Hôm nay,  

Sao lạc trên đồi Bạch Mã

15/11/201100:00:00(Xem: 9109)

Sao lạc trên đồi Bạch Mã

coi_xay_gio_france-large-content: Cối xay gió.

Trần Bình Nam

Hồi học trung học tại Huế tôi học ban toán. Thầy Khánh dạy Pháp văn mỗi tuần 2 giờ. Chương trình không có phần văn chương Pháp, nhưng ngoài việc dạy văn phạm, từ ngữ và cách đặt câu, thỉnh thoảng Thầy kể cho chúng tôi nghe về những nhà văn nổi tiếng trong văn chương cổ điển của Pháp. Tôi còn nhớ tên vài nhà văn Thầy nói đến như Balzac, Diderot, Guy de Maupassant, và Alphone Daudet…. Tôi nhớ Daudet nhất vì Thầy có kể cho chúng tôi nghe về tập chuyên “Lettres de mon Moulin” và câu chuyện Les Etoiles mà Thầy dịch là “Những vì sao”. Câu chuyện thật mê li với tuổi thơ của chúng tôi. Lớn lên, có cơ hội biết tiếng Pháp thì không có cơ hội đọc Les Etoiles. Câu chuyện vẫn còn là một ký ức đẹp.

Mãi đến tháng Mười (2011) vừa qua nhân dịp qua Paris thăm một người anh bà con bị bệnh, rảnh mấy ngày có người rủ đi thăm vùng Midi de Provence ở miền nam nước Pháp tôi đến thị trấn Fontveille cách thành phố Avignon 43 km thăm khu tàng cổ của Daudet và xem cái máy xay gió, cái máy xay đã hiến cho nhà văn Alphone Daudet khung cảnh sáng tác “Lettres de mon Moulin.” Tôi mua tại chỗ cuốn Lettres de mon Moulin, và lần này mới có dịp đọc Les Etoiles thầy Khánh kể năm xưa. Câu chuyện vẫn làm tôi mê say như khi lần đầu nghe Thầy Khánh kể 61 năm trước.

Sau đây là phóng tác câu chuyện dưới bầu trời núi Bạch Mã.

Xin cám ơn nhà văn Alphone Daudet. Xin cám ơn thầy Khánh.

--:o0o:--

Sao lạc trên đồi Bạch Mã

phóng tác theo “Les Etoiles” của Alphonse Daudet

Trần Bình Nam

Thời gian tôi giữ cừu trên đồi Bạch Mã, nhiều khi cả tháng tôi chưa trở về Cầu Hai, nơi ông bác họ tôi có một trại nuôi cừu. Tôi ở đó với con kiki, con chó lông đen mướt không bao giờ rời tôi nửa bước. Hằng tuần vào ngày Chủ Nhật bà Viên quản gia mang thức ăn lên cho tôi bằng con ngựa con của bác tôi. Thường là cơm nắm, gạo thơm, muối vừng, cá bống hay cá rô kho khô, một ít rau tươi. Rau tôi để dành trong một hốc đá nhỏ. Bạch Mã cao, khí trời lạnh rau để dành cả tuần không hư. Nhiều tuần bà Viên bận việc hay trở mình không lên được, người em gái của bả, cũng là người làm của bác tôi, khoảng tuổi tứ tuần mang thức ăn lên cho tôi.

Thỉnh thoảng có người đi săn chồn hay người leo núi lên thăm những ngôi nhà gạch cổ kính người Pháp để lại. Họ thấy tôi, tôi thấy họ như những linh hồn đơn độc thấy nhau không hề hỏi han. Vào tiết gần Tết những cuộc gặp gỡ im lặng nhưng ấm áp đó vắng dần. Chỉ còn đỉnh núi chập chùng, những chòm mây biến dạng theo gió, và các vì sao đêm thật sáng và kiki là bạn của tôi.

Mỗi sáng Chủ nhật khi nghe tiếng leng keng của mấy chiếc lục lạc bằng đồng thau nơi cổ ngựa báo hiệu thức ăn tiếp tế sắp tới tôi nhìn xuống chân đồi để nhận cho ra cái bóng nhỏ bé của bà Viên in trên nền trời. Đó là giây phút hạnh phúc nhất của tôi. Tôi hỏi bà Viên đủ chuyện dưới làng, đám cưới, ăn khẳm tháng…những cuộc hẹn hò của ai với ai tại ngôi chùa làng. Và nhất là hỏi về Lan, cô con gái rượu 14 tuổi mơn mởn của bác tôi. Tôi hỏi thăm - mà có ý xem như là tình cờ - Lan có khỏe không, có hay đi chùa không, có hay đi tập múa, và mấy cậu trai làng có hay đến nhà bác tôi chơi không…Năm đó tôi 20 tuổi, con nhà nghèo làm nghề giữ cừu thuê. Đối với tôi Lan là một thiếu nữ cao sang, tinh khiết đẹp nhất trong vùng Bạch Mã, Cầu Hai. Tôi chỉ có quyền tưởng tượng đủ chuyện thần tiên quanh nàng, và chỉ thế thôi. Nhìn nàng tôi không dám nhìn lâu sợ làm mất vẻ nét kiêu sa của Lan.

