Hôm nay,  

Trường Hợp JFK

23/11/201300:00:00(Xem: 9351)
Ngày 22 tháng 11 năm 2013 là ngày đánh dấu lễ truy niệm cố Tổng Thống Hoa Kỳ JFK bị hạ sát tại Dallas-Texas đúng cách đây 50 năm. Lúc ấy Kennedy chỉ có 46 tuổi và người đã hạ sát ông là Lee Harvey Oswald, một cựu quân nhân bất mãn thuộc thủy quân lục chiến Mỹ, đã từng đào ngũ sang Liên Xô… JFK có quá khứ dằng co chống lại bệnh tật, đau yếu, tuy nhiên khi lên làm Tổng Thống ông đã tự tỏ ra là một gương mặt trẻ đầy sức sống, theo đuổi những lý tưởng cao quí, ông vô cùng xông xáo trên mọi địa hạt và ông bị sát hại. Do vậy ông được thế giới mến mộ và nhân dân Hoa kỳ sùng kính.

Cái chết oan uổng của Cố Tổng thống John F. Kennedy trở thành một thảm họa cho đất nước Hoa Kỳ. Người dân Mỹ đã vô cùng thương tiếc ông. Những cảm xúc trân quí của quần chúng Mỹ đối với cố Tổng thống Kennedy vào thời điểm đó đã vô tình nâng cao vị thế của ông trong dòng lịch sử ngang tầm với các tổng thống tài ba đạo đức hàng đầu của Hợp Chủng Quốc như George Washington, Abraham Lincoln. Mặt khác, đánh giá một nhà lãnh đạo, một vị tổng thống quan trọng như cố Tổng thống Kennedy mà chỉ dựa vào những xúc động xã hội, những thiện cảm sẵn có trong lòng người, khó có thể tránh được những phiến diện, thiếu chiều sâu, không công bằng với lịch sử…Do vậy, theo GS Joseph S.Nye, có những sử gia Mỹ cùng thời ấy và sau này đã đánh giá đúng mức vị trí khiêm tốn của Kennedy trong dòng lịch sử của Hoa Kỳ. Song song với những cảm xúc xã hội và thiện cảm của thời đại trước cái chết oan uổng của Kennedy, các sử gia cũng không quên quan tâm đến:

- Những bê bối về quan hệ tình dục của Kennedy (nhất là trong quan hệ tình dục với siêu sao điện ảnh Marilyn Monroe, một hiện thân tình dục cỡ lớn-A major Sex Symbol)

- khả năng xây dựng cơ chế lâp pháp của ông không được sáng lạn, nếu không muốn nói là hụt hẵn khi ông là thành viên của Thượng viện Hoa Kỳ (scant Legislative record)

- Ông không thực hiện được những gì ông đã hứa, ông đã mơ ước cho lịch sử Mỹ, GS Joseph S Nye gọi là: “his failure to match words with deeds”. JFK nói rất nhiều về Dân quyền, Giảm Thuế, Xóa đói Giảm nghèo…Nhưng cho đến khi ông chết, ông vẫn chưa có kế hoạch thực hiện, vẫn còn chỉ là những dự luật… Người thừa kế ông, Lyndon Johson, coi đây như là những di sản của ông để lại và Lyndon Johnson đã khéo léo dựa vào “cái chết vì lý tượng cao đẹp” của Kennedy, và tài lãnh đạo của riêng mình, Johnson đã thông qua lưỡng viện Quốc Hội Hoa kỳ những dự luật trên và biến thành những bộ luật thật sự.

Năm 2009 theo thống kê của một sử gia Hoa Kỳ chuyên về các đời Tổng Thống Mỹ đã sắp Kennedy vào hàng ngũ của 6 vị tổng thống quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ. Trong khi đó một thống kê mới nhất do những nhà khảo cứu của Vương Quốc Anh đã sắp Kennedy vào vị thế thứ 15 trong hàng ngũ của các Tổng thống Hoa Kỳ. Phải nói đây là một sự định vị rất ấn tượng cho một vị Tổng thống đã ngồi tại Nhà Trắng chưa đầy 3 năm, tròn trèm 1000 ngày. Liệu những gì ông ta đã làm cho nước Mỹ, và lịch sử Mỹ có gì khác lạ không, nếu ông ta thoát chết và còn sống sau tai nạn 22-11-1963 tại Dallas?

