Hôm nay,  

Tiếng Mỹ Ba Rọi

19/12/201200:00:00(Xem: 13263)
Trước năm 1954 khi tôi còn bé, sống ở Hải Phòng, thỉnh thoảng tôi nghe người lớn nói: “Cái ông đó - hoặc thằng cha đó nói tiếng Tây ba rọi” có nghĩa là cái ông/bà nào đó khi nói chuyện bằng tiếng Việt, cứ chen vào vài câu tiếng Tây… cho nó oai hoặc “dốt” tiếng Việt cho nên phải dùng tiếng Tây thay thế… làm người nghe khó chịu. Thà nói toàn tiếng Tây đi thì không sao. Nói chen tiếng Tây vào khiến bà con Miền Bắc gọi đó là nói “tiếng Tây ba rọi” với ý mỉa mai, khinh thị.

Khi tôi vào Nam năm 1954, Tây thua trận, từ từ rút hết, vả lại báo chí cũng không ưa kiếu ăn nói như thế và thường thường mỉa mai cho nên nạn nói “tiếng Tây ba rọi”cũng theo đó mà mai một. Rồi khi 500,000 lính Mỹ đổ vào Miền Nam, người ta đua nhau học tiếng Mỹ để vừa giao dịch, đi làm sở Mỹ hoặc du học v.v.. Tạp chí Mỹ, báo Mỹ, đồ/hàng Mỹ, lính Mỹ tràn ngập đường phố nhưng không bao giờ tôi nghe trên đài phát thanh hoặc đọc trên báo xuất hiện loại “tiếng Mỹ ba rọi”. Bản thân tôi từ Lớp 10 đã lấy Anh Văn là sinh ngữ chính và sáu năm đại học - đọc sách Mỹ dù không nhiều - nhưng không bao giờ mở miệng nói chen tiếng Mỹ vào câu chuyện. Thậm chí một số bạn bè sau này, du học Mỹ trở về, họ cũng không bao giờ làm thế. Xin thưa, nếu tôi nói chuyện kiểu “tiếng Mỹ ba rọi” có lẽ phải “độn thổ” với bạn bè. Quý vị nào không tin, cứ thử vào thư viện quốc gia cũ của Miền Nam xem lại sách vở, báo chí, văn chương cũ xem có loại “tiếng Mỹ ba rọi” hay không?

Thế nhưng phải công nhận rằng sự hiện diện của 500,000 lính Mỹ ở Việt Nam, cũng giống như Utapao của Thái Lan, Subic Bay của Phi Luật Tân đã bùng phát cái mà thế giới gọi là “kỹ nghệ gái điếm khổng lồ“. Những vùng Mỹ đóng quân như Pleiku, An Khê, Đà Nẵng v.v... trên là trời, dưới là quán Bar. Những cô gái bán Bar- thực chất là gái điếm trá hình, là gái quê mùa, thất học làm sao đủ Anh Văn để nói chuyện với lính Mỹ - mà người Mỹ gọi đùa là GIs - cho nên đã xuất hiện một thứ tiếng Mỹ của gái bán Bar như:

- Mama son= má/mẹ (mother)

- OK Salem= để xin thuốc lá Salem

- No Star Where = Không sao đâu (No problen! hoặc Dont worry!)

- Long time no see= Lâu quá không gặp (I havent seen you for a long time) (*)

Thế rồi sau năm 1975 dĩ nhiên đâu còn Mỹ nữa thì làm sao Mỹ có thể ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam? Tôi định cư vào Hoa Kỳ năm 1985. Lúc này chưa có Internet cho nên không nghe được đài phát thanh, đọc báo trong nước, vả lại tôi chưa từng về Việt Nam lần nào, cho nên hoàn toàn không biết ngôn ngữ Việt, tiếng Việt của Việt Nam bây giờ ra sao. Thế nhưng cách đây khoảng 5 năm và cho tới bây giờ, khi vào Internet đọc các trang điện tử, tôi thật “kinh hoàng” khi thấy tiếng Việt bị pha trộn với tiếng Mỹ một cách khủng khiếp, phá hoại tiếng Việt khiến tiếng Việt chẳng còn ra thể thống gì nữa. Nó giống như mình đang nhai gạo tám thơm lại cắn phải hạt sạn, đành phải nhổ miếng cơm ấy ra! Cách đây vài năm, các nhà văn hóa Pháp cũng đã lên tiếng báo động về hiện tượng “tiếng Mỹ ba rọi” có nguy cơ phá nát nét đẹp truyền thống của văn hóa và ngôn ngữ Pháp.

