Hôm nay,  

Bi Kịch Palestine

21/05/201100:00:00(Xem: 10622)

Bi Kịch Palestine

Nguyễn Xuân Nghĩa 

Những mộng ước bất khả trong một thảm kịch lớn... 

Sau bài diễn văn hôm 19 về đối sách của Hoa Kỳ trong khu vực Á Rập Hồi giáo, và vụ đụng độ nháng lửa hôm sau với Thủ tướng Israel là Binyamin Netanyahu, Tổng thống Barack Obama chuẩn bị qua Âu Châu trong năm ngày công du, từ 23 đến 27, để giải quyết nhiều vấn đề của Âu Châu và mối quan hệ với Liên bang Nga. Chuyện Âu Châu, tuần sau ta sẽ tính.

Kỳ này, xin tìm hiểu về dự kiến của Tổng thống Mỹ tại khu vực Á Rập, nhất là một hồ sơ nan giải trong khu vực có tên là "Levant", miền Đông của Địa Trung hải. Với Âu Châu và Pháp - tác giả của chữ này tư thời Trung Cổ - đó là nơi mặt trời mọc, là bậc thềm tiến về Châu Á.

Quan trọng nhất, đó là đất sống của dân Do Thái từ thời Thượng cổ và ngày nay là vùng tranh chấp của xứ Israel với dân Palestine.

Trong bài diễn văn dài 45 phút hướng về dư luận bên ngoài, Tổng thống Obama trình bày niềm tin của mình về một trào lưu dân chủ tất yếu trong thế giới Á Rập, mà Hoa Kỳ có nhiệm vụ yểm trợ. Bỏ bên ngoài những lý do chính trị nội bộ, quan điểm của ông thật ra không khác với chủ trương của vị tiền nhiệm George W. Bush và lý luận của cánh "tân bảo thủ": Hoa Kỳ phải phát huy dân chủ để có hòa bình khi người dân xứ khác được tự do. Và ông tin rằng những biến động từ gần sáu tháng nay trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông là biểu hiện của trào lưu dân chủ.

Người ta có quyền đồng ý hay không về cách nhận định và diễn giải - narrative - của ông về biến cố này. Nhưng khi giàng hồ sơ Palestine vào kịch bản dân chủ hóa, có khi Tổng thống Mỹ lại gặp hậu quả bất lường và rủi ro lớn.

Vì hồ sơ này quá phức tạp, chúng ta cần nhìn ra bối cảnh và các yếu tố loạn hay trị tiềm ẩn bên trong.

***

Thứ nhất, xin nói về định nghĩa.

Chúng ta có dân tộc Do Thái - người Jews - hậu thân của người Do Thái cổ - Hebrew - và ngày nay có quốc gia Israel của dân Do Thái. Từ thời Thượng cổ và trong Thánh Kinh, dân Do Thái đã sinh sống, bành trướng, chiến đấu và bị đầy đọa nhiều lần trong khu vực này. Sau mấy ngàn năm như vậy và cho tới thế kỷ XX, dân Do Thái phát triển một bản năng sinh tồn rất mạnh khiến nhiều người khâm phục mà cũng làm nhiều người nghi ngại, thù ghét.

Còn lại, dân Á Rập trên đất Palestine - gọi là dân Palestinian - thì xin giải thích sau vì liên quan tới địa dư và lịch sử là chuyện kế tiếp.

Về địa dư, khu vực Levant, ngày nay cũng được gọi là "Trung Đông", nằm từ ven biển hướng Đông của Địa Trung hải vào tới lưu vực sông Jordan và đồi núi vây quanh. Phía Bắc có xứ Lebanon và Syria, phía Đông có sa mạc Syria của Bán đảo Á Rập, phía Tây Nam là sa mạc của Bán đảo Sinai thuộc xứ Ai Cập. Đây là khu vực bao trùm hay tiếp cận với các quốc gia là Lebanon, Syria, Jordan, Israel và Ai Cập, Egypt.

Thứ ba, xin nói về lịch sử, với hai dấu mốc là hai cuộc Thế chiến của thế kỷ XX.

