Hôm nay,  

Vực Thẳm Ngân Sách

05/12/201200:00:00(Xem: 16789)
Liều thuốc đắng cho kinh tế Hoa Kỳ: giảm chi và tăng thuế

Hoa Kỳ mất hai năm và sáu tỷ Mỹ kim cho cuộc tổng tuyển cử 2012 để bầu lại một hệ thống lãnh đạo đã từng gây ra ách tắc chính trị từ năm 2010. Đảng Dân Chủ kiểm soát Hành pháp và Thượng viện, đảng Cộng Hoà giữ đa số tại Hạ viện và 30 chức vụ Thống đốc tiểu bang. Tình trạng chính trị lưỡng cực ấy không giải quyết được bài toán ngân sách trong hai năm qua và nay lại hai đảng lại tái đấu về chi thu trước sự phân vân của dân chúng và hoài nghi của thị trường.

Nói về bối cảnh, Hoa Kỳ đã qua ba chục năm chi tiêu hào phóng và vay mượn quá sức nên đến hồi trả nợ kể từ năm 2007. Đấy là bối cảnh chung và có nguyên nhân "lưỡng đảng" lẫn công tư.

Cả chính quyền lẫn tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp) đều đi vay trong mấy thập niên và nay phải cắt giảm chi tiêu để trả nợ. Sự chuyển động chậm rãi ấy mới giải thích những hoạn nạn của năm năm qua khi kinh tế bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi bị nhồi trong cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008. Các chính khách mị dân thường quy tội cho Chính quyền George W. Bush là gây ra khủng hoảng vì tăng chi bừa phứa và mở ra hai cuộc chiến – Afghanistan và Iraq – mà không tăng thuế và còn đồng loạt cắt giảm tô suất thuế qua hai đợt 2001 và 2003.

Sự thật lại không đơn giản như vậy. Sự thật là nước Mỹ đến hồi trả nợ, không khác gì hoàn cảnh của hai khối kinh tế công nghiệp hóa kia là Âu Châu và Nhật Bản. Cho nên các biện pháp kích thích kinh tế cổ điển như qua ngân sách (tăng chi và giảm thuế) và tiền tệ (hạ lãi suất và bơm tiền) đều chậm có hiệu quả.

Trong khung cảnh đó, sau khi thắng cử năm 2008, Chính quyền Obama còn tăng chi và muốn cải tạo xã hội nên nâng bội chi ngân sách lên mức kỷ lục, mỗi năm ngàn tỷ đô la trong bốn năm liền.

Khi ngân sách bị bội chi thì chính quyền phải đi vay nên khoản công trái - nợ của khu vực công quyền – đã cao bằng Tổng sản lượng quốc gia GDP, hãy tính cho tròn là 15 ngàn tỷ. Trong khi ấy, kinh tế chưa phục hồi và thất nghiệp vẫn mấp mé 8% và con số khiếm dụng thực sự (thất nghiệp toàn thời và bán thời) còn cao gấp đôi.

Bối cảnh ấy giải thích bài toán lưỡng nan hiện nay là phải kích thích sản xuất để giảm trừ thất nghiệp và đồng thời tiết giảm công chi để dần dần quân bình lại ngân sách.

Quốc hội khóa 112 được bầu lên từ năm 2010 đã có một thay đổi là đảng Cộng Hoà chiếm lại đa số tại Hạ viện nên đòi giới hạn công chi để giảm dần bội chi ngân sách trong 10 năm tới. Nếu không, Quốc hội không cho phép chính quyền đi vay thêm. Đảng Dân Chủ đồng ý trên nguyên tắc là phải giảm chi, nhưng vẫn muốn bảo vệ thành quả cải tạo xã hội đã thu được từ năm 2006 và chú trọng nhiều hơn đến việc tăng thuế. Họ nhấn mạnh tới yếu tố mang tính chất đấu tranh giai cấp, và ăn khách, là phải tăng thuế nhà giàu.

