Hôm nay,  

“Bác Hồ” Ám Ảnh

10/09/201300:00:00(Xem: 14613)
Nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) trong thế kỷ 20 đã gây cho dân tộc Việt Nam quá nhiều hệ lụy. Vậy chúng ta thử tìm hiểu những yếu tố cốt lõi nào mà HCM đã ám ảnh đến dân tộc và non nước Việt Nam.

I- Bối cảnh lịch sử thời cận đại: Kể từ năm 1945 vừa sau đệ nhị thế chiến, trước áp lực của quốc tế đòi hỏi chính quyền Pháp chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương. Hồ Chí Minh nhân đấy lập ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH), nhưng chưa được bất cứ quốc gia nào công nhận. Cuối năm 1946, cuộc đàm phán giữa Pháp và Việt Minh thất bại. Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại, tỏ ý muốn thành lập một nước Việt Nam độc lập. Thấy vậy, các lực lượng: Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng, đạo Hoà Hảo và Cao Đài; đã liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất; để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về độc lập cho Việt Nam.

Ngày 7-12-1947, tại cuộc họp trên tàu chiến của Pháp ở Vịnh Hạ Long; Bảo Đại và Pháp ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long, đã đồng thuận lập Quốc gia Việt Nam (QGVN) trên cơ sở độc lập và thống nhất một nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.

Ngày 5-6-1948, Bảo Đại lại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long lần 2, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1-1949, Bảo Đại yêu cầu Nam Kỳ thuộc về QGVN, được Pháp đồng ý. Ngày 8-3-1949, Tổng thống Pháp là Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysé xác nhận nền độc lập của VN, chính thức thành lập QGVN trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia trên thế giới đã công nhận Quốc gia Việt Nam. Ngày 4-6-1954, Thủ tướng Pháp là Joseph Laniel và Thủ tướng QGVN là Nguyễn Phúc Bửu Lộc ký hiệp ước thỏa thuận QGVN không còn trong Liên hiệp Pháp nữa, Pháp công nhận QGVN được độc lập hoàn toàn. Đất nước Việt Nam đang gầy dựng lại nền độc lập cho nước nhà.

Trong khi ấy HCM lại đem học thuyết của Karl Marx và Friedrich Engels để thực thi chế độ cộng sản tại Việt Nam là một sai lầm nghiêm trọng. Vì chế độ cộng sản của Marx-Lenin gây cảnh bần cùng hóa nhân dân với đầm đìa nước mắt và máu, như việc “Cải Cách Ruộng Đất” đã đấu tố 123.266 người bị chụp mũ là địa chủ và phú nông, mà họ thực tế là trung nông hay bị vu khống, đã bị Việt Minh sát hại tại chỗ hay giam cầm chết lần chết mòn!. Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của các văn nghệ sĩ và một số vị trí thức ở miền Bắc Việt Nam, khởi xướng từ đầu năm 1955 và đến tháng 6 năm 1958 thì bị Việt Minh dập tắt. Trong đấy có bài “Nhất định thắng” của Trần Dần, đã tả cảnh sống xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng những câu thơ thâm thúy:

Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ

Sau đó, tác giả bài thơ này bị quy tội chống phá chế độ?!.

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, số người theo Việt Minh (VM) từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60,000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam từ 5,000 đến 10,000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ. Trong khi đấy, số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam khoảng 1 triệu người. Tại miền Nam chính thể Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ra đời từ ngày 23-10-1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính phủ của ông thành lập nước VNCH tại miền Nam, đồng thời giải tán chính thể QGVN. VM lại ngấm ngầm rồi hùng hổ gây nội chiến tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, người hai miền Nam-Bắc đều là “Đồng bào”, nhưng lại tương tàn khốc liệt. Quân đội VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân Bắc Việt bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân: Việt Nam bị chết khoảng 3.000.000 người và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng số quân đội các bên, kể cả quân Mỹ giúp miền Nam; quân Tàu giúp miền Bắc... và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người. Riêng người Việt bị chết khoảng 4.350.000 người (250.000+1.100.000+3.000.000). Thưa Đồng bào, giả sử CSVN chiếm miền Nam, rồi đem cả nước Việt hiến dâng cho kẻ thù truyền kiếp (Tàu) thì đau đớn quá! Vì tại Hội nghị Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, tại thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ở nước Tàu, giữa các giới chức cao cấp Việt và Tàu, thỏa thuận rất bí mật (đã bật mí) có nhiều nguồn tin (như wikileaks) nước Việt Nam sẽ là tỉnh Quảng Nam của Tàu vào khoảng năm 2020, tuy nhiên cần kiểm chứng thêm?! Hơn nữa, dân tôi nghe nói rằng: Năm 1975, trong khi quân Bắc Việt đang đánh chiếm miền Nam Việt Nam, do Tổng bí thư Lê Duẫn chủ động, lại tuyên bố: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc"?!.