Trong bốn thế kỷ từ 1517 đến 1919, khu vực Levant là một tỉnh của Đế quốc Hồi giáo Ottoman, gọi là tỉnh Syria. Khi Đế quốc Ottoman liên kết với nước Đức trong Thế chiến I và năm 1919 tan rã cùng sự bại trận của Đức, khu vực Levant rơi vào vòng kiểm soát - chia chác - của hai cường quốc "chiến thắng" tại Âu Châu là Anh và Pháp. Chuyện ấy gieo mầm cho những tai họa ở đây, khi họ trao cho các thị tộc thiểu số quyền cai trị trên từng vùng đất được gọi là "quốc gia" theo quan điểm của Âu Châu, trên những lãnh thổ chưa có quốc dân.

Bây giờ gom lại cả tấm bản đồ và cuốn lịch, ta có thảm kịch Palestine.

Từ năm 1916, mật ước Anh-Pháp gọi là Sykes-Picoty - có sự đồng ý của Đế quốc Nga - đã chuẩn bị thực đơn sáu món về lãnh thổ của Đế quốc Ottoman: sau khi đánh gục Ottoman thì chia xứ này thành nhiều mảnh! Sau Thế chiến I, riêng tại khu vực Levant, Anh và Pháp cắt nhỏ tỉnh Syria rồi gom lại thành nhiều nước được ban cho các thị tộc đã yểm trợ họ trong Thế chiến.

Thuộc quyền giám hộ của Pháp, phía Bắc tỉnh Syria được cắt riêng thành nước Syria. Nhưng Pháp xắn một phần của Syria thưởng cho hệ phái Thiên chúa giáo Maronite lập ra nước Liban hay Lebanon, là tên một rặng núi. Quốc gia Lebanon thành hình mà thật ra chưa có quốc dân thống nhất, còn Syria coi Lebanon là phần đất của mình, nơi mình có quyền can thiệp và khai thác.

Quản lý phía Nam tỉnh Syria cũ, Anh trao quyền lãnh đạo cho dòng Hashemite trên cả khu vực Levant và Bán đảo Á Rập. Khi dòng Saudi chiếm phân nửa và lập ra xứ Saudi Arabia từ giữa năm 1920, Anh tưởng thưởng dòng Hashemite phần còn lại của bán đảo Á Rập để lập ra Vương quốc Trans-Jordan, là nước Jordan này nay, và vùng đất sau này sẽ là cường quốc Iraq.

Trong cả khu vực, một deo đất hẹp nằm tại miền Nam núi Hermon và Tây ngạn sông Jordan đã là một huyện của tỉnh Syria, xưa kia là đất "Filistia" do tên của dân Philistine mà người ta có thể đọc thấy trong Thánh Kinh. Hai nước Anh và Pháp lấy lại tên cũ mà gọi đó là đất Palestine.

Chưa hết nhức đầu.

Khu vực Levant này là của dân Á Rập, thuộc thị tộc này hay hệ phái kia, nhưng đều theo Hồi giáo, không thuộc sắc tộc Ba Tư như Iran hay Thổ như Turkey. Tuy vậy, mẫu số chung là "Á Rập Hồi giáo" chưa kết tinh thành một cộng đồng quốc gia như ta hiểu ngày nay mà vẫn có những dị biệt và tranh chấp về thị tộc và hệ phái tôn giáo lẫn thể chế chính trị, là thế quyền hay thần quyền, quân chủ hay "dân chủ", v.v....

Khi các thị tộc lớn của dân Á Rập đều được trao đất thành lập ra các quốc gia, dân Á Rập trên đất Palestine bị bỏ quên. Họ bị các quốc gia Á Rập kia bỏ rơi, nghi ngờ và xua đuổi, chẳng khác gì dân Do Thái cũng lần mò về đó sinh sống!

Xứ Syria coi đất Palestine y như Lebanon và Jordan: thuộc chủ quyền của mình mà bị Âu Châu xén mất. Còn dân Palestine thì chỉ là thần dân của Syria. Nói đến một quốc gia độc lập cho dân Palestine là có sự phản đối của Syria!