Tiếng Việt của chúng ta vô cùng phong phú có thể chuyển sang Việt ngữ tất cả những danh từ có nguồn gốc Pháp-Mỹ v.v… của mọi bộ môn như: khoa học, triết học, luật học, kinh tế học, xã hội học, chính trị, thương mại, ngoại giao, quân sự, kể cả văn chương, giải trí v.v.. Cứ mở tự điển hoặc vào thư viện xem sẽ thấy. Một số danh từ mà ta không có như : café, beurre, boulon, ciment, đường rail v.v.. nhưng ông bà chúng ta cũng đã không dùng nguyên mà chuyển âm cho có vẻ Việt ngữ như: cà-phê, bơ, bù-loong, xi-măng, đường rầy, v.v...

Có thể do lai căng, bắt chước “theo voi ăn bã mía” hoặc “kém” tiếng Việt hoặc kiểu cọ thời trang cho nên một số rất đông đang xử dụng loại “tiếng Mỹ ba rọi” khiến tiếng Việt thành một thứ ngôn ngữ quái đản, lai căng. Sau đây là một số tiếng Mỹ đang là “Con sâu trong nồi canh tiếng Việt”!

1) Hot news: Tin hấp dẫn không chịu dùng mà lại nói “tin đó hot lắm!”

2) Hot girls : Những cô gái ăn mặc hở hang, ăn mặc khiêu dâm

3) Ăn mặc hot: Ăn mặc hở hang, khiêu dâm

4) Hot seat: Không phải là “ghế nóng” mà là đang ở vào tình thế gian nan, vô cùng bất lợi. Ví dụ: He is in hot seat có nghĩa là: Ông ta ở vào tình thế vô cùng nan giải. Hot seat tiếng lóng còn có nghĩa là “ghế điện” dành cho tử tội.

5) Hot topic/ Hot issue: Không phải là “đề tài nóng” mà là những vấn đề đang được bàn cãi sôi nổi thường xuất hiện trong các cuộc bầu cử ở Mỹ.

6) Bản nhạc ấy hot lắm: Bản nhạc vừa xuất hiện và được ưa chuộng, bán chạy, được hát nhiều.

7) Hot line: Không phải là đường giây nóng hay lạnh mà là “đường giây thông báo khẩn cấp” thường giữa vị nguyên thủ các quốc gia có vũ khí nguyên tử như Nga-Mỹ để tránh rủi ro.

8) Thị trường đang hot: Thị trường bán rất chạy (trái với ế ẩm)

9) Tour du lịch: Chuyến du lịch, các chuyến du lịch.

10) Tôi vừa đi tour: Tôi vừa đi du lịch. Tôi vừa làm một chuyến du lịch.

11) Cho tôi một vé đi tour Hạ Long: Cho tôi một vé du lịch Hạ Long.

12) Khu resort: Khu nghỉ mát, khu nghỉ dưỡng

13) Sexy: Hấp dẫn, hở hang, gợi dục. Do đó “Một cô gái có thân hình sexy” là cô gái có thân hình hấp dẫn (gợi dục, gợi sự ham muốn). Một cô gái ăn mặc sexy là cô gái ăn mặc hở hang, không đứng đắn…chẳng hạn như váy ngắn quá, áo hở ngực lồ lộ, hoặc váy mỏng/ quần mỏng lộ cả quân lót bên trong. Cô ấy có khuôn mặt sexy tức cô ấy có khuôn mặt lẳng lơ, đa tình.