II- “Bác Hồ” là Hồ Tập Chương hay Nguyễn Ái Quốc?: Trong cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo ” (Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, là người đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan. Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01-11-2008, mã số của sách: ISBN: 9789866820779. Hồ Tuấn Hùng sinh năm 1949, tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, là cháu ruột Hồ Tập Chương. Tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” dày 342 trang, khổ 15 x 21 cm, bìa cứng, in chữ nổi. Đã được Thái Văn dịch ra Việt ngữ vào tháng Giêng năm 2013. THIÊN I đã viết về Hài kịch tráo rồng đổi phượng có đoạn ghi: “Nguyễn Ái Quốc nhiều năm đã mắc chứng lao phổi, tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát Hương Cảng bắt, được chuyển đến bệnh xá nhà giam điều trị, đầu năm 1932 mất tích, đến khoảng giữa tháng 7 và tháng 8 thì các báo đưa tin chết vì bệnh lao phổi. Cũng thời gian này các báo Hương Cảng, Anh Quốc, Pháp Quốc và Nga Xô đều viết, sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hương Cảng, không rõ lý do mất tích, sau đó bị bệnh qua đời”; như vậy sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, Cộng sản Quốc tế tráo Hồ Tập Chương thành Hồ Chí Minh?!. Mời bà con xem một bài thơ trong số 134 bài thơ “Nhật ký trong tù” từ năm 1942 đến năm 1943 của HCM, với những từ ngữ, câu văn hoặc phương ngôn thuộc ngữ hệ Khách Gia đã được tác giả chuyển hóa một cách nhuần nhuyễn sang từ ngữ Trung văn, chứng tỏ HCM rất am hiểu văn hóa Hán, lại thông thạo nhiều ngôn ngữ, từ cú khoáng đạt, ý tứ trôi chảy.

Bài 8, trang 145: Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước “lung” môn môn vị khai
“Lung” lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
*
Nam Trân - Xuân Thủy dịch: Buổi sớm
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.

Xin lưu ý là Nguyễn Ái Quốc biết về Trung văn chưa được thông hiểu sâu sắc, chứ từ ngữ địa phương ở Khách Gia thì làm sao biết được, như từ ngữ trong bài thơ này đã dùng chữ: “Lung”, tiếng Khách (Hẹ) chỉ nhà giam, phòng giam. Người Khách Gia ở Miêu Lật khi vào nhà giam gọi là “nhập lung”, ra khỏi nhà lao gọi là “xuất lung”, giam trong nhà lao gọi là “quan lung”. Trong khi ấy, những từ với ý nghĩa trên nếu ở Trung văn lại gọi là “nhập ngục”, “xuất ngục”, hầu như không ai dùng chữ “lung”. Trong “Nhật ký trong tù”, từ “lung” được hiểu là “nhà giam”, “nhà ngục” hoặc “nhà tù”. Chữ “Lung” đã được sử dụng trong hơn 10 bài thơ trong số 134 bài thơ.

III- Nỗi buồn xuất xứ của “Cờ Đỏ Sao Vàng”: Lá “Cờ Đỏ Sao Vàng” của đảng CSVN dùng từ năm 1945 lại giống như lá cờ của tỉnh Phúc Kiến của Tàu đã dùng vào năm 1933. Tỉnh Phúc Kiến là một tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Thế mà, một số người Việt lại tôn thờ và coi là lá cờ của dân tộc thì đó là một sai lầm rất lớn. Đáng tiếc, có rất nhiều người là đảng viên của đảng CSVN đã không dám nhìn thẳng vào sự thật phũ phàng này, hay chưa biết cờ đỏ sao vàng chính là cờ làm chư hầu?!. Dân tôi băn khoăn, nếu lá cờ này do Hồ Tập Chương đã lấy từ cờ của tỉnh Phúc Kiến để làm quốc kỳ nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là một âm mưu Hán hóa, xin khỏi bàn. Còn nếu đích thật là Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc còn sống với tên HCM lại cố dùng “Cờ Đỏ Sao Vàng” là HCM đã manh nha làm chư hầu cho ngoại bang từ năm 1945!. Nên năm 1958, HCM đã đồng lõa với thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Tàu cộng, dâng hiến biển Đông của ta cho Tàu là không có gì lạ?!

