Hôm nay,  

Ngồi Buồn Nói Chuyện… AK

28/02/201400:00:00(Xem: 6343)
Đọc tuần báo Time số cuối năm, tôi khá ấn tượng về lời ai điếu người cha đẻ ra khẩu súng trường AK-47 của Liên xô, một vũ khí cá nhân có độ sát thương cao và đã xuất xưởng trên 100 triệu khẩu kể từ ngày có bằng sáng chế nhãn hiệu này mang chính tên ông.

Bản tin đăng trên chuyên mục dành cho các danh nhân thế giới đủ mọi lãnh vực vừa qua đời mà thân thế và sự nghiệp của họ có ảnh hưởng cả tốt (lẫn xấu) đến số phận nhiều người thậm chí chuyển đổi cả thế giới. Mới đây nhất, Võ Nguyên Giáp của Việt nam được vinh danh như ‘viên tướng chưa hề chiến bại’ nhưng cũng chỉ chiếm một khung nhỏ trong toàn chuyên mục chỉ có một trang.

Ấy vậy mà người cha đẻ AK-47 lại được trang trọng nhắc đến vừa có hình ảnh đính kèm vừa có phần tiểu sử ‘hoành tráng’ chiếm cả nửa trang, được ghi danh như ‘Người của chiến trận’ (Man of war) dù ông chỉ là một thượng tướng của Liên xô không có công trạng gì lớn, nhưng đưa đẩy thế nào lại tạo kiểu được khẩu súng trường tự động độc đáo mà trong cuốn hồi ký mới đây nhất đã lấy tựa đề ‘AK-47 làm chuyển đổi thế giới’, cuốn sách được kể như best-seller trên thị trường sách. Tôi đang tìm đọc cuốn này.

Vậy cha đẻ AK-47, ông là ai? Cứ theo dòng tiểu sử thì Mikhail Kalashnikov là một chiến sĩ tăng (thiết giáp) của Hồng quân Liên xô thời Đại chiến thứ hai, thấy đồng đội của mình là những người lính bộ binh được trang bị bởi vũ khí cá nhân quá nghèo nàn về hỏa lực, khiến cuộc chiến tranh vệ quốc tổn thất gần 20 triệu, nên nhờ có khiếu về cơ khí và tham khảo thêm sách vở, ông mày mò thế nào mà tạo ra được khẩu súng trường vừa ngắn vừa nhẹ có băng đạn cong với độ sát thương cao, vừa dễ xử dụng và bảo toàn trong chiến trận. Với tâm niệm khi chế tạo loại vũ khí sát thương này, ông chỉ muốn đồng đội ông xử dụng nó như một khí tài nhằm ‘bảo vệ đất mẹ’, nhưng không ngờ hiệu quả của nó đã nhanh chóng trở thành loại vũ khí cá nhân được phổ biến nhất trong các cuộc chiến tranh hậu bán thế kỷ 20!

Ngày nay AK-47 không còn là danh xưng của một khẩu súng, mà trở thành công cụ đồng hành với các phong trào tự phát của dân quân, của các cuộc nổi dậy, từ châu Á, châu Phi, trải dài qua châu Mỹ La-tinh, từ Việt nam đến Nicaragua, từ rừng già Mã lai đến sa mạc Trung Đông, AK-47 đã dính liền với các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh du kích, chiến tranh phá hoại, chiến tranh khủng bố, chưa kể khởi đầu nó lại được trang bị cho lính Nga trong cuộc đàn áp cuộc nổi dậy tại Hungary năm 1956, rồi binh sĩ của lực lượng khối Warsaw của Đông Âu, rồi gậy ông đập lưng ông, lại được chính nhóm majahadin của A-phú-hãn xử dụng nó để chống sự có mặt của Nga trên đất nước này buộc Liên xô phải rút quân hồi thập niên ’80.

