Hôm nay,  

Bi Kịch Palestine

21/05/201100:00:00(Xem: 10625)

Bi Kịch Palestine

Nguyễn Xuân Nghĩa 

Những mộng ước bất khả trong một thảm kịch lớn... 

Sau bài diễn văn hôm 19 về đối sách của Hoa Kỳ trong khu vực Á Rập Hồi giáo, và vụ đụng độ nháng lửa hôm sau với Thủ tướng Israel là Binyamin Netanyahu, Tổng thống Barack Obama chuẩn bị qua Âu Châu trong năm ngày công du, từ 23 đến 27, để giải quyết nhiều vấn đề của Âu Châu và mối quan hệ với Liên bang Nga. Chuyện Âu Châu, tuần sau ta sẽ tính.

Kỳ này, xin tìm hiểu về dự kiến của Tổng thống Mỹ tại khu vực Á Rập, nhất là một hồ sơ nan giải trong khu vực có tên là "Levant", miền Đông của Địa Trung hải. Với Âu Châu và Pháp - tác giả của chữ này tư thời Trung Cổ - đó là nơi mặt trời mọc, là bậc thềm tiến về Châu Á.

Quan trọng nhất, đó là đất sống của dân Do Thái từ thời Thượng cổ và ngày nay là vùng tranh chấp của xứ Israel với dân Palestine.

Trong bài diễn văn dài 45 phút hướng về dư luận bên ngoài, Tổng thống Obama trình bày niềm tin của mình về một trào lưu dân chủ tất yếu trong thế giới Á Rập, mà Hoa Kỳ có nhiệm vụ yểm trợ. Bỏ bên ngoài những lý do chính trị nội bộ, quan điểm của ông thật ra không khác với chủ trương của vị tiền nhiệm George W. Bush và lý luận của cánh "tân bảo thủ": Hoa Kỳ phải phát huy dân chủ để có hòa bình khi người dân xứ khác được tự do. Và ông tin rằng những biến động từ gần sáu tháng nay trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông là biểu hiện của trào lưu dân chủ.

Người ta có quyền đồng ý hay không về cách nhận định và diễn giải - narrative - của ông về biến cố này. Nhưng khi giàng hồ sơ Palestine vào kịch bản dân chủ hóa, có khi Tổng thống Mỹ lại gặp hậu quả bất lường và rủi ro lớn.

Vì hồ sơ này quá phức tạp, chúng ta cần nhìn ra bối cảnh và các yếu tố loạn hay trị tiềm ẩn bên trong.

***

Thứ nhất, xin nói về định nghĩa.

Chúng ta có dân tộc Do Thái - người Jews - hậu thân của người Do Thái cổ - Hebrew - và ngày nay có quốc gia Israel của dân Do Thái. Từ thời Thượng cổ và trong Thánh Kinh, dân Do Thái đã sinh sống, bành trướng, chiến đấu và bị đầy đọa nhiều lần trong khu vực này. Sau mấy ngàn năm như vậy và cho tới thế kỷ XX, dân Do Thái phát triển một bản năng sinh tồn rất mạnh khiến nhiều người khâm phục mà cũng làm nhiều người nghi ngại, thù ghét.

Còn lại, dân Á Rập trên đất Palestine - gọi là dân Palestinian - thì xin giải thích sau vì liên quan tới địa dư và lịch sử là chuyện kế tiếp.

Về địa dư, khu vực Levant, ngày nay cũng được gọi là "Trung Đông", nằm từ ven biển hướng Đông của Địa Trung hải vào tới lưu vực sông Jordan và đồi núi vây quanh. Phía Bắc có xứ Lebanon và Syria, phía Đông có sa mạc Syria của Bán đảo Á Rập, phía Tây Nam là sa mạc của Bán đảo Sinai thuộc xứ Ai Cập. Đây là khu vực bao trùm hay tiếp cận với các quốc gia là Lebanon, Syria, Jordan, Israel và Ai Cập, Egypt.