IV- Cảm nghĩ về “lăng bác” hay đưa di ảnh vào chùa miếu: Nếu ai chịu khó bỏ tiền mua vé vào xem “lăng bác” thì thấy: “Thi hài Hồ Chí Minh đặt trong hòm kính, qua lớp kính trong suốt, thi hài để nằm ngửa trong bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân vẫn bị mang đôi dép cao su”. Dân tôi nghĩ tất cả các nước trên thế giới, chỉ có sở thú mới bán vé cho người ta vào xem thú vật, chứ người đã mất thì “nghĩa tử là nghĩa tận”, dù người ấy là Hồ Tập Chương trá hình để thực hiện ý đồ Hán hóa, hay Nguyễn Ái Quốc đã “bán nước cầu vinh” cũng không nên nhẫn tâm hành hạ xác người chết như vậy. Dân tôi mong mỏi quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức tai to mặt lớn trong chính quyền VN hiện nay, sớm hồi tâm nghĩ lại cho thi hài này được chôn cất như thường dân, đừng tiếp tục hành hạ trông tội nghiệp! Hơn nữa, về phong thủy: Những bức tranh có màu sắc tối tăm, nặng nề nếu nhìn hằng ngày sẽ khiến cho người xem hoảng loạn tinh thần. Treo hình ảnh, chân dung người đã quá cố; có thể tạo cảm giác thương nhớ, rầu rĩ cho mọi người thân, huống hồ gì là thi thể của một người đã chết mà lại để nằm chình ình với mục đích bán vé lấy tiền?!!.

Dân tôi còn nghe nói rằng di ảnh của HCM đem vào chùa hay nhà thờ để thờ cúng, nếu những tấm di ảnh này được để phía sau (hay dưới chân) bàn thờ Phật hay thờ Chúa, thì đây là điều tốt, vì biết đâu linh hồn HCM nghe kinh kệ lâu ngày sẽ ăn năn hối cải, mà từ đấy tội lỗi được tiêu trừ dần và hy vọng HCM sẽ được đi đầu thai thành kiếp khác?! Ngược lại, các người để ý đừng có lầm lẫn để di ảnh của HCM trước mặt (hay ngang hàng) với Đức Phật hay Đức Chúa, như vậy là hại HCM đấy, dù biết rằng Đức Phật từ bi, Đức Chúa bác ái, nhưng linh thần ở nơi đấy cũng khó tha thứ những kẻ đứng ngồi xấc xược, nhất là kẻ tội đồ dân tộc!

Dân tôi luôn trăn trở, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay xem HCM (dù thật hay giả) như cha già dân tộc, lập lăng hay thờ cúng nơi chùa miếu bằng cách cung kính, thì các ngài đã thật sự “nhận giặc làm cha” lầm lẫn quá rồi! Quê hương thật sự đen tối?!!!

Cuối cùng, dân tôi còn nghĩ rằng: Kẻ cướp khi muốn cướp của tiền hay chiếm đoạt ruộng vườn của lương dân hoặc gặp lúc nguy cần thoát thân thì có thể giết hại bất cứ ai, dù là: Quan lại, dân lành, nam nữ, già trẻ... nhưng kẻ cướp luôn tôn sùng, sợ sệt đại ca (thủ lĩnh) của hắn, dù đại ca của hắn là kẻ bất lương, vậy thì thủ lĩnh HCM dù thật hay giả vẫn là tội đồ của dân tộc, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay, còn khư khư tôn sùng HCM thì quí ngài giống đảng cướp lắm đấy! Nói đến quân cướp thì dân tôi lại không thể quên đảng cướp thường xuất hiện nhịp nhàng với công an hay đảng viên đảng CSVN, mỗi khi đàn áp Dân oan, như cưỡng chiếm ruộng vườn của lương dân ở Dương Nội Hà Đông, Văn Giang Hưng Yên, hay nhà của Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng... Dù sự thật là vậy, dân tôi cũng chưa tin hẳn Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cướp là một, mong quí ngài đừng phối hợp với bọn cướp hay cho công an làm đảng cướp để hại dân lương thiện nữa, vì như vậy toàn dân sẽ biết đảng CSVN là đảng cướp thật rồi đấy?!

Nếu ai đã sống ở Sài Gòn trước năm 1975 vào thời VNCH, đều biết rằng “Sài Gòn là viên ngọc viễn Đông” và tại miền Nam Việt Nam tiến bộ và phồn vinh hơn các nước Thái Lan, Nam Hàn, Phi Luật Tân... thế mà các nước này nhờ không có “học tập Hồ Đồ”, như “Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ngày nào cũng ra rả với chính sách ngu dân của dộc đảng là: “học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ”?! Họ (Thái, Phi...) đã tiến bộ vượt qua cái nước “Xã hội chủ nghĩa” tới mấy mươi lần, là vì sao vậy?! Từ đấy, dân tôi xin thưa với toàn thể bà con có phải “Bác Hồ” đã và đang ám ảnh gây nên điêu đứng toàn dân tộc và non nước Việt Nam không?! Xin thưa thêm, nếu “Tổ quốc mình đang lâm nguy thật sự” thì xin hỏi đồng bào rằng: Chúng ta nên nghĩ gì và làm gì?!

Ngày 10-9-2013

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.