Một sáng Chủ nhật như thường lệ tôi chờ bà Viên mang thực phẩm tới. Đã trưa, tôi bảo thầm hôm nay chắc bà Viên ngủ dậy trễ. Sau đứng bóng trời trở cơn giông, tôi nghĩ đường lên núi trơn trượt bà Viên chắc chờ đường ráo mới lên đường. Khoảng 2 giờ chiều, cơn giông lắng xuống, bầu trời trở nên quang đảng, tôi nghe giữa tiếng róc rách của các khe nước tiếng lục lạc quen thuộc.

Nhưng kìa, không phải bà Viên, cũng chẳng phải em bà mà là Lan bằng xương bằng thịt. Đôi má hồng, nàng tươi tỉnh ngồi gọn gàng trên lưng chú ngựa con, nơi cổ treo lủng lẳng mấy giỏ thức ăn.

Tôi chưa kịp đỡ, Lan đã thoắt nhảy xuống lưng ngựa vừa cho tôi biết bà Viên bệnh, em bà về nhà thăm con, và nàng đến trễ vì lạc đường. Nhìn cách ăn mặc khá chải chuốt của Lan, chiếc quần Jean bó sát đôi chân thon nhỏ, áo len mỏng màu xanh nhạt phủ trên chiếc áo sơ mi màu trắng có kết tua nơi cổ, tôi nghĩ Lan đi học nhảy đầm với bạn bè về muộn hơn là lúng túng tìm con đường duy nhất đến trại cừu.

Hôm nay Lan thật đẹp, đẹp rạng rỡ. Tôi chưa bao giờ được nhìn nàng gần và nhìn thỏa thích như vậy. Mỗi năm khi trời trở lạnh, đỉnh Bách Mã bắt đầu có mưa đá tôi lùa cừu về trại của ông bác cho ấm hơn. Mỗi chiều tôi vào phòng ăn, thỉnh thoảng thấy cô chủ thóang qua nhưng cổ không hay chuyện trò với người ăn kẻ làm. Và bây giờ nàng mang thức ăn đến đây cho tôi, đang đứng trước mặt tôi làm tôi không điên đầu sao được.

Lấy thức ăn xuống xong, Lan kéo nhẹ đôi ống quần Jean để khỏi lấm và bước vào lều ngủ của tôi. Một chiếc giường gỗ dã chiến, một chiếc mền cũ, một cái gối vãi đã lên màu. Đầu tường là một cây đèn bão, một chiếc ná cao su bắn đá đuổi chim và vài cuốn trong bộ Tây Du.

Lan hỏi tôi với vẻ tinh nghịch : “Anh sống ở đây một mình như vậy sao" Buồn chết. Anh làm gì cho hết ngày giờ" Anh nghĩ gì"”

Tôi muốn trả lời : “Tôi nghĩ đến cô chủ xinh đẹp của tôi”, nhưng tôi không đủ can đảm.

Thấy tôi lúng túng, Lan nghiêng đầu để hở đôi hàm răng đều đặn trắng như ngà cười ngoặc nghẹo trêu tôi: “Thế chị Tâm xinh đẹp làm việc cho trại bên có hay đến thăm ông bạn của tôi không" Hay cô ta chỉ đến chân núi lem thèm cho anh khổ sở rồi biến mất"”

Nói xong Lan nhanh nhẹn cột mấy cái bao không vào cỗ ngựa, nhảy thót lên lưng ngựa. Lan vui vẻ: “Chào anh nghe, hẹn lần sau ”

“Chào cô chủ” Tôi trả lời

Tôi nhìn Lan xuống núi, xa dần cho đến khi không còn nghe tiếng chân ngựa. Nghe như các viên sỏi lăn theo bước chân ngựa từng viên, từng viên một đập vào tim tôi. Tôi ngồi xuống tảng đá bên cạnh không dám động mạnh thả hồn vào giấc mộng lung linh. Tôi ngồi đó cho đến khi chiều xuống, các con cừu gặm cỏ trở về chen chúc nhau vào chuồng.