Thứ ba, xin nói về lịch sử, với hai dấu mốc là hai cuộc Thế chiến của thế kỷ XX.

Trong bốn thế kỷ từ 1517 đến 1919, khu vực Levant là một tỉnh của Đế quốc Hồi giáo Ottoman, gọi là tỉnh Syria. Khi Đế quốc Ottoman liên kết với nước Đức trong Thế chiến I và năm 1919 tan rã cùng sự bại trận của Đức, khu vực Levant rơi vào vòng kiểm soát - chia chác - của hai cường quốc "chiến thắng" tại Âu Châu là Anh và Pháp. Chuyện ấy gieo mầm cho những tai họa ở đây, khi họ trao cho các thị tộc thiểu số quyền cai trị trên từng vùng đất được gọi là "quốc gia" theo quan điểm của Âu Châu, trên những lãnh thổ chưa có quốc dân.

Bây giờ gom lại cả tấm bản đồ và cuốn lịch, ta có thảm kịch Palestine.

Từ năm 1916, mật ước Anh-Pháp gọi là Sykes-Picoty - có sự đồng ý của Đế quốc Nga - đã chuẩn bị thực đơn sáu món về lãnh thổ của Đế quốc Ottoman: sau khi đánh gục Ottoman thì chia xứ này thành nhiều mảnh! Sau Thế chiến I, riêng tại khu vực Levant, Anh và Pháp cắt nhỏ tỉnh Syria rồi gom lại thành nhiều nước được ban cho các thị tộc đã yểm trợ họ trong Thế chiến.

Thuộc quyền giám hộ của Pháp, phía Bắc tỉnh Syria được cắt riêng thành nước Syria. Nhưng Pháp xắn một phần của Syria thưởng cho hệ phái Thiên chúa giáo Maronite lập ra nước Liban hay Lebanon, là tên một rặng núi. Quốc gia Lebanon thành hình mà thật ra chưa có quốc dân thống nhất, còn Syria coi Lebanon là phần đất của mình, nơi mình có quyền can thiệp và khai thác.

Quản lý phía Nam tỉnh Syria cũ, Anh trao quyền lãnh đạo cho dòng Hashemite trên cả khu vực Levant và Bán đảo Á Rập. Khi dòng Saudi chiếm phân nửa và lập ra xứ Saudi Arabia từ giữa năm 1920, Anh tưởng thưởng dòng Hashemite phần còn lại của bán đảo Á Rập để lập ra Vương quốc Trans-Jordan, là nước Jordan này nay, và vùng đất sau này sẽ là cường quốc Iraq.

Trong cả khu vực, một deo đất hẹp nằm tại miền Nam núi Hermon và Tây ngạn sông Jordan đã là một huyện của tỉnh Syria, xưa kia là đất "Filistia" do tên của dân Philistine mà người ta có thể đọc thấy trong Thánh Kinh. Hai nước Anh và Pháp lấy lại tên cũ mà gọi đó là đất Palestine.

Chưa hết nhức đầu.

Khu vực Levant này là của dân Á Rập, thuộc thị tộc này hay hệ phái kia, nhưng đều theo Hồi giáo, không thuộc sắc tộc Ba Tư như Iran hay Thổ như Turkey. Tuy vậy, mẫu số chung là "Á Rập Hồi giáo" chưa kết tinh thành một cộng đồng quốc gia như ta hiểu ngày nay mà vẫn có những dị biệt và tranh chấp về thị tộc và hệ phái tôn giáo lẫn thể chế chính trị, là thế quyền hay thần quyền, quân chủ hay "dân chủ", v.v....

Khi các thị tộc lớn của dân Á Rập đều được trao đất thành lập ra các quốc gia, dân Á Rập trên đất Palestine bị bỏ quên. Họ bị các quốc gia Á Rập kia bỏ rơi, nghi ngờ và xua đuổi, chẳng khác gì dân Do Thái cũng lần mò về đó sinh sống!