Dòng Hashemite ngự trên đất lạ là Jordan thì cũng coi đất Palestine này là của mình. Thực tế thì Vương quốc Jordan đã chiếm Tây ngạn sông Jordan, sau này cứ được gọi tắt là West Bank, và phía Đông của Thánh địa Jerusalem, là hai vùng ngụ cư của dân Palestinevì Israel chiếm cứ từ 1967.

Thật ra, xứ Jordan không muốn Palestine biến thành một quốc gia, đã hai lần từ chối việc đó vào năm 1948 và 1967 và một lần tàn sát dân Palestine sống tại Jordan, đẩy họ qua xứ Lebanon (năm 1970). Nỗi lo của dòng Hashemite là dân Palestine từ hướng Tây dạt qua sẽ sinh con đẻ cái tại Jordan và có ngày đảo chính vương quyền, là điều đã xảy ra mà không thành, thành tích của Yasser Arafat và tổ chức PLO!

Cách đất Palestine một sa mạc Sinai, xứ Ai Cập cũng không yên tâm với dân Palestine vì cho rằng đất Palestine này là một phần lãnh thổ của "Cộng hoà Á Rập Thống nhất", do Ai Cập lập ra với Syria! Rất kỵ quốc gia Israel từ ngày thành lập vào năm 1948, Ai Cập lại trông cậy vào dân Do Thái và Chính quyền Israel để Palestine không thể trở thành một quốc gia độc lập.

Nhưng ngần ấy quốc gia đều khích lệ tinh thần độc lập của dân Paalestine để phát huy sức mạnh Á Rập Hồi giáo chống lại một "kẻ thù chung" mà rất được việc. Là dân Do Thái và xứ Israel!

Ngay sau ngày lập quốc thời 1948, dân Do Thái tại chỗ đã đón nhận di dân và đồng bào của họ để củng cố quốc gia Israel. Trong khi đó, cũng từ ngày ấy, dân Palestine bị đồng bào Á Rập của họ tại các nước lân bang xua đuổi, và chỉ được gom vào hai tụ điểm là Tây ngạn Jordan và Dải Gaza, để ca bài hát chống Do Thái.

Sự thâm hiểm của Anh và Pháp từ 1916 đến 1967 chỉ thua kém sự gian ác của các nước Á Rập chung quanh từ 1967 cho đến nay! Không nhìn ra điều ấy mà cứ phê phán chuyện Palestine thì khó hiểu ra nỗi khó của Hoa Kỳ!

***

Bây giờ đến chuyện xứ Israel của người Do Thái.

Đa số truyền thông Mỹ và cả thế giới cứ nói đến nhóm vận động Do Thái ("Jewish Lobby") trong chính trường Hoa Kỳ. Họ ít đọc lại lịch sử và quên mất địa dư của khu vực Levant.

Trên đà sụp đổ của Đế quốc Ottoman, Đế quốc Anh thời đó muốn kiểm soát khu vực Levant và vì vậy mới cùng Pháp chia nhau xả thịt tỉnh Syria thành từng mảnh như đã nói ở trên. Qua Thế chiến II, có hai đại cường khác cũng ngó vào vùng đất trung chuyển giữa Âu và Á, Tây và Đông, đó là Liên Xô và Hoa Kỳ. Vì vậy, song song cùng tranh chấp và đấu lực tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, hai nước lãnh đạo Chiến tranh lạnh cùng ngó vào đất Levant của Đế quốc Anh đang suy tàn, và Thực dân Pháp đã hết thời.

Chính là hai xứ này đã gây sức ép với Anh và vận động sự thành lập của quốc gia Israel. Chủ nghĩa Zionism và tinh thần độc lập của dân Do Thái đã khôn khéo khai thác chiều hướng này. Đây là chuyện khác, sẽ tìm hiểu trong dịp khác.