Bỗng tôi nghe tiếng kêu dưới triền núi. Tôi thấy Lan tay dắt ngựa, bước lên núi một cách khó khăn, áo quần ướt mèm và run lập cập. Trên đường về nước suối Tiểu Mã chảy xiết, Lan cố kéo ngựa băng qua xuýt bị nước cuốn trôi Nàng còn hoảng hốt. Nhưng cái cảm nghĩ làm tôi sợ nhất là giờ này Lan không thể trở về nhà kịp. Ban đêm nàng không thể đi một mình. Còn tôi tôi không thể bỏ đàn cừu, một tài sản của bác tôi. Lan cũng lo sợ không kém. Ngoài nổi lo “đêm khuya thân gái”, Lan không biết bố mẹ nàng ở nhà làm sao đêm nay ngủ được…

Tôi trấn an Lan: “Cô chủ đừng lo. Tháng hè đêm ngắn. Chỉ một chốc là sáng thôi”. Tôi nhóm lửa hơ quần áo và mang một bát cháo nóng và mấy con cá bống kho mặn đến cho Lan . Lan không thiết ăn uống, nước mắt chảy quanh. Nhìn cô chủ tôi cũng chỉ muốn khóc theo.

Ánh nắng heo hắt sau cơn mưa leo dần lên đỉnh núi, trời tối dần. Tôi dọn phòng, thay tấm chăn mới giặt, thắp cây đèn bão vặn nhỏ ngọn và mời Lan nghỉ đêm. Tôi ra ngồi nơi chiếc ghế dài ban ngày tôi thưòng dùng ngồi coi chừng bầy cừu gặm cỏ hoặc nằm đọc sách. Đêm nay tôi ngủ ở đó.

Tình yêu sâu kín tôi dành cho Lan bùng dậy trong tôi. Nhưng không một ý vẫn đục nào đến với tôi. Tôi tự hào rằng đêm nay nơi chốn vắng vẻ này tôi được diễm phúc làm người vệ sĩ cho cô con gái cưng của bác tôi. Tôi cảm thấy không khí chứa nhiều dưỡng khí hơn. Và chưa bao giờ tôi thầy bầu trời xanh và các vì sao sáng như đêm nay... Bỗng một bàn tay vén bức màn ra vào của chiếc lều và khuôn mặt xinh đẹp của Lan hiện ra nơi khung cửa. Tiếng cừu kêu, tiếng động của chiếc giường gỗ khi cô trở mình và sự lo lắng làm cho Lan không ngủ được. Cô muốn ra ngoài gần bếp lửa cho ấm. Tôi lấy vội chiếc áo choàng đang mặc khoác vào vai Lan, châm thêm mấy cành khô vào bếp lửa và hai chúng tôi im lặng ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài…Nếu bạn đã có dịp ngủ dưới một bầu trời đầy sao đêm bạn sẽ cảm thấy một thế giới xôn xao chung quanh chúng ta khi chúng ta thả hồn vào giấc ngủ. Tiếng róc rách của suối lớn hơn, ánh sáng phản chiếu trên mặt các vũng nước sáng hơn, thần núi như bước ra khỏi vách núi nhảy múa vui mừng. Không khi hình như dao động tạo nên những chà xác thật nhẹ, các nhành cây đầy lá lớn nhanh như vội vàng vươn dài che phủ khoảng trống quanh mình, và cỏ dưới chận mọc nhanh như thổi. Nếu thế giới ban ngày là của sinh vật, thì thế giới ban đêm thuộc về vật vô tri. Khi chưa quen ngủ đêm ngoài trời, chúng ta cảm thấy sợ. Quen dần chúng ta thấy vũ trụ đẹp vô cùng.

Lim dim chìm dần vào giấc ngủ, Lan thấy sợ. Mỗi một tiếng động nhỏ làm Lan ép sát vào tôi tìm sự che chở . Bỗng một chiếc sao băng xẹt trên đầu hai chúng tôi cùng lúc với một tiếng kêu từ một nơi huyền bí nào đó ngân nhẹ trong không khí.

“Cái gì vậy” Lan thì thào hỏi tôi.

“Một linh hồn đang đi vào cõi Phật cô chủ ạ.” Tôi vừa trả lời vừa chắp tay cầu nguyện.

Lan hơi tỉnh người ngồi thẳng lại, bắt chước tôi chắp tay cầu nguyện, và hỏi tôi: “Các anh là phù thủy hay sao mà thấy được linh hồn"”

“Không, không cần phải là phù thủy. Sống gần với các vì sao, chúng tôi biết những điều mà những người sống ở đồng bằng không quan tâm.”

Lan ngồi thẳng người hơn nữa, đôi bàn tay ép vào hai má, ngẫng đầu cao hơn nhìn bầu trời.