Xứ Syria coi đất Palestine y như Lebanon và Jordan: thuộc chủ quyền của mình mà bị Âu Châu xén mất. Còn dân Palestine thì chỉ là thần dân của Syria. Nói đến một quốc gia độc lập cho dân Palestine là có sự phản đối của Syria!

Dòng Hashemite ngự trên đất lạ là Jordan thì cũng coi đất Palestine này là của mình. Thực tế thì Vương quốc Jordan đã chiếm Tây ngạn sông Jordan, sau này cứ được gọi tắt là West Bank, và phía Đông của Thánh địa Jerusalem, là hai vùng ngụ cư của dân Palestinevì Israel chiếm cứ từ 1967.

Thật ra, xứ Jordan không muốn Palestine biến thành một quốc gia, đã hai lần từ chối việc đó vào năm 1948 và 1967 và một lần tàn sát dân Palestine sống tại Jordan, đẩy họ qua xứ Lebanon (năm 1970). Nỗi lo của dòng Hashemite là dân Palestine từ hướng Tây dạt qua sẽ sinh con đẻ cái tại Jordan và có ngày đảo chính vương quyền, là điều đã xảy ra mà không thành, thành tích của Yasser Arafat và tổ chức PLO!

Cách đất Palestine một sa mạc Sinai, xứ Ai Cập cũng không yên tâm với dân Palestine vì cho rằng đất Palestine này là một phần lãnh thổ của "Cộng hoà Á Rập Thống nhất", do Ai Cập lập ra với Syria! Rất kỵ quốc gia Israel từ ngày thành lập vào năm 1948, Ai Cập lại trông cậy vào dân Do Thái và Chính quyền Israel để Palestine không thể trở thành một quốc gia độc lập.

Nhưng ngần ấy quốc gia đều khích lệ tinh thần độc lập của dân Paalestine để phát huy sức mạnh Á Rập Hồi giáo chống lại một "kẻ thù chung" mà rất được việc. Là dân Do Thái và xứ Israel!

Ngay sau ngày lập quốc thời 1948, dân Do Thái tại chỗ đã đón nhận di dân và đồng bào của họ để củng cố quốc gia Israel. Trong khi đó, cũng từ ngày ấy, dân Palestine bị đồng bào Á Rập của họ tại các nước lân bang xua đuổi, và chỉ được gom vào hai tụ điểm là Tây ngạn Jordan và Dải Gaza, để ca bài hát chống Do Thái.

Sự thâm hiểm của Anh và Pháp từ 1916 đến 1967 chỉ thua kém sự gian ác của các nước Á Rập chung quanh từ 1967 cho đến nay! Không nhìn ra điều ấy mà cứ phê phán chuyện Palestine thì khó hiểu ra nỗi khó của Hoa Kỳ!

***

Bây giờ đến chuyện xứ Israel của người Do Thái.

Đa số truyền thông Mỹ và cả thế giới cứ nói đến nhóm vận động Do Thái ("Jewish Lobby") trong chính trường Hoa Kỳ. Họ ít đọc lại lịch sử và quên mất địa dư của khu vực Levant.

Trên đà sụp đổ của Đế quốc Ottoman, Đế quốc Anh thời đó muốn kiểm soát khu vực Levant và vì vậy mới cùng Pháp chia nhau xả thịt tỉnh Syria thành từng mảnh như đã nói ở trên. Qua Thế chiến II, có hai đại cường khác cũng ngó vào vùng đất trung chuyển giữa Âu và Á, Tây và Đông, đó là Liên Xô và Hoa Kỳ. Vì vậy, song song cùng tranh chấp và đấu lực tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, hai nước lãnh đạo Chiến tranh lạnh cùng ngó vào đất Levant của Đế quốc Anh đang suy tàn, và Thực dân Pháp đã hết thời.

