Hôm nay,  

“Bác Hồ” Ám Ảnh

10/09/201300:00:00(Xem: 15006)
Nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) trong thế kỷ 20 đã gây cho dân tộc Việt Nam quá nhiều hệ lụy. Vậy chúng ta thử tìm hiểu những yếu tố cốt lõi nào mà HCM đã ám ảnh đến dân tộc và non nước Việt Nam.

I- Bối cảnh lịch sử thời cận đại: Kể từ năm 1945 vừa sau đệ nhị thế chiến, trước áp lực của quốc tế đòi hỏi chính quyền Pháp chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương. Hồ Chí Minh nhân đấy lập ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH), nhưng chưa được bất cứ quốc gia nào công nhận. Cuối năm 1946, cuộc đàm phán giữa Pháp và Việt Minh thất bại. Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại, tỏ ý muốn thành lập một nước Việt Nam độc lập. Thấy vậy, các lực lượng: Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng, đạo Hoà Hảo và Cao Đài; đã liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất; để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về độc lập cho Việt Nam.

Ngày 7-12-1947, tại cuộc họp trên tàu chiến của Pháp ở Vịnh Hạ Long; Bảo Đại và Pháp ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long, đã đồng thuận lập Quốc gia Việt Nam (QGVN) trên cơ sở độc lập và thống nhất một nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.

Ngày 5-6-1948, Bảo Đại lại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long lần 2, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1-1949, Bảo Đại yêu cầu Nam Kỳ thuộc về QGVN, được Pháp đồng ý. Ngày 8-3-1949, Tổng thống Pháp là Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysé xác nhận nền độc lập của VN, chính thức thành lập QGVN trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia trên thế giới đã công nhận Quốc gia Việt Nam. Ngày 4-6-1954, Thủ tướng Pháp là Joseph Laniel và Thủ tướng QGVN là Nguyễn Phúc Bửu Lộc ký hiệp ước thỏa thuận QGVN không còn trong Liên hiệp Pháp nữa, Pháp công nhận QGVN được độc lập hoàn toàn. Đất nước Việt Nam đang gầy dựng lại nền độc lập cho nước nhà.

Trong khi ấy HCM lại đem học thuyết của Karl Marx và Friedrich Engels để thực thi chế độ cộng sản tại Việt Nam là một sai lầm nghiêm trọng. Vì chế độ cộng sản của Marx-Lenin gây cảnh bần cùng hóa nhân dân với đầm đìa nước mắt và máu, như việc “Cải Cách Ruộng Đất” đã đấu tố 123.266 người bị chụp mũ là địa chủ và phú nông, mà họ thực tế là trung nông hay bị vu khống, đã bị Việt Minh sát hại tại chỗ hay giam cầm chết lần chết mòn!. Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của các văn nghệ sĩ và một số vị trí thức ở miền Bắc Việt Nam, khởi xướng từ đầu năm 1955 và đến tháng 6 năm 1958 thì bị Việt Minh dập tắt. Trong đấy có bài “Nhất định thắng” của Trần Dần, đã tả cảnh sống xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng những câu thơ thâm thúy:

Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ

Sau đó, tác giả bài thơ này bị quy tội chống phá chế độ?!.

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, số người theo Việt Minh (VM) từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60,000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam từ 5,000 đến 10,000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ. Trong khi đấy, số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam khoảng 1 triệu người. Tại miền Nam chính thể Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ra đời từ ngày 23-10-1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính phủ của ông thành lập nước VNCH tại miền Nam, đồng thời giải tán chính thể QGVN. VM lại ngấm ngầm rồi hùng hổ gây nội chiến tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, người hai miền Nam-Bắc đều là “Đồng bào”, nhưng lại tương tàn khốc liệt. Quân đội VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân Bắc Việt bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân: Việt Nam bị chết khoảng 3.000.000 người và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng số quân đội các bên, kể cả quân Mỹ giúp miền Nam; quân Tàu giúp miền Bắc... và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người. Riêng người Việt bị chết khoảng 4.350.000 người (250.000+1.100.000+3.000.000). Thưa Đồng bào, giả sử CSVN chiếm miền Nam, rồi đem cả nước Việt hiến dâng cho kẻ thù truyền kiếp (Tàu) thì đau đớn quá! Vì tại Hội nghị Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, tại thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ở nước Tàu, giữa các giới chức cao cấp Việt và Tàu, thỏa thuận rất bí mật (đã bật mí) có nhiều nguồn tin (như wikileaks) nước Việt Nam sẽ là tỉnh Quảng Nam của Tàu vào khoảng năm 2020, tuy nhiên cần kiểm chứng thêm?! Hơn nữa, dân tôi nghe nói rằng: Năm 1975, trong khi quân Bắc Việt đang đánh chiếm miền Nam Việt Nam, do Tổng bí thư Lê Duẫn chủ động, lại tuyên bố: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc"?!.