Suốt năm 2011, trận đánh về ngân sách giữa hai hướng giảm chi và tăng thuế đã không ngã ngũ và đôi bên đành đồng ý với một giải pháp tạm, do một siêu ủy ban của hai đảng đề nghị và được Tổng thống Obama ban hành ngày mùng hai Tháng Tám: cho phép nâng cao định mức đi vay, nhưng hai đảng phải thỏa thuận về một kế hoạch chấn chỉnh chi thu trong 10 năm tới. Nếu không, một số quyết định sẽ được tự động ban hành từ đầu năm 2013: mặc nhiên cắt giảm công chi và thu hồi các biện pháp giảm thuế của Chính quyền Bush (năm 2001 và 2003) và Chính quyền Obama (năm 2009). Chấm dứt việc giảm thuế có nghĩa là trở lại thuế suất cao hơn, vào trước năm 2001, tức là tăng thuế.

Trong suốt năm 2012, đôi bên không đạt thỏa thuận về việc chấn chỉnh này nên kể từ mùng hai Tháng Giêng năm 2013, biện pháp tự động sẽ được áp dụng, làm kinh tế gánh thêm nợ vì thuế và hụt mất một số mục chi tổng cộng khoảng 500 tỷ trong số bội chi ngàn tỷ. Khi sản xuất còn èo uột, ở mức 2% một năm là mừng, nếu biện pháp tăng thuế và giảm chi đó được áp dụng, Tổng sản lượng 15 ngàn tỷ sẽ hao hụt và kinh tế có thể bị suy trầm mất chừng 12-15 tháng, bốn năm quý.

Vì vậy, người ta mới nói đến "vực thẳm ngân sách" hay "tận thế thuế vụ" Taxmageddon.

Các kinh tế gia tranh luận về hiệu ứng của việc cắt giảm 500 tỷ - hay ít hơn nếu đôi bên tiến tới một số thỏa thuận là giảm bao nhiêu và tăng thuế ngần nào, cho những ai - đối với sinh hoạt kinh tế.

Sự thật là kinh tế có thể lại trôi vào suy trầm nữa, sau vụ suy trầm lần trước từ Tháng 12 năm 2007 đến Tháng Bảy năm 2009, nhưng sau đó tình hình sẽ khả quan dần. Đây là một nhận định của cơ quan độc lập có nhiệm vụ nghiên cứu ngân sách cho Quốc hội là CBO qua phúc trình mới nhất, được công bố hôm mùng tám Tháng 11.

Nhưng các chính khách đều ngại một vụ suy trầm nữa vào năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2014. Họ bèn đổ lỗi cho nhau, cũng với lập luận mị dân của một cuộc tranh cử ngay sau khi vừa hoàn tất tổng tuyển cử. Truyền thông đại chúng của Mỹ thì chỉ nhắc lại các lập luận đó theo thiên kiến chính trị riêng và đa số dân chúng không rõ vì sao lại có "vực thẳm ngân sách".

Cũng theo truyền thống, đảng Dân Chủ rất khéo tuyên truyền còn đảng Cộng Hoà thì chẳng biết giải thích cho rõ tình hình thực tế của một siêu cường mắc nợ. Kết quả bầu cử vừa qua có cho thấy sự khác biệt đó giữa hai đảng. Và lần này, đảng Cộng Hoà có thể lại mắc bẫy nữa khi mà tuần qua Hành pháp và Thượng viện Dân Chủ không hề thỏa hiệp và còn đề nghị tăng thuế gần 1.600 tỷ, tăng chi thêm 50 tỷ và không đặt ra định mức đi vay cho Quốc hội.

Nhưng căn bệnh chi thu vẫn còn nguyên vẹn và cần một liều thuốc đắng.

Từ ba chục năm nay, dân Mỹ đã chi tiêu và vay mượn quá sức, ngày một nhiều hơn cho đến năm 2007 mới thấy bàng hoàng. Tổng số nợ đủ loại của các hộ gia đình đã tăng vọt trong suốt 30 năm. Từ một ngàn 500 tỷ đô la vào năm 1980, khoản nợ này lên gấp đôi trong 10 năm (ba ngàn tỷ), rồi gấp sáu trong 10 năm kế tiếp (chín ngàn tỷ vào năm 2001) trước khi lên tới đỉnh là hơn 13 ngàn tỷ vào năm 2007. Đây là một nỗ lực chẳng phải là lưỡng đảng mà của toàn dân! Nhờ lãi suất hạ, tiền rẻ và vay muợn dễ dàng, kể cả vay mượn ngoại quốc, nước Mỹ hồn nhiên tiêu xài quá mức, thổi lên bong bóng đầu tư về cổ phiếu (2000) rồi địa ốc (2005) và bắt đầu phải trả nợ.