Chính là hai xứ này đã gây sức ép với Anh và vận động sự thành lập của quốc gia Israel. Chủ nghĩa Zionism và tinh thần độc lập của dân Do Thái đã khôn khéo khai thác chiều hướng này. Đây là chuyện khác, sẽ tìm hiểu trong dịp khác.

Liên Xô ủng hộ sự thành lập quốc gia Do Thái với dân định cư có cùng... ý thức hệ. Đa số di dân Do Thái bước vào đất Israel là đến từ Nga, với quan niệm xây dựng nông trại theo kiểu "đồn điền" - vừa sản xuất vừa chiến đấu - và phát huy mô thức "công xã" của Liên Xô. Nhìn lại thì người dân lập ra quốc gia Israel thì đến từ Nga, tiền bạc do dân Do Thái tại Mỹ chung góp một phần! Sau này, Israel mới là mảnh đất của dân Do Thái đến từ tứ xứ.

Nhớ lại thì từ năm 1948 cho đến 1967, Israel là một nước thân Xô viết, chống Mỹ, được Pháp yểm trợ và gây khá nhiều vấn đề cho Hoa Kỳ. Vụ khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 là một nhắc nhở. Sau năm 1967, Hoa Kỳ mới đảo ngược quyết định, khi Israel mất chỗ tựa vào nước Pháp và tách dần khỏi ảnh hưởng Xô viết.

Trong 54 năm liền, ảnh hưởng rất lớn của dân Do Thái tại Mỹ chưa từng khiến nước Mỹ lấy những quyết định có lợi cho Israel mà có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ - là định nghĩa của "chi phối". Dân Do Thái cũng không có khả năng chìm hay nổi để chọn người lên lãnh đạo nước Mỹ, tiến trình tuyển cử và bầu bán quá phức tạp của một xứ quá đa diện như Hoa Kỳ hoàn toàn vượt qua khả năng của các phù thủy Do Thái.

Và ngày nay, đa số dân Do Thái, từ tài phiệt đến trí thức và nghệ sĩ cùng các hiệp hội của họ tại Mỹ dồn tiền ủng hộ đảng Dân Chủ và có lập trường khá nghiêm khắc với Chính quyền Israel. Chỉ có một thiểu số là dồn phiếu bên Cộng Hoà để bảo vệ Israel.

***

Ở tại chỗ, Israel có khả năng tự vệ chống lại mọi cuộc xâm lược của các lân bang, nhờ địa dư hình thể và thực lực của các lân bang này.

Muốn tấn công Do Thái từ hai ngả Đông Tây thì phải vượt qua sa mạc Negev và sa mạc Sinai, là điều bất khả cho cả Jordan và Ai Cập. Hai xứ này đã trả giá cho việc thử nghiệm đó. Muốn tấn công từ mạn Bắc, Syria không thể vượt qua núi mà chỉ còn khoảng trống vài chục cây số,từ Cao nguyên Golan tới biển Galilee, và sẽ bị du kích Israel cho phơi thây trên sông Jordan. Còn lại chỉ có xứ Lebanon phía Bắc - và lực lượng Hezbollah ở phía Nam Lebanon - có thể vượt sông Litani và pháo kích vào lãnh thổ Israel. Nhưng khu vực này là vùng buôn bán cần thiết cho Lebanon với các nước Địa Trung hải và Lebanon không dại gì hy sinh sự phồn thịnh của mình để vẽ lại bản đồ Israel cho dân Palestine!

Trừ phi có sự xúi giục của một cường quốc ở xa là Iran, qua trung gian của lực lượng Hezbollah và xứ Syria...