II- “Bác Hồ” là Hồ Tập Chương hay Nguyễn Ái Quốc?: Trong cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo ” (Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, là người đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan. Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01-11-2008, mã số của sách: ISBN: 9789866820779. Hồ Tuấn Hùng sinh năm 1949, tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, là cháu ruột Hồ Tập Chương. Tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” dày 342 trang, khổ 15 x 21 cm, bìa cứng, in chữ nổi. Đã được Thái Văn dịch ra Việt ngữ vào tháng Giêng năm 2013. THIÊN I đã viết về Hài kịch tráo rồng đổi phượng có đoạn ghi: “Nguyễn Ái Quốc nhiều năm đã mắc chứng lao phổi, tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát Hương Cảng bắt, được chuyển đến bệnh xá nhà giam điều trị, đầu năm 1932 mất tích, đến khoảng giữa tháng 7 và tháng 8 thì các báo đưa tin chết vì bệnh lao phổi. Cũng thời gian này các báo Hương Cảng, Anh Quốc, Pháp Quốc và Nga Xô đều viết, sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hương Cảng, không rõ lý do mất tích, sau đó bị bệnh qua đời”; như vậy sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, Cộng sản Quốc tế tráo Hồ Tập Chương thành Hồ Chí Minh?!. Mời bà con xem một bài thơ trong số 134 bài thơ “Nhật ký trong tù” từ năm 1942 đến năm 1943 của HCM, với những từ ngữ, câu văn hoặc phương ngôn thuộc ngữ hệ Khách Gia đã được tác giả chuyển hóa một cách nhuần nhuyễn sang từ ngữ Trung văn, chứng tỏ HCM rất am hiểu văn hóa Hán, lại thông thạo nhiều ngôn ngữ, từ cú khoáng đạt, ý tứ trôi chảy.

Bài 8, trang 145: Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước “lung” môn môn vị khai
“Lung” lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
*
Nam Trân - Xuân Thủy dịch: Buổi sớm
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.

Xin lưu ý là Nguyễn Ái Quốc biết về Trung văn chưa được thông hiểu sâu sắc, chứ từ ngữ địa phương ở Khách Gia thì làm sao biết được, như từ ngữ trong bài thơ này đã dùng chữ: “Lung”, tiếng Khách (Hẹ) chỉ nhà giam, phòng giam. Người Khách Gia ở Miêu Lật khi vào nhà giam gọi là “nhập lung”, ra khỏi nhà lao gọi là “xuất lung”, giam trong nhà lao gọi là “quan lung”. Trong khi ấy, những từ với ý nghĩa trên nếu ở Trung văn lại gọi là “nhập ngục”, “xuất ngục”, hầu như không ai dùng chữ “lung”. Trong “Nhật ký trong tù”, từ “lung” được hiểu là “nhà giam”, “nhà ngục” hoặc “nhà tù”. Chữ “Lung” đã được sử dụng trong hơn 10 bài thơ trong số 134 bài thơ.

III- Nỗi buồn xuất xứ của “Cờ Đỏ Sao Vàng”: Lá “Cờ Đỏ Sao Vàng” của đảng CSVN dùng từ năm 1945 lại giống như lá cờ của tỉnh Phúc Kiến của Tàu đã dùng vào năm 1933. Tỉnh Phúc Kiến là một tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Thế mà, một số người Việt lại tôn thờ và coi là lá cờ của dân tộc thì đó là một sai lầm rất lớn. Đáng tiếc, có rất nhiều người là đảng viên của đảng CSVN đã không dám nhìn thẳng vào sự thật phũ phàng này, hay chưa biết cờ đỏ sao vàng chính là cờ làm chư hầu?!. Dân tôi băn khoăn, nếu lá cờ này do Hồ Tập Chương đã lấy từ cờ của tỉnh Phúc Kiến để làm quốc kỳ nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là một âm mưu Hán hóa, xin khỏi bàn. Còn nếu đích thật là Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc còn sống với tên HCM lại cố dùng “Cờ Đỏ Sao Vàng” là HCM đã manh nha làm chư hầu cho ngoại bang từ năm 1945!. Nên năm 1958, HCM đã đồng lõa với thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Tàu cộng, dâng hiến biển Đông của ta cho Tàu là không có gì lạ?!

