Hôm nay,  

Nét Việt Ở Havana

24/08/201300:00:00(Xem: 14127)
Đến một đất nước lạ, cùng với tham quan những danh lam thắng cảnh tôi thường tìm hiểu xem ở đó có gì mang dấu tích Việt.

Vừa rời máy bay, gió nóng và ẩm quẹt vào da làm tôi nhớ đến Việt Nam ngay. Trên đường vào Thủ đô Havana, nhìn nhà cửa cũ, tường vôi bạc mầu và phượng đang nở rực là điều gợi nhớ cho tôi nhất về quê nhà.

Đầu tháng Sáu, phượng đang nở hoa. Gần Quảng trường Cách mạng có góc công viên phượng rơi đỏ cả thảm cỏ xanh.

Không biết cánh hoa đỏ có là bạn thân thương của học trò Cuba, như học sinh Việt đã yêu phượng qua văn xuôi của Xuân Diệu, đã nhớ mùa hè qua ca từ của Thanh Sơn: “Mầu hoa phượng thắm như máu con tim/Mỗi lần hè sang kỷ niệm người xưa biết đâu mà tìm” hay của Anh Bằng: “Bây giờ còn nhớ hay không?/Anh đem cánh phượng tô hồng má em...”

Hỏi anh Alejandro, hướng dẫn viên Cuba của đoàn, về tên gọi tiếng Tây Ban Nha, anh nói tên hoa là “flamboyant”, cũng như trong tiếng Anh và tiếng Pháp. Tôi thắc mắc về nguồn gốc tên “Phượng” trong tiếng Việt.

Loại hoa đỏ này nguyên thủy xuất phát từ đâu và sao lại được trồng nhiều ở Hải Phòng, Huế cũng như ở Bangkok, Hong Kong, Lomé, Cancún, Los Cabos mà tôi đã thấy.

Có thể vì sắc hoa đỏ nổi bật vào hè là mùa du lịch nên dễ nhận ra hơn những loại thảo mộc quen thuộc khác ở Cuba, như cây bàng xum xuê lá cũng được trồng nhiều ở đây. Hay như ở một làng quê cách Havana hơn trăm cây số, ngoài phượng còn có luỹ tre xanh và ao hoa súng.

Ngoài hoa lá thân quen, trong bữa ăn trưa đầu tiên ở Havana, gọi ly rượu rum mojito truyền thống Cuba thấy trong đó có vài lá húng nhũi mà người Việt hay ăn với gỏi cuốn, với bún bò Huế.

Những ngày ở Cuba đi đâu cũng thấy phượng nở đỏ và mojito thoảng mùi rượu và húng nhũi là nét Việt thân thương ở xứ sở của Fidel Castro. Còn thức ăn Việt thì sao. Có không. Tôi cũng cố đi tìm.

Với lịch sử quan hệ lâu đời với Việt Nam, tôi tin thế nào cũng có ẩm thực Việt ở đây. Tôi đã nghe biết về một số người Việt sống ở Cuba. Ca sĩ Ái Vân đã từng sang Cuba hát. Nhiều nhà ngoại giao Việt phục vụ tại Hoa Kỳ là cựu du sinh ở Cuba. Chuyện một thời xôn xao là cô Kim Phúc, nạn nhân bị bom lửa trong thời chiến tranh, cùng chồng qua Cuba và trên đường du hành khi máy bay ghé Canada thì cả hai đã xin tị nạn chính trị.

Đã sống qua nhiều nơi, kể cả xứ Togo xa xôi tận châu Phi mà tôi cũng tìm được phở, nem rán; với quan hệ khăng khít Cuba-Việt Nam thay nhau thức ngủ để cùng canh giữ hòa bình thế giới như lãnh đạo Việt Nam đã phát biểu dịp thăm Cuba cách đây vài năm, tôi tin văn hoá Việt ít nhiều có dấu ấn ở Havana.

Gần cuối chuyến du học chúng tôi mới có một buổi chiều được tự do. Anh bạn ở chung phòng và tôi, cùng mấy bạn nữa đi thăm Bảo tàng Cách mạng, trong đó trưng bày nhiều hình ảnh, tài liệu chống Mỹ kịch liệt, như một thời ở Bảo tàng Tội ác Mỹ-Ngụy ở Sài Gòn, này là Bảo tàng Tàn tích Chiến tranh.