“Kìa, biết bao nhiêu là sao. Đẹp qúa. Em chưa bao giờ thấy nhiều sao như vậy. Anh có biết tên các vì sao trên đó không"”

“Có, cô chủ. Tôi sẽ kể cho cô chủ nghe. Nhìn về phương Bắc, trên đầu chúng ta là một đám sao dày đặc làm thành một màn trăng trắng như một vệt sữa lớn là sông Ngân Hà. Giòng sông phân cách Ngưu Lang và Chức Nữ. Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện vua. Chức Nữ thì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận, đào sông Ngân Hà bắt Ngưu Lang sống bên bờ này, Chức Nữ bên bờ kia mỗi năm chỉ được gặp thăm nhau một lần. 

Thấp hơn là hai chòm sao mỗi chòm 7 cái sắp xếp giống hình một cái chảo có cán dài, một lớn, một nhỏ. Các nhà văn nhiều tưởng tượng đặt tên là đại hùng tinh - gấu anh - và tiểu hùng tinh -gấu em. Đầu cán chảo nhỏ là sao bắc đẩu, chỉ hướng chính bắc và bất động. Tất cả các chòm sao khác quay quanh sao bắc đẩu làm cho quang canh bầu trời ban đêm thay đổi một cách kỳ diệu. Cô chủ có thấy các vì sao nho nhỏ lóe sáng rồi biến mất không" Đó là những linh hồn có tội Ngọc Hoàng đày xuống cõi trần!

Thấp hơn một chút là chòm sao “người đi săn” các nhà đi biển gọi là chòm sao Orion. Orion rất cần cho những người sống trong núi. Nhìn nó đang ở đâu trên bầu trời có thể biết đêm đã vào canh mấy. Thí dụ, bây giờ tôi biết đã quá nửa đêm. Cô chủ có thấy 3 ngôi sao sáng ở giữa chòm Orion không" Đó là cái nịt của người thợ săn, và cũng là 3 chàng công tử Hà Đông. Dưới chút nữa là 3 ngôi sao ít sáng hơn tượng trưng cái kiếm cản đường. Kéo dài cái nịt về phía trái là sao Sirius, chàng công tử lười biếng. Trên cao hơn là các cô bé xí xọn trong chòm sao Pleiades. Những kẻ chăn cừu thường kể cho nhau nghe rằng. Một đêm không có trăng, một cô sao mời 4 chàng công tử và các cô bé đi dự một đám cưới. Các cô bé nhanh nhẫu vội vàng đi trước. Ba chàng công tử Hà đông đi sau nhưng không chậm chân lắm bắt kịp các cô bé xí xọn dễ dàng. Trong khi chàng Sirius ngủ quên cứ lẽo đẽo theo sau mãi không kịp. Bực mình chàng ta quẳng chiếc kiếm cản đường 3 chàng công tử Nhưng đối với kẻ chăn cừu đẹp nhất trên bầu trời là sao Hôm cũng là sao Mai. Long lanh sáng nhất, mỗi sáng nàng sao Mai dậy nhắc chúng tôi mở chuồng cho cừu. Chiều chiều khi mặt trời vừa khuất dưới chân trời nàng sao Hôm hiện ra nhắc chúng tôi lùa cừu về chuồng. Chúng tôi gọi nàng là Vệ Nữ, người tình trong mộng của kẻ chăn cừu. Nhưng nàng Vệ Nữ chê chúng tôi nghèo chạy theo chàng Saturne, trong khi chàng Saturne ơ hờ lẫn tránh. Ngọc Hoàng cảm thương mối tình thầm kín và lãng mạn của Vệ Nữ đã cho phép nàng cứ 7 năm gặp sao Saturne một lần làm lễ cưới linh đình rồi chia cách.

- Anh nói gì! Các vì sao cũng cưới nhau sao"

- Đúng vậy cô chủ.

Khi tôi đang say sưa nói cho Lan nghe về tình yêu, về thế nào là thầm yêu trộm nhớ, về cưới hỏi tôi cảm thấy một làn hơi ấm tỏa vào mặt và một cái gì nằng nặng tựa lên vai. Nàng tiên của tôi đang ngả đầu trên vai tôi để ngủ, cái tua vải nơi cổ áo cô chạy dài xuống ngực tôi, vài sợi tóc mây quyện vào mặt tôi. Tôi ngồi yên bất động cho nàng tiên của tôi ngủ cho đến khi các vì sao mờ dần bởi ánh sáng mặt trời ló dần dưới chân núi. Nhìn nàng ngủ lòng tôi không khỏi xôn xao, nhưng dưới bầu trời quá đẹp chỉ có những ý tưởng đẹp và thánh thiện còn lại với tôi. Trên vòm trời tôi nghe các vì sao âm thầm chuyển động, hiền lành và kỷ luật như đàn cừu của tôi. Và một trong những vì sao đó, vì sao đẹp nhất, sáng nhất lạc đường đến đậu trên vai tôi để ngủ

Trần Bình Nam

Nov. 13, 2011

Phóng tác từ Les Etoiles trong Lettres de mon Moulin (1869) của Alphonse Daudet (1840-1897)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.