Cố Tổng thống Kennedy đã từng kêu gọi sự hy sinh của mọi giới công dân Mỹ, trong bài diễn văn nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ, JFK kêu gọi: “Đừng hỏi tổ quốc làm gì cho các bạn- mà phải tự hỏi các bạn đã làm gì cho tổ quốc. “. JFK là người thành lập Peace Corps. Chính JFK đã đặt viên đá đầu tiên cho dự án NASA đưa người Mỹ lên mặt trăng và những năm cuối thập kỷ 1960s. Ông cũng là người đề xuất tư tưởng Biên Cương Mới- New Frontier- mà hiệp hội tiến bộ với Châu Mỹ Latin- Alliance For Progress With Latin America- là một mặt của đề xuất này. Bên cạnh đó JFK đã can thiệp hữu hiệu vào những vấn đề da màu tại các đại học miền Nam nước Mỹ, xóa bỏ các lề đường dành riêng cho White và Non White. JFK đã giản hòa được mối xung đột giữa Hoa kỳ với châu u. Châu âu dưới triều đại của Kennedy đã nhìn Hoa Kỳ với đôi mắt nhiều thiện cảm hơn…JFK là nguồn cảm hứng cho nhiều người….

Qua những lời kêu gọi hy sinh, thành lập những Hiệp Hôi, Đoàn thể, xóa bỏ kỳ thị màu da …vừa kể ở trên của cố Tổng thống JFK các sử gia Mỹ vẫn thấy ông chưa hẳn là một nhà lãnh đạo có tư tưởng cách mạng, đưa ra những đề xuất có tính cách bức phá đưa nước Mỹ tiến đến một cấp độ cao hơn như nước Mỹ hiện tại dưới mắt ông. Những điều ông làm, những lời kêu gọi của ông có tính cách rất chừng mực, cẩn trọng, thể hiện đúng bản chất của một vị Tổng thống chú trong vào phát triển xã hội, đất nước, theo lối mòn cũ xưa hơn là mang tính cách đột phát, bức phá…phát triển đất nước và con người theo tư duy độc đáo của mình.


Ở đây có điều đáng ghi nhớ về cố Tổng thồng JFK là ông đã xử trí thích đáng sự cố: Sô Viết mang Hỏa tiển mang đầu đạn nguyên tử vào Cuba. Nền an ninh của Mỹ bị hâm dọa nghiêm trọng. Ông đã xử trí việc này với tư duy độc lập của ông dưới sức ép hiếu chiến từ phía các phe phái và Tướng lãnh diều hâu. Ông đã học những bài học quí giá từ những thất bại của chiến dịch Bay of Pigs Invasion và cuộc hành quân Operation Mongoose sau đó. Cố tổng thống JFK, giữ vững lập trường đàm phán vừa hoà hoãn vừa cứng rắn và ông đã thành công thuyết phục lãnh tụ Sô viết đương thời, Nikata Krutchev, một tên thô bạo từng cỗi giầy đập trên bàn tại Đại hội đồng thường niên Liên Hiệp Quốc. Phó Tổng Lyndon Johson lúc đó là một siệu diều hâu- Ultra Hawkish- đã phải lên tiếng: Vào thời điểm ấy nếu JFK không là Tổng thống Hoa Kỳ thì tình hình có lẽ tồi tệ và nghiêm trọng hơn nhiều.