Rời bảo tàng khi đã hơn 5 giờ chiều. Mọi người rủ nhau đi ăn ngoài. Tôi nói với cô giáo phụ trách lớp là tối nay tôi muốn đi tìm một nhà hàng Việt.

Khi mới tới Havana, hỏi quầy lễ tân ở khách sạn về quán Việt và được biết có quán Hanoi, nhưng không rõ địa chỉ. Tôi tìm một cuốn niên giám điện thoại của Havana để xem có người Việt hay nhà hàng Việt nhưng không kiếm đâu ra sách này.

Nhờ cô giáo nói với người đạp xích lô là tôi muốn đến quán tên Hanoi. Cô nói tiếng Tây Ban Nha với người phu xe, rồi bảo tôi mau lên vì trời bắt đầu mưa. Cô nói anh ta sẽ đưa tôi đến đó.

Vừa lên xe là trời đổ mưa lớn. Chừng hai mươi phút sau, anh đưa tôi đến trước khu phố có cổng với bảng chữ tàu và những lồng đèn. Anh ra dấu chỉ tay vào đó.
bui_van_phu_cuba_2__resized
Hình ảnh Cuba. (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Tôi xuống xe, trả anh 3 CUC (khoảng 3 USD). Lúc này trời mưa như trút nước nên tôi nép vào hiên đứng chờ. Ngớt mưa tôi băng qua đường vào phố Tàu Havana.

Đi lên đi xuống con phố nhỏ, con hẻm thì đúng hơn, chỉ thấy dăm nhà hàng Tầu. Không thấy quán Hanoi. Tôi quyết định vào một quán, gọi bia và món gà xào với dứa để nhâm nhi cho đỡ đói và chờ ngớt mưa.

Điều lạ ở đây là không thấy người Hoa hay người châu Á nào. Hỏi cô phục vụ có biết quán Hanoi. Tiếng Tây Ban Nha của tôi lõm bõm nhưng cũng hiểu cô nói nhà hàng ở khu Nuevo Vedado, gần khách sạn tôi ở.

Một lúc sau, một cụ bà từ trong bếp bước ra. Bà nói gì đó tôi không hiểu. Cô gái lấy tờ giấy, tôi viết xuống: “Restaurante Hanoi, cocina vietnamesa”. Cụ bà nói, cô gái ghi: “Parque Cristo” và mấy chữ nữa. Tôi hỏi từ đây đến đó đi taxi tốn bao nhiêu tiền và bao nhiêu phút. Cô nói taxi 5 CUC và tốn chừng 10 phút. Đi xích lô đạp, 3 CUC và chừng 20 phút.

Hôm nay là lần đầu tiên tôi đi phố một mình nên cũng hơi lo, dù rằng người hướng dẫn đoàn đã nói với chúng tôi là an ninh ở Havana rất tốt.

Tôi chọn xích lô vì nếu có gì còn dễ nhảy xuống được. Xe chạy qua nhiều con đường. Cũng may trời mưa mát nên tôi không cảm thấy ái ngại cho công sức của người đạp xe khi phải leo dốc hay lách ổ gà.

Đi khá lâu mà chưa thấy nhà hàng đâu. Thỉnh thoảng tôi lại hỏi sắp đến chưa và tài xế cứ nói sắp, sắp hay gì đó tôi không hiểu.

Đi tìm một nơi không hề biết trước làm tôi nhớ đến cặp vợ chồng bạn Mỹ vào hè năm 1987 đã đón xích lô từ khách sạn Continental ở trung tâm Sài Gòn để đi tìm nhà bố mẹ của tôi ở khu Ngã ba Ông Tạ với nhiều lo lắng không biết có đến đúng nơi.

Hôm nay tôi cũng có tâm trạng như cặp vợ chồng bạn, ngồi xe xích lô mà lòng lo lo vì chuyến trước xe đã đưa không đến nơi.

Cuối cùng xe dừng trước nhà hàng có tên Hanoi. Tôi mừng trong lòng. Giá mặc cả trước là 3 CUC, tôi trả anh 5 vì thấy đạp lòng vòng hơi lâu.

Bên trong không một bóng khách. Có thể là còn quá sớm cho giờ cơm tối. Hay tại mưa nên vắng.