Bên trong, người Do Thái miền duyên hải và miền Bắc thì giỏi buôn bán và có tinh thần hiếu hòa hơn là dân Do Thái ở phía Đông, vốn dĩ thường xuyên ứng chiến từ thời lập quốc 1948. Phe "diều hâu" Do Thái ở phía Đông cũng cần đất sống và hàng rào phòng ngự nên lấn dần vào Tây ngạn sông Jordan là nơi sinh hoạt của dân Palestine do Israel kiểm soát từ năm 1967 sau khi chiếm của Jordan. Còn lại, dân Palestine chỉ có deo đất hẹp ở hướng Tây Nam là Dải Gaza, nay thuộc quyền kiểm soát của lực lượng Hamas, nổi tiếng với phương pháp khủng bố và chủ trương tiêu diệt quốc gia Israel.

Về mặt phòng thủ, Israel có đủ sức tự vệ trước áp lực của các nước Á Rập vây quanh, nhưng không thể cưỡng lại áp lực của các đại cường ở xa, như Hoa Kỳ hay Liên Xô. Chuyện gần là tự vệ thì Chính quyền Tel Aviv còn giải quyết được bằng quân sự, chứ chuyện đối phó với các đại cường ở xa thì phải dùng phương pháp ngoại giao.

Ngoại giao để từ chối lui về biên cương 1967 tức là ra khỏi Tây ngạn sông Jordan, là điều Thủ tướng Netanyahu nói thẳng tại cuộc họp báo với Tổng thống Obama trưa Thứ Sáu 20. Lui về đó là hết đất phòng thủ trước một số khuynh hướng Palestine cực đoan chỉ muốn tiêu diệt xứ Israel. Ngoại giao để cho thấy dân Palestine ở Tây ngạn sông Jordan chỉ có tương lai và sinh hoạt kinh tế nếu hợp tác với Israel và được Chính quyền Tel Aviv yểm trợ. Ngoại giao để chứng minh rằng khu thị trấn trên Dải Gaza không có tương lai kinh tế và dân cư cũng chẳng có thể ra khỏi khu vực này để kiếm ăn nơi khác nếu tiếp tục ủng hộ lực lượng Hamas.

Nhìn như vậy thì việc thành lập một quốc gia Palestine, như Tổng thống Obama chủ trương, là điều nan giải trong thực tế. Như đã nói ở trên, các nước Á Rập chung quanh không thật lòng với viễn ảnh đó.

Còn lại, một quốc gia Palestine với hai mảnh Gaza và West Bank thì sẽ có hai đầu và có ngày chia hai như Pakistan và Bangladesh năm 1971. Khu vực Gaza là những thị trấn chật chội thiếu tài nguyên trừ nhân lực nheo nhóc sẽ không có kinh tế mà chỉ có cứu trợ. Khu vực West Bank thì có hy vọng hơn, nhưng còn tùy vào nguồn nhân lực là di dân từ Gaza đi qua, dưới sự kiểm soát của Israel. Nếu lãnh đạo Palestine có thiện chí và thống nhất chủ trương hiếu hòa để sống chung thì may ra giải pháp quốc gia Palestine tại West Bank còn có thể thành hình, với sự yểm trợ, nuôi dưỡng và kiểm soát của Israel.

Nhưng, chưa tiến tới thống nhất ý kiến trong hai nhóm Palestine - ôn hoà theo Fatah tại Tây ngạn và cực đoan theo Hamas tại Dải Gaza - mà đã nói đến việc thương thuyết. Và chưa thương thuyết mà đã đòi Israel phải trở về vị trí của năm 1967 thì cũng tựa như đòi xứ Israel tự sát.

Nhẹ nhất, nếu là một chiến thuật thương thảo do Hoa Kỳ đề nghị thì chiến thuật này sẽ thất bại vì chỉ khuyến khích xu hướng cực đoan của dân Palestine là đòi Israe, nhượng bộ thêm.

Kết luận ở đây là dân Palestine chính là nạn nhân của các nước Á Rập Hồi giáo và hy vọng của họ lại nằm trong tay kẻ thù, là chính quyền Israel của dân Do Thái. Cứu tinh của họ, có thể làm Israel bị khuất phục chính là Hoa Kỳ.