Đối với nhiều người Việt Nam hiện tại, trong nước cũng như ở hải ngoại, có câu hỏi lớn về cái chết của cố Tổng thống JFK trong suốt 50 năm qua vẫn chưa được trả lời một cách thích đáng: Liệu việc hạ sát cố tổng thống JFK tại Dallas vào ngày 22-11-1963 có liên quan gì đến chính sách của chính phủ Kennedy tại miền Nam ViệtNam? Có điều chắc chắn khi JFK vừa lên nhậm chức Tổng thống năm 1961, vào lúc ấy lực lượng quân sự của Mỹ tại miền Nam ViệtNam chỉ có vài trăm quân. Nhưng sau đó, chính JFK đã tăng số quân này lên đến 15,000 người. Sau khi ông bị sát hại tại Dallas-1963, người thừa kế của ông, Tổng thống Lyndon Johnson đã tăng quân số Mỹ tại miền Nam ViệtNam lên đến hơn 500,000. Theo GS Joseph S. Nye, một số người ủng hộ Kennedy vào thời kỳ ấy đã nói rằng cố Tổng thống Kennedy không mắc phải những sai lầm tăng quân số Mỹ như thế, nhưng chính họ lại xác nhận rằng chính Tổng thống Kennedy đã đứng sau vụ đảo chánh chính phủ Sàigon vào ngày 1 tháng 11-1963 đã đưa đến sự sát hại cố Tổng Thống miền Nam ViệtNam Ông Ngô Đình Diệm cùng bào đệ của ông, cố vấn Ngô Đình Nhu, vào ngày 2-tháng 11-1963. Hai mươi ngày sau đó, chính JFK cũng bị Lee Harvey Oswald hạ sát tại Dallas, Texas vào ngày 22-11-1963. Liền sau đó, Lyndon Johnson, đồng lõa với một số cố vấn quân sự Mỹ, (những viên cố vấn này chống lại chủ trương rút quân đội Mỹ ra khỏi Miền Nam ViệtNam) cố tình quấy nhiễu làm cho tình trạng miền Nam VN tồi tệ hơn để cho họ có lý do đổ quân ào ạt vào miền Nam ViệtNam. Nhưng một số người nhiệt tình ủng hộ JFK như Arthur Schlesinger, Theodore Sorensen…cho hay là Tổng thống JFK có ý định rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam ngay sau khi ông đắc cử nhiệm kỳ hai vào năm 1964. Chính nhà sử học Schlesinger và Theodore Sorensen đã xác nhận cố Tổng thống JFK đã nói trắng ra những điều đó với TNS Mike Mansfield. Nhưng tất cả đều nghi ngại liệu cố Tổng thống Kennedy có thật tâm khi nói như vậy không? Vì Kennedy thường công khai tuyên bố ông cố duy trì thường xuyên thế quân sự thương phong của Mỹ tại miền Nam ViệtNam. Do vậy, câu hỏi ở trên của người Việt chúng ta cũng như của một số người Mỹ chân chính như Josepoh S. Nye vẫn còn bỏ ngõ, biết đến bao giờ chúng ta mới có được câu trả lời thích đáng?

GS Joseph S Nye đã đi đến kết luận: Với ông, Kennedy chỉ là một vị Tổng Thống Tốt-Good-chứ không phải là vị Tổng thống vĩ đại- Great- của Hợp Chủng Quốc. Điều làm cho ông là một vị tổng thống tốt không chỉ ở vào việc ông gây cảm hứng cho nhiều người khác mà còn là việc ông đã xử sự thận trọng trong chính sách ngoại giao khá nhiêu khê của chính phủ Hoa Kỳ.

Còn đối với chúng ta, những người ViệtNam trong nước cũng như hải ngoại việc đánh giá cố Tổng thống Hoa Kỳ-JFK- còn tùy thuộc vào câu trả lời về mực độ can thiệp của chính tổng thống Kennedy trong vụ đảo chánh chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 1-tháng 11-1963 đã dẫn đến việc sát hại cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông, cố vấn Ngô Đình Nhu. Hy vọng quí vị đồng ý với tôi như thế…./.

Đào Như

BS Đào Trọng Thể

[email protected]

Oak park, Illinois, USA

Nov.22nd 2013

GHI CHÚ VỀ NGUỒN

Các dữ kiện, sử liệu của bài viết này đều dựa trên website sau đây:

JFK RECONSIDERED-

http://www.project-syndicate.org/commentary/joseph-s--nye-looks-at-the-real-john-f--kennedy

Joseph S Nye- Former assistant Secretary of Defense and Chairman of the US National Intelligence Council- Professor at Harvard University….

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.