Palestine cực đoan chỉ muốn tiêu diệt xứ Israel. Ngoại giao để cho thấy dân Palestine ở Tây ngạn sông Jordan chỉ có tương lai và sinh hoạt kinh tế nếu hợp tác với Israel và được Chính quyền Tel Aviv yểm trợ. Ngoại giao để chứng minh rằng khu thị trấn trên Dải Gaza không có tương lai kinh tế và dân cư cũng chẳng có thể ra khỏi khu vực này để kiếm ăn nơi khác nếu tiếp tục ủng hộ lực lượng Hamas.

Nhìn như vậy thì việc thành lập một quốc gia Palestine, như Tổng thống Obama chủ trương, là điều nan giải trong thực tế. Như đã nói ở trên, các nước Á Rập chung quanh không thật lòng với viễn ảnh đó.

Còn lại, một quốc gia Palestine với hai mảnh Gaza và West Bank thì sẽ có hai đầu và có ngày chia hai như Pakistan và Bangladesh năm 1971. Khu vực Gaza là những thị trấn chật chội thiếu tài nguyên trừ nhân lực nheo nhóc sẽ không có kinh tế mà chỉ có cứu trợ. Khu vực West Bank thì có hy vọng hơn, nhưng còn tùy vào nguồn nhân lực là di dân từ Gaza đi qua, dưới sự kiểm soát của Israel. Nếu lãnh đạo Palestine có thiện chí và thống nhất chủ trương hiếu hòa để sống chung thì may ra giải pháp quốc gia Palestine tại West Bank còn có thể thành hình, với sự yểm trợ, nuôi dưỡng và kiểm soát của Israel.

Nhưng, chưa tiến tới thống nhất ý kiến trong hai nhóm Palestine - ôn hoà theo Fatah tại Tây ngạn và cực đoan theo Hamas tại Dải Gaza - mà đã nói đến việc thương thuyết. Và chưa thương thuyết mà đã đòi Israel phải trở về vị trí của năm 1967 thì cũng tựa như đòi xứ Israel tự sát.

Nhẹ nhất, nếu là một chiến thuật thương thảo do Hoa Kỳ đề nghị thì chiến thuật này sẽ thất bại vì chỉ khuyến khích xu hướng cực đoan của dân Palestine là đòi Israe, nhượng bộ thêm.

Kết luận ở đây là dân Palestine chính là nạn nhân của các nước Á Rập Hồi giáo và hy vọng của họ lại nằm trong tay kẻ thù, là chính quyền Israel của dân Do Thái. Cứu tinh của họ, có thể làm Israel bị khuất phục chính là Hoa Kỳ.

Nhưng giả thuyết ấy mà xảy ra, Israel sẽ không tự sát và toàn khu vực Levant sẽ thành biển lửa!

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.