Nhưng giả thuyết ấy mà xảy ra, Israel sẽ không tự sát và toàn khu vực Levant sẽ thành biển lửa!

Ý kiến bạn đọc
22/05/201119:49:14
Khách
Kính ông Ng. X. Nghĩa, tất cả những bài viết của ông điều có giá trị, ông viết có chứng minh, tài liệu đâu ra đó và nâng cao kiến thức cho người đọc. Nếu người Việt hải ngoại có được nhiều cây viết giống như ông, như Ngô N. Dụng thì thật là may mắn. Cầu chúc ông mạnh khỏe để người Việt được hưởng được nhiều phúc lợi tinh thần.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Franklin D. Roosevelt (1882-1945), Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 32 và là vị tổng thống Mỹ duy nhất phục vụ hơn 2 nhiệm kỳ, đã từng nói rằng, “Tự do của nền dân chủ không an toàn nếu người dân dung túng sự gia tăng của quyền lực cá nhân tới mức trở thành mạnh hơn chính nhà nước dân chủ đó. Điều đó trong bản chất là chủ nghĩa phát xít: quyền sở hữu của chính phủ thuộc về một cá nhân, một nhóm người, hay bất cứ thế lực cá nhân nào đang kiểm soát.” Lời cảnh giác đó của TT Roosevelt quả thật đã trở thành lời tiên tri đang ứng nghiệm trong thời đại hiện nay của nước Mỹ. Tổng Thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu và gần 8 tháng của nhiệm kỳ hai đã thể hiện rõ ý chí và hành động của một nhà lãnh đạo muốn thâu tóm mọi quyền lực trong tay mình bất chấp những việc làm này có phá vỡ nền tảng tự do và dân chủ mà nước Mỹ đã nỗ lực không ngừng để tạo dựng và giữ gìn trong suốt hai trăm năm mươi năm qua hay không!
Từ lâu trong chính trị Mỹ vẫn tồn tại một quy tắc bất thành văn, khi thì nói lên to rõ “chúng ta tốt đẹp hơn như thế này,” hoặc có khi chỉ thì thầm, nhẹ nhàng, rằng đảng Dân Chủ không nên sa vào bùn lầy. Nhiều thập niên qua, “quy tắc” này đã định hình cả vận động tranh cử lẫn cách cầm quyền lãnh đạo. Tổng thống Barack Obama, bằng sự điềm tĩnh, được xem là bậc thầy về nghệ thuật này, ngay cả khi Donald Trump mở màn thuyết âm mưu “giấy khai sinh giả.” Tổng thống Joe Biden cũng vậy. Ông lèo lái đất nước sau đại dịch bằng chiến lược đặt niềm tin vào sự văn minh, đoàn kết, tin rằng lời kêu gọi phẩm giá có thể giữ thăng bằng cho con thuyền trong cơn chao đảo vì sóng dữ.
Trong nhiều tháng qua, các tài khoản chính thức của Bạch Ốc và Bộ Nội An trên mạng X liên tục tung ra hình ảnh và video (meme) dị hợm: từ ảnh ghép kèm âm thanh chế giễu, những đoạn đăng kiểu TikTok, cho đến tranh vẽ bằng trí tuệ nhân tạo. Đây không phải trò vui của vài nhân viên rảnh rỗi, mà là một chiến dịch có chủ ý, lặp đi lặp lại, như muốn răn: ai mới thực sự được coi là người Mỹ. Trang NPR ngày 18 tháng 8 nhận định: “Các tài khoản chính thức của chính quyền Trump đang khai thác đủ kiểu meme, hình ảnh AI với giọng điệu đầy thách thức trong các bài đăng trên mạng xã hội.”