14) Top: Đứng đầu, hàng đầu

15) Top Ten: Mười người/quốc gia/hãng…đứng đầu, v.v...

16) Tuổi Teen, các Teen: Chúng ta hãy xem người Mỹ đếm số từ 13 tới 19: Thirteen, fourteen, fifteen, sixteen, seventeen, eighteen và nineteen. Tất cả đều kết thúc bằng chữ teen. Như vậy “tuổi teen” là tuổi vị thành niên, dưới 20 tuổi. Và “các teen” là các trẻ vị thành niên. Do đó “teen pregnant” có nghĩa là vị thành niên mang bầu/có thai - một tệ nạn của xã hội Mỹ bây giờ cho nên phải phát bao cao su sinh lý cho học sinh là như thế đó.

17) Các show: Các buổi trình diễn văn nghệ.

18) Showbiz: Những buổi trình diễn/ giới thiệu thương mại.

19) Live music: Nhạc sống (do ban nhạc trình diễn chứ không phải nghe qua máy)

20) Live show: Chương trình trực tiếp (không phải thu hình xong rồi phát lại).

21) TV: Truyền hình, đài truyền hình,

22) Clip: Đoạn băng ngắn, đoạn video ngắn.

23) Các fan: Những người hâm mộ, kẻ hâm mộ. Nếu hâm mộ một cách điên cuồng có thể gọi là “tín đồ” như trong lãnh vực âm nhạc chẳng hạn.

24) Meeting: Cuộc biểu tình, buổi gặp gỡ, họp mặt

25) Cup: Giải. Do đó người đoạt cúp là người đoạt giải.

26) World Cup : Giải túc cầu/bóng đá thế giới

27) Tiệm Nails : Tiệm sơn móng tay, móng chân.

28) Nghề Nails : Nghề sơn móng tay, móng chân.

29) Máy ATM : Máy chuyển tiền tự động.

30) GDP: Tổng Sản Lượng Quốc Gia (Gross Domestic Product).

31) Hand made: Hàng làm bằng tay, thêu tay (không phải bằng máy).

32) Visa/Passport: Xin visa tức là xin nhập cảnh. Xin passport là xin xuất cảnh.

33) Stress: Căng thẳng thần kinh. Mới đây trên Tuổi Trẻ Online có hai tiêu đề rất “ba rọi” như sau: “Facebook có làm bạn stress?” Trời đất quỷ thần ơi! Ông nào viết bản tin này chắc là một ông Mỹ lai không biết chữ “căng thẳng thần kinh” bèn phang vào đó chữ stress cho xong ! Rồi lại một câu nữa thật kinh hồn: “Anonymous tấn công website Bộ trưởng CNTT-TT Ấn Độ” Xin thưa: anonymous là kẻ ẩn danh, dấu tên. Còn các chữ viết tắt “Bộ trưởng CNTT-TT Ấn Độ” quá bí hiểm, chỉ có mình ông ta hiểu chứ ngay trưởng ban biên tập nếu coi lại kỹ cũng chẳng hiểu ông ta viết gì!

34) Email: Điện thư.

35) Bikini: Áo tắm hai mảnh

36) Sốc (Shock): Sửng sốt, choáng váng (vì quá bất ngờ). Chữ shock đang được dùng tràn lan trong nước dùng như một thứ kiểu cọ, thời trang, làm dáng.

37) Games: Các trò chơi trên máy điện tử.

38) Ebook: Sách điện tử

39) Laptop: Máy điện tử cầm tay. Thực ra là để trên lòng (lap) khi đem ra phi trường, hoặc đi xa…không có bàn ghế.

40) Desktop: Máy điện tử để bàn.

41) Hacker: Kẻ ăn cắp hoặc phá hoại các dữ kiện của người khác qua máy điện tử, có thể tạm dịch là “tin tặc”.