Liên Xô ủng hộ sự thành lập quốc gia Do Thái với dân định cư có cùng... ý thức hệ. Đa số di dân Do Thái bước vào đất Israel là đến từ Nga, với quan niệm xây dựng nông trại theo kiểu "đồn điền" - vừa sản xuất vừa chiến đấu - và phát huy mô thức "công xã" của Liên Xô. Nhìn lại thì người dân lập ra quốc gia Israel thì đến từ Nga, tiền bạc do dân Do Thái tại Mỹ chung góp một phần! Sau này, Israel mới là mảnh đất của dân Do Thái đến từ tứ xứ.

Nhớ lại thì từ năm 1948 cho đến 1967, Israel là một nước thân Xô viết, chống Mỹ, được Pháp yểm trợ và gây khá nhiều vấn đề cho Hoa Kỳ. Vụ khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 là một nhắc nhở. Sau năm 1967, Hoa Kỳ mới đảo ngược quyết định, khi Israel mất chỗ tựa vào nước Pháp và tách dần khỏi ảnh hưởng Xô viết.

Trong 54 năm liền, ảnh hưởng rất lớn của dân Do Thái tại Mỹ chưa từng khiến nước Mỹ lấy những quyết định có lợi cho Israel mà có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ - là định nghĩa của "chi phối". Dân Do Thái cũng không có khả năng chìm hay nổi để chọn người lên lãnh đạo nước Mỹ, tiến trình tuyển cử và bầu bán quá phức tạp của một xứ quá đa diện như Hoa Kỳ hoàn toàn vượt qua khả năng của các phù thủy Do Thái.

Và ngày nay, đa số dân Do Thái, từ tài phiệt đến trí thức và nghệ sĩ cùng các hiệp hội của họ tại Mỹ dồn tiền ủng hộ đảng Dân Chủ và có lập trường khá nghiêm khắc với Chính quyền Israel. Chỉ có một thiểu số là dồn phiếu bên Cộng Hoà để bảo vệ Israel.

***

Ở tại chỗ, Israel có khả năng tự vệ chống lại mọi cuộc xâm lược của các lân bang, nhờ địa dư hình thể và thực lực của các lân bang này.

Muốn tấn công Do Thái từ hai ngả Đông Tây thì phải vượt qua sa mạc Negev và sa mạc Sinai, là điều bất khả cho cả Jordan và Ai Cập. Hai xứ này đã trả giá cho việc thử nghiệm đó. Muốn tấn công từ mạn Bắc, Syria không thể vượt qua núi mà chỉ còn khoảng trống vài chục cây số,từ Cao nguyên Golan tới biển Galilee, và sẽ bị du kích Israel cho phơi thây trên sông Jordan. Còn lại chỉ có xứ Lebanon phía Bắc - và lực lượng Hezbollah ở phía Nam Lebanon - có thể vượt sông Litani và pháo kích vào lãnh thổ Israel. Nhưng khu vực này là vùng buôn bán cần thiết cho Lebanon với các nước Địa Trung hải và Lebanon không dại gì hy sinh sự phồn thịnh của mình để vẽ lại bản đồ Israel cho dân Palestine!

Trừ phi có sự xúi giục của một cường quốc ở xa là Iran, qua trung gian của lực lượng Hezbollah và xứ Syria...

Bên trong, người Do Thái miền duyên hải và miền Bắc thì giỏi buôn bán và có tinh thần hiếu hòa hơn là dân Do Thái ở phía Đông, vốn dĩ thường xuyên ứng chiến từ thời lập quốc 1948. Phe "diều hâu" Do Thái ở phía Đông cũng cần đất sống và hàng rào phòng ngự nên lấn dần vào Tây ngạn sông Jordan là nơi sinh hoạt của dân Palestine do Israel kiểm soát từ năm 1967 sau khi chiếm của Jordan. Còn lại, dân Palestine chỉ có deo đất hẹp ở hướng Tây Nam là Dải Gaza, nay thuộc quyền kiểm soát của lực lượng Hamas, nổi tiếng với phương pháp khủng bố và chủ trương tiêu diệt quốc gia Israel.