Trước khi quay lại cùng cuộc họp song phương giữa Trump và Putin tại Alaska, hãy quay lại những cuộc họp giữa Donald Trump và lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un trong nhiệm kỳ đầu của Donald Trump. Lần đầu tiên, một đương kim tổng thống Hoa Kỳ đã hạ mình sang Châu Á đến ba lần, lần đầu tại Singapore, rồi Việt Nam và cuối cùng ngay tại khu phi quân sự giữa Nam-Bắc Hàn, để gặp và nâng cao vị thế một tay "Chí Phèo" cộng sản mặt sữa nhưng khét tiếng độc ác lên vị thế chính thức ngang hàng với Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế.
Trong căn phòng trắng, lổm chổm những mảng phù điêu mạ vàng trên trần nhà và tường, một người đàn ông mảnh khảnh, nhanh nhẹn bước ra giới thiệu trước ống kính báo chí món quà đặc biệt ông cố ý mang theo tặng Tổng thống Donald Trump. Đó là lần hiếm hoi CEO của hãng Apple, Tim Cook, xuất hiện trong trang phục sơ mi cà vạt vest đen. Ngay cả trong những lần ra mắt sản phẩm iPhone mới hàng năm, vốn được xem là sự kiện quan trọng bật nhất của Apple, người ta cũng không thấy Cook phải bó mình trong bộ lễ phục trịnh trọng như vậy. Tim Cook đã mang đến cho các tín đồ của trái táo một sự bất ngờ, giống như 15 năm trước, ông xuất hiện trên tạp chí Out ở vị trí đầu bảng xếp hạng Power 50, một danh sách xếp hạng những cá nhân đồng tính nam và đồng tính nữ có ảnh hưởng nhất vào thời điểm đó.
Trong những tháng qua, thảm họa đói của người Palestine ở dải Gaza đã làm thế giới rúng động. Tin tức về trẻ em Palestine bị bắn chết trong khi cố len lỏi tới rào sắt để nhận thức ăn viện trợ được truyền đi; nhiều người đặt câu hỏi về lương tri của những kẻ tổ chức “công tác nhân đạo” này (công ty Gaza Humanitarian Foundation do chính phủ Trump hậu thuẫn). UN ước tính có khoảng 1,400 người Palestine đã chết khi tìm cách nhận thực phẩm cứu trợ. Vào tháng 12 năm 2023, Nam Phi đã đệ đơn kiện Israel lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc quốc gia này phạm tội diệt chủng ở Gaza. Một số quốc gia khác tham gia hoặc bày tỏ sự ủng hộ đối với vụ kiện, bao gồm: Nicaragua, Bỉ, Colombia, Thổ Nhĩ Kỳ, Libya, Ai Cập, Maldives, Mexico, Ireland, Chile Palestine…
Trí nhớ của một cộng đồng không chỉ mất đi khi thời gian làm phai mờ, mà có khi có bàn tay cố tình tháo gỡ. Không cần nhiều bút mực, chỉ cần bỏ vài dòng, thay một chữ, hoặc xóa một đoạn – câu chuyện lập tức đổi nghĩa. Lịch sử hiện đại đã nhiều lần chứng kiến điều đó. Năm 1933, chính quyền Quốc xã Đức đốt sách giữa quảng trường, thay lại giáo trình, đặt viện bảo tàng và văn khố dưới quyền Bộ Tuyên Giám. Joseph Goebbels nói: “Chúng ta không muốn người dân sử dụng cái đầu. Chúng ta muốn họ hành xử theo cảm tính.” Tám thập niên sau, ở một góc khác của địa cầu, những bản thảo của Trương Vĩnh Ký – người khai sáng nền quốc ngữ Việt – bị loại khỏi thư viện vì bị gán là “tay sai thực dân”. Sau 1975, chính quyền cộng sản xét duyệt văn hóa trên toàn quốc: các tác phẩm học thuật bị cấm; bị đốt, tên tuổi các học giả và nhà văn miền Nam biến mất khỏi mọi tiến trình văn hóa. Tại Hoa Kỳ ngày nay, sự thật không bị đấu tố – nhưng bị biên tập lại.
Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn. Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.