42) Style: Kiểu, kiểu cọ, lối. Trên trang tin điện tử giaoduc.net.vn có một đề mục cũng rất “ba rọi” như sau: “Style “ngủ gật” của mỹ nhân trên sàn Catwalk”. Tôi không hiểu tại sao ông này không viết, “Kiểu ngủ gật của mỹ nhân trên sàn Catwalk”.

43) Cholesterol: Độc tố trong máu (gây bệnh tim)

44) Virus: Vi khuẩn, vi trùng, siêu vi trùng.

45) Mr. & Mrs. : Điều lạ lùng là trong nước bây giờ thích dùng các chữ Mr., Mrs., và Miss thay vì Ông, Bà, Cô v.v.. Trên trang điện tử Petrotimes.vn nơi phần liên lạc ghi: Mrs. Vân Anh : điện thoại… & Mrs. Đào Hương: điện thoai… trong khi đây là trang báo dành cho người Việt chứ không phải người Mỹ. Thật tôi không hiểu tại sao lại như vậy. Và còn biết bao nhiêu loại “tiếng Mỹ ba rọi “ nữa mà tôi không thể kể ra hết.

Nói về sự trân quý tiếng Việt nguyên thủy, đẹp, trong sáng, không lai căng của người Việt hải ngoại tôi xin kể cho quý vị một câu chuyện. Vì tôi là một nhà văn cho nên nhận được khá nhiều sách biếu tặng qua lại. Trước khi hưu trí vào năm 2007, tôi phục vụ cho Học Khu Oak Grove (San Jose) và tôi có đem biếu một cuốn truyện viết về trẻ thơ do một nhà văn nữ ở San Jose tặng. Người nhận sách là một cô giáo dạy thêm lớp Việt Ngữ cho học sinh Việt Nam hầu như quên hết hoặc không biết tiếng Việt. Khoảng tuần lễ sau tôi hỏi cô giáo:

- Em thấy cuốn sách thế nào?

Cô giáo trẻ trả lời ngay:

- Em vứt nó đi rồi.

- Ủa, tại sao vậy em?

Cô giáo trang nghiêm nói:

- Đây là lớp Việt Ngữ. Em dạy tụi trẻ tiếng Việt mà truyện của cô ấy viết toàn tiếng Mỹ lai căng như Mom (mẹ) Daddy (bố) thì em vứt đi chứ giữ làm gì? Tụi nhỏ cần học các chữ Bố, Mẹ chứ tụi nó đâu cần học các chữ Mom, Daddy nữa!

Nghe cô giáo trả lời thế trong lòng tuy xấu hổ vì mình đã không đọc kỹ cuốn sách trước, nhưng tôi thầm phục và cảm ơn cô giáo đã biết thế nào là dạy Việt Ngữ cho các em học sinh.

Tiếng nói và chữ viết là gia tài văn hóa của một quốc gia do bao thế hệ cha ông sáng tạo, vun sới, gọt tỉa, chọn lựa, gìn giữ. Rồi nó lại được phong phú hóa bởi thi ca và tiểu thuyết, âm nhạc, kịch nghệ. Nhu cầu hội nhập đã khiến tiếng Anh tràn vàoViệt Nam như một đợt sóng thần không sao ngăn nổi. Nhưng nếu nghĩ đến tương lai của dân tộc thì nó cần phải được các học giả, các nhà văn hóa, nhà giáo dục, các nhà văn, nhà báo có kiến thức về ngoại ngữ chuyển ngay nó sang tiếng Việt một cách chính xác và đứng đắn để công chúng xử dụng và không để loại “tiếng Mỹ ba rọi” phá nát tiếng Việt yêu quý ngàn đời của chúng ta.

Đào Văn Bình
(California 17/12/2012)

(*) Các GIs trở về từ Viêt Nam gặp nhau nói tràn lan câu “Long time no see” khiến một thời gian sau trở nên phổ thông và đã được Đại Học Harvard công nhận là ngôn ngữ chính/chuẩn mực của Hoa Kỳ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.