Về mặt phòng thủ, Israel có đủ sức tự vệ trước áp lực của các nước Á Rập vây quanh, nhưng không thể cưỡng lại áp lực của các đại cường ở xa, như Hoa Kỳ hay Liên Xô. Chuyện gần là tự vệ thì Chính quyền Tel Aviv còn giải quyết được bằng quân sự, chứ chuyện đối phó với các đại cường ở xa thì phải dùng phương pháp ngoại giao.

Ngoại giao để từ chối lui về biên cương 1967 tức là ra khỏi Tây ngạn sông Jordan, là điều Thủ tướng Netanyahu nói thẳng tại cuộc họp báo với Tổng thống Obama trưa Thứ Sáu 20. Lui về đó là hết đất phòng thủ trước một số khuynh hướng Palestine cực đoan chỉ muốn tiêu diệt xứ Israel. Ngoại giao để cho thấy dân Palestine ở Tây ngạn sông Jordan chỉ có tương lai và sinh hoạt kinh tế nếu hợp tác với Israel và được Chính quyền Tel Aviv yểm trợ. Ngoại giao để chứng minh rằng khu thị trấn trên Dải Gaza không có tương lai kinh tế và dân cư cũng chẳng có thể ra khỏi khu vực này để kiếm ăn nơi khác nếu tiếp tục ủng hộ lực lượng Hamas.

Nhìn như vậy thì việc thành lập một quốc gia Palestine, như Tổng thống Obama chủ trương, là điều nan giải trong thực tế. Như đã nói ở trên, các nước Á Rập chung quanh không thật lòng với viễn ảnh đó.

Còn lại, một quốc gia Palestine với hai mảnh Gaza và West Bank thì sẽ có hai đầu và có ngày chia hai như Pakistan và Bangladesh năm 1971. Khu vực Gaza là những thị trấn chật chội thiếu tài nguyên trừ nhân lực nheo nhóc sẽ không có kinh tế mà chỉ có cứu trợ. Khu vực West Bank thì có hy vọng hơn, nhưng còn tùy vào nguồn nhân lực là di dân từ Gaza đi qua, dưới sự kiểm soát của Israel. Nếu lãnh đạo Palestine có thiện chí và thống nhất chủ trương hiếu hòa để sống chung thì may ra giải pháp quốc gia Palestine tại West Bank còn có thể thành hình, với sự yểm trợ, nuôi dưỡng và kiểm soát của Israel.

Nhưng, chưa tiến tới thống nhất ý kiến trong hai nhóm Palestine - ôn hoà theo Fatah tại Tây ngạn và cực đoan theo Hamas tại Dải Gaza - mà đã nói đến việc thương thuyết. Và chưa thương thuyết mà đã đòi Israel phải trở về vị trí của năm 1967 thì cũng tựa như đòi xứ Israel tự sát.

Nhẹ nhất, nếu là một chiến thuật thương thảo do Hoa Kỳ đề nghị thì chiến thuật này sẽ thất bại vì chỉ khuyến khích xu hướng cực đoan của dân Palestine là đòi Israe, nhượng bộ thêm.

Kết luận ở đây là dân Palestine chính là nạn nhân của các nước Á Rập Hồi giáo và hy vọng của họ lại nằm trong tay kẻ thù, là chính quyền Israel của dân Do Thái. Cứu tinh của họ, có thể làm Israel bị khuất phục chính là Hoa Kỳ.

Nhưng giả thuyết ấy mà xảy ra, Israel sẽ không tự sát và toàn khu vực Levant sẽ thành biển lửa!

Ý kiến bạn đọc
22/05/201119:49:14
Khách
Kính ông Ng. X. Nghĩa, tất cả những bài viết của ông điều có giá trị, ông viết có chứng minh, tài liệu đâu ra đó và nâng cao kiến thức cho người đọc. Nếu người Việt hải ngoại có được nhiều cây viết giống như ông, như Ngô N. Dụng thì thật là may mắn. Cầu chúc ông mạnh khỏe để người Việt được hưởng được nhiều phúc lợi tinh thần.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.