Khi cần tiết giảm chi tiêu để trả nợ thì tài hóa bớt lưu thông và kinh tế bị suy trầm, đó là hoàn cảnh của vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Mặc dù như vậy, tính đến quý hai năm nay, khoản nợ của các hộ gia đình vẫn ở mức 12 ngàn 900 tỷ đô la, so với 15 ngàn tỷ của Tổng sản lượng.

Yếu tố quan trọng nhất, gần như thuộc về văn hoá, là kinh tế Hoa Kỳ lệ thuộc vào tiêu thụ. Nửa thế kỷ trước, tiêu thụ ở khoảng 62% của Tổng sản lượng GDP, ngày nay mức lệ thuộc đó là 71%. Trong bước ngoặt của việc tư nhân giảm chi để trả nợ sau 30 năm hồ hởi, nhà nước bèn bù vào số hao hụt bằng biện pháp tăng chi kỷ lục và mắc nợ ngập đầu. Mà vẫn không kích thích được sinh hoạt sản xuất.

Khi nâng mức công chi đến ngàn tỷ một năm thì khu vực công quyền đã chẳng giải quyết được bài toán sản xuất và thất nghiệp mà chỉ nâng mức công trái và sẽ phải trả tiền lời. Bế tắc của biện pháp kích cầu bằng ngân sách khiến Ngân hàng Trung ương đã hạ lãi suất tới số không và ba lần in bạc bơm tiền vào kinh tế - mà chưa thấy hiệu quả.

Chỉ vì cùng với nỗ lực tăng chi để kích cầu, Chính quyền Obama còn tiến hành cải tạo xã hội và mở rộng việc điều tiết và kiểm soát thị trường với rất nhiều luật lệ mới.

Tình trạng đó gây khó khăn và bất trắc cho các doanh nghiệp khiến các cơ sở kinh doanh lớn nhỏ đều có sẵn hiện kim, tiền mặt, và hơn ngàn tỷ chứ không ít, mà vẫn ngần ngại đầu tư. Nạn ách tắc chính trị trong Quốc hội hai đầu chẳng giúp gì thêm cho tâm lý e ngại đó. Tinh thần đấu tranh giai cấp và kết tội tham lam cho những ai có tiền đầu tư – bọn nhà giàu đáng ghét – càng khiến doanh gia ngồi trên núi bạc chờ thời. Ách tắc chính trị dẫn đến bế tắc kinh tế.

Giải pháp được gọi là vực thẳm ngân sách - một từ do Thống đốc Ngân hàng Trung ương nghĩ ra và nói tới - gồm có hai phần chua ngọt. Chua là biện pháp mặc nhiên cắt giảm công chi và ngọt là việc tăng thuế nhà giàu. Hãy nói đến thực đơn chua ngọt đó.

Khi bội chi ngân sách được giảm dần, chính quyền sẽ bớt đi vay và tài nguyên dành cho việc vay mượn đó qua công khố phiếu có thể được giành lại cho sản xuất. Trước mắt là giảm dần khoản tiền lời mà công khố phải trang trải một cách đều đặn khi đi vay. Đấy là quyết định hợp lý của siêu ủy ban năm 2011 khi đề ra biện pháp tự động giảm chi, gọi là "sequestration". Nó hợp lý vì thị trường trái phiếu không tiếp tục cho nhà nước vay với lãi suất rất rẻ như vậy trong khi nước Mỹ cứ mấp mé vỡ nợ. Có ngày họ sẽ đòi phân lời trái phiếu cao hơn thì công quỹ sẽ phá sản. Đây là ta chưa nói đến một vực thẳm còn sâu hơn nữa là quỹ an sinh và y tế - xin để kỳ khác.

Nhưng giảm chi là quyết định hợp lý mà không hợp tình vì nhiều người sợ rằng khoản phúc lợi xã hội của họ sẽ bị cắt. Họ dồn phiếu cho đảng Dân Chủ, một đảng có tiếng là thương dân nghèo và bảo vệ thành quả cải tạo xã hội, và họ gây áp lực để tăng thuế nhà giàu. Áp lực này là một lý luận hợp tình.