Người phục vụ đưa tờ thực đơn, tôi đọc qua không thấy món ăn Việt. Hỏi bằng tiếng Anh ở đây có bán phở không. Anh không hiểu. Tôi hỏi luôn tiếng Việt: “Tiệm có bán phở không anh?” Anh cũng không hiểu và gọi một người từ sau nhà ra. Ông nói tiếng Anh khá lưu loát và hình như là chủ nhà hàng. Tôi nói mình muốn món ăn Việt. Ông trả lời nhà hàng tuy mang tên Hanoi, nhưng không bán thức ăn Việt. Tôi thất vọng.

Rồi ông hỏi tôi có biết về cuộc chiến tại Việt Nam, tôi nói biết. Ông giải thích là khi Việt Nam đánh bại Hoa Kỳ, ông đã thêm “Hanoi” vào tên nhà hàng, nguyên thuỷ là La casa de la Parra, để mừng chiến thắng của Việt Nam.

Tôi gọi cơm với tôm hùm và cá nướng, thêm chai bia Bucanero. Tìm hiểu xem có quán ăn Việt nào ở đây, ông nói không, nhưng cho biết ở Havana có Parque Ho Chi Minh. Hỏi ở đâu, ông không nhớ rõ.
bui_van_phu_cuba_1_resized
Hình ảnh Cuba. (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Có lẽ đây là khu cư dân vì ngồi trong quán ngó ra thấy người đi bộ qua lại. Trước cửa nhà hàng có hai sạp bày bán khoai bắp, cây trái.

Bữa ăn tốn 25 CUC, gồm cả tiền boa, bằng hơn nửa tháng lương của một công nhân viên trong một đất nước vẫn còn chế độ tem phiếu. Như thế tôi không biết nhà hàng Hanoi phục vụ khách thuộc giai cấp nào. Một giờ đồng hồ trong tiệm, chỉ mình tôi là khách.

Rời Hanoi, ra đường nhìn quanh thấy cách đó vài khu phố là toà nhà hành chánh của Thủ đô Havana với kiến trúc như Điện Capitol của Quốc hội Mỹ mà cách đây vài hôm đoàn đã tham quan. Tôi cảm thấy yên lòng, đi bộ về hướng đó, rong chơi Havana về đêm.

Trở lại khách sạn, hỏi hướng dẫn viên về Parque Hồ Chí Minh, anh nói đó là “Parque Acapulco” và giải thích thêm là tượng ông Hồ đã được đặt khoảng 10 năm trước, trong một trao đổi với Việt Nam, theo đó tượng José Martí, anh hùng chống Tây Ban Nha của Cuba được đặt tại Hà Nội.

Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm. Vì chỉ còn hôm nay là trọn ngày ở Havana với những sinh hoạt bắt đầu lúc 9 giờ, sau bữa ăn sáng. Mai chúng tôi ra sân bay về lại Hoa Kỳ. Đây là cơ hội còn lại cho tôi tìm đến Công viên Hồ Chí Minh.

Bảy giờ sáng. Mình tôi rời khách sạn. Hỏi đi Parque Acapulco giá bao nhiêu. Tài xế taxi nói 7 CUC, tôi trả giá 5 CUC và nói nếu tài xế đợi ở đó chừng mười lăm phút rồi đưa tôi về lại khách sạn, tôi sẽ trả 10 CUC. Anh đồng ý.

Lên xe, thấy đèn đỏ trong xe báo lung tung làm tôi hơi lo. Sợ xe hư, không về lại khách sạn cho kịp giờ học mà không ai biết tôi đi đâu sẽ phiền nhiều người. Không còn chọn lựa nào hơn vì đã lên xe nên tôi chỉ cầu mong mọi chuyện sẽ như ý.

Xe chạy từ biển về hướng Quảng trường Cách mạng, rẽ phải sang khu vực với nghĩa địa có nhiều ngôi mộ lớn bằng đá trắng, một nghĩa địa có cổng tiếng Hoa.

Hai mươi phút sau đến nơi. Công viên hiện ra trước mặt. Không lớn lắm, chừng một nghìn mét vuông. Nhiều cây xanh. Bên kia đường là rạp hát Acapulco. Tượng bán thân ông Hồ Chí Minh đặt trên bục ở giữa, bên dưới có ghi ngày sinh và mất. Sau lưng tượng là một dãy trúc xanh.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.