IV- Cảm nghĩ về “lăng bác” hay đưa di ảnh vào chùa miếu: Nếu ai chịu khó bỏ tiền mua vé vào xem “lăng bác” thì thấy: “Thi hài Hồ Chí Minh đặt trong hòm kính, qua lớp kính trong suốt, thi hài để nằm ngửa trong bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân vẫn bị mang đôi dép cao su”. Dân tôi nghĩ tất cả các nước trên thế giới, chỉ có sở thú mới bán vé cho người ta vào xem thú vật, chứ người đã mất thì “nghĩa tử là nghĩa tận”, dù người ấy là Hồ Tập Chương trá hình để thực hiện ý đồ Hán hóa, hay Nguyễn Ái Quốc đã “bán nước cầu vinh” cũng không nên nhẫn tâm hành hạ xác người chết như vậy. Dân tôi mong mỏi quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức tai to mặt lớn trong chính quyền VN hiện nay, sớm hồi tâm nghĩ lại cho thi hài này được chôn cất như thường dân, đừng tiếp tục hành hạ trông tội nghiệp! Hơn nữa, về phong thủy: Những bức tranh có màu sắc tối tăm, nặng nề nếu nhìn hằng ngày sẽ khiến cho người xem hoảng loạn tinh thần. Treo hình ảnh, chân dung người đã quá cố; có thể tạo cảm giác thương nhớ, rầu rĩ cho mọi người thân, huống hồ gì là thi thể của một người đã chết mà lại để nằm chình ình với mục đích bán vé lấy tiền?!!.

Dân tôi còn nghe nói rằng di ảnh của HCM đem vào chùa hay nhà thờ để thờ cúng, nếu những tấm di ảnh này được để phía sau (hay dưới chân) bàn thờ Phật hay thờ Chúa, thì đây là điều tốt, vì biết đâu linh hồn HCM nghe kinh kệ lâu ngày sẽ ăn năn hối cải, mà từ đấy tội lỗi được tiêu trừ dần và hy vọng HCM sẽ được đi đầu thai thành kiếp khác?! Ngược lại, các người để ý đừng có lầm lẫn để di ảnh của HCM trước mặt (hay ngang hàng) với Đức Phật hay Đức Chúa, như vậy là hại HCM đấy, dù biết rằng Đức Phật từ bi, Đức Chúa bác ái, nhưng linh thần ở nơi đấy cũng khó tha thứ những kẻ đứng ngồi xấc xược, nhất là kẻ tội đồ dân tộc!

Dân tôi luôn trăn trở, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay xem HCM (dù thật hay giả) như cha già dân tộc, lập lăng hay thờ cúng nơi chùa miếu bằng cách cung kính, thì các ngài đã thật sự “nhận giặc làm cha” lầm lẫn quá rồi! Quê hương thật sự đen tối?!!!

Cuối cùng, dân tôi còn nghĩ rằng: Kẻ cướp khi muốn cướp của tiền hay chiếm đoạt ruộng vườn của lương dân hoặc gặp lúc nguy cần thoát thân thì có thể giết hại bất cứ ai, dù là: Quan lại, dân lành, nam nữ, già trẻ... nhưng kẻ cướp luôn tôn sùng, sợ sệt đại ca (thủ lĩnh) của hắn, dù đại ca của hắn là kẻ bất lương, vậy thì thủ lĩnh HCM dù thật hay giả vẫn là tội đồ của dân tộc, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay, còn khư khư tôn sùng HCM thì quí ngài giống đảng cướp lắm đấy! Nói đến quân cướp thì dân tôi lại không thể quên đảng cướp thường xuất hiện nhịp nhàng với công an hay đảng viên đảng CSVN, mỗi khi đàn áp Dân oan, như cưỡng chiếm ruộng vườn của lương dân ở Dương Nội Hà Đông, Văn Giang Hưng Yên, hay nhà của Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng... Dù sự thật là vậy, dân tôi cũng chưa tin hẳn Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cướp là một, mong quí ngài đừng phối hợp với bọn cướp hay cho công an làm đảng cướp để hại dân lương thiện nữa, vì như vậy toàn dân sẽ biết đảng CSVN là đảng cướp thật rồi đấy?!

Nếu ai đã sống ở Sài Gòn trước năm 1975 vào thời VNCH, đều biết rằng “Sài Gòn là viên ngọc viễn Đông” và tại miền Nam Việt Nam tiến bộ và phồn vinh hơn các nước Thái Lan, Nam Hàn, Phi Luật Tân... thế mà các nước này nhờ không có “học tập Hồ Đồ”, như “Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ngày nào cũng ra rả với chính sách ngu dân của dộc đảng là: “học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ”?! Họ (Thái, Phi...) đã tiến bộ vượt qua cái nước “Xã hội chủ nghĩa” tới mấy mươi lần, là vì sao vậy?! Từ đấy, dân tôi xin thưa với toàn thể bà con có phải “Bác Hồ” đã và đang ám ảnh gây nên điêu đứng toàn dân tộc và non nước Việt Nam không?! Xin thưa thêm, nếu “Tổ quốc mình đang lâm nguy thật sự” thì xin hỏi đồng bào rằng: Chúng ta nên nghĩ gì và làm gì?!

Ngày 10-9-2013

Nguyễn Lộc Yên

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.