Thiếu số 1% những người có lợi tức cao nhất (lợi tức chứ không phải tài sản), đã thấy lợi tức trung bình của họ tăng hơn 90% trong các năm sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009. So với trung bình ở khoảng 50% trước đó (từ 1993 đến 2009) thì đấy là bước nhảy vọt vĩ đại trong khi lợi tức của người dân nói chung đều giảm. Cho nên, nếu các triệu phú có chịu thêm một gánh nặng thuế khóa thì cũng hợp tình!

Nhưng chuyện ấy lại không hợp lý vì có thể gây phản tác dụng cho kinh tế.

Sản lượng kinh tế quốc gia chỉ có thể tăng nhờ dân số lao động cộng với mức gia tăng năng suất. Nhiều người làm việc hơn, với hiệu năng cao hơn thì sẽ sản xuất ra nhiều của cải hơn. Khi các chính khách nói đến chuyện tạo thêm việc làm để giải quyết nạn thất nghiệp, là nâng cao dân số lao động, thì đấy là dân số lao động trên thị trường tư doanh. Chứ lực lượng công chức là thành phần đóng góp rất ít cho sản xuất và lợi tức của họ chỉ là tiền thuế của dân.

Mà khu vực tư doanh đang chờ thời và ngần ngại đầu tư nên sản lượng kinh tế không tăng và thất nghiệp cũng chẳng giảm. Số việc làm trong khu vực tư chỉ tăng khi có ai đó muốn cung cấp loại hàng hóa và dịch vụ mà thị trường chịu mua. Muốn như vậy thì phải có đầu tư và đầu tư vào những ngành có năng suất cao hơn trước thì mới có lời.

Bọn nhà giàu triệu phú tiêu biểu là thành phần có khả năng đầu tư như vậy.

Hãy cho rằng họ có lợi tức bạc triệu trong một năm và dự trù mất 40% vì trả đủ loại thuế, còn lại 600 ngàn cho hai nhu cầu: 1) chi tiêu để duy trì mức sống sa hoa đáng ghét và 2) đầu tư hay tiết kiệm cho tương lai. Nếu thuế suất mà tăng, giả dụ thêm 5%, họ sẽ bớt các mục chi dụng phù phiếm, là tiêu xài ít hơn và đánh sụt số cầu trên thị trường, ít ra cũng khoảng 5%. Giải pháp kia là giảm mức đầu tư hoặc tiết kiệm, thí dụ như cũng 5%.

Ai sẽ được cái khoản "mất" này, giả dụ là 5%? Nhà nước. Và được như vậy để làm gì? Tăng lương công chức hay mức trợ cấp cho dân nghèo? Ngược lại, phần tiết giảm 5% vì gánh nặng thuế khóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt kinh tế? Những câu hỏi thường thức ấy cho thấy quyết định tăng thuế CŨNG có hậu quả kinh tế chứ không hẳn là vô hại.

Hậu quả đầu tiên là gây thêm tâm lý bất an trong một xã hội xưa nay vẫn quý trọng những người dám lấy rủi ro để kinh doanh và làm giầu. Ngày nay, làm giầu có thể là cái tội rất đáng gọt đầu.

Trong khi ấy, nếu nhìn vào thống kê về ngân sách từ mấy năm qua, nguồn thu về thuế lợi tức đã tăng trong thực tế dù với tô suất thấp: nghĩa không phải quyết định hạ thấp thuế suất đã làm giảm số thu ngân sách và tăng mức bội chi. Ngân sách bị thiếu hụt vì tăng chi quá nhiều và vì kinh tế sa sút đã thu hẹp căn bản tính thuế.

Do đó, nhìn xa hơn vực thẳm ngân sách năm tới, người ta thấy ra một hố sâu văn hóa của nước Mỹ về chuyện làm giầu. Đó là công hay tội? Còn gánh nợ lưu cữu từ ba chục năm nay, ai sẽ trả? Thế hệ con cháu sau này? Chúng có biết không?

Tương lai đó nó vượt xa tầm nhìn của các chính khách vì hai năm tới đây họ sẽ lại phải xin phiếu của dân. Lấy tiền của bọn nhà giàu để mua phiếu của dân nghèo là một giải pháp chính trị hấp dẫn. Nhưng không là giải pháp kinh tế đã làm nên sức mạnh của Hoa Kỳ.

Các nước trên thế giới hẳn là rất vui về quyết định đó của cử tri Mỹ: Hoa Kỳ sẽ sớm chấm dứt kỷ nguyên siêu cường độc bá.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.