Nhưng theo sự đánh giá của các nhà vũ khí học thì khi AK-47 rơi vào tay các lực lượng vũ trang của Cộng sản Bắc Việt mà người ta quen gọi là Việt Cộng trong chiến tranh Việt nam khởi đi từ giữa thập niên ‘60 thì AK trở thành vũ khí cá nhân được ‘ưa chuộng’ nhất. Chẳng vậy mà thủ tướng của Do Thái Sharon trong suốt 60 năm lúc nào cũng có khẩu AK và cái xẻng cá nhân trong thùng xe, ông còn trân trọng gọi nguyên chữ ‘khẩu Kalashnikov của tôi’. Mandela người yêu hoà bình và công lý khi phải quay sang chiến tranh phá hoại đã phải nhờ các đồng chí cộng sản bài học quân sự đầu đời, cách xử dụng…AK. Từ khi có chiến tranh khủng bố thì hình ảnh được tung trên mạng là ông trùm bin Laden đang bắn AK ở một xạ trường huấn luyện cho các đàn em và khi nơi ở bị lính Mỹ đột nhập, phản ứng đầu tiên của bà vợ là với tay lấy khẩu AK treo đầu giường thảy cho ông, nhưng số phần đứt đoạn nên ông trùm không xử dụng kịp.


Kể từ khi sáng chế khoảng 1947, nhiều giai thoại và huyền thoại được kể về khẩu súng này. Không nói đâu xa, chỉ ở quê mình, AK một thời đồng nghĩa với Việt Cộng. Các lính miền Nam khi báo cáo tổn thất hay dùng ‘phía ta’ và ‘phía AK’. Cũng chẳng dấu diếm lính Cộng hòa có phần ‘ghen tị’ khi bộ đội miền Bắc được trang bị vũ khí cá nhân vừa tiện dụng lại tối tân từ khối Liên xô, trong khi Mỹ chỉ chiụ trang bị cho mình khẩu M1 vừa dài hỏa lực lại yếu hơn, cho nên các sử gia sau này khi đánh giá cuộc chiến đã nhận xét về mặt hỏa lực không phải B 52 mà thực sự ‘khẩu AK làm chuyển đổi chiến tranh Việt nam’!

Sau chiến tranh, chúng tôi nhớ một giai thoại vui hồi đi tù cải tạo tai miền Bắc. Trong một đêm thanh vắng tại một trại giam vùng Trung du Vĩnh Phú, có tiếng kêu thất thanh từ một tù nhân, ‘cán bộ ơi!cứu tôi với!’. Hỏi ra mới biết anh ta đau sạn thận. Viên cán bộ đi tuần cũng chẳng biết làm gì hơn. Cấp cứu chưa thấy, rên rỉ một hồi, không chịu nổi, anh ta đánh bạo ‘xin cán bộ cho tôi một viên…AK’. Tất nhiên chuyện nghe như đùa nhưng có thật. Nay sang đến Mỹ, cựu đại úy Dũng vẫn được anh em gọi theo cái tên ‘Dũng AK’ sau lần sống sót nhờ chữa mẹo mà đái ra được một viên sỏi thận.

Trở lại chuyện cha đẻ AK, bản thân Mikhail Kalashnikov vốn là một chiến sĩ thuần thành, về hưu với quân hàm thượng tướng và danh hiệu Anh hùng lao động ở tuổi 70, Trùng hợp với thời điểm Liên xô tan rã, từ một người vô thần, ông quay về với những giá trị tinh thần và tâm linh của một người nông dân gốc Nga (cha ông cũng là một nông dân và tín đồ ngoan đạo của đạo Chính thống Orthodox Nga). Ông đâm ra trăn trở về việc sáng chế ra khẩu AK mà lúc đầu chỉ nhằm mục đích tự vệ, nay trở thành vũ khí tấn công và hệ lụy là nhiều số phận đã phải tử vong trong nhiều cuộc chiến tranh dù các phe hữu quan có nhân danh là gì đi nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông không hài lòng với hình ảnh bin Laden khi trùm khủng bố cầm khẩu AK được chiếu đi chiếu lại trên màn hình thế giới. Ông rất ghét những kẻ dùng AK để trang bị cho những đạo quân dấu mặt, cho mục tiêu phi đạo đức, cho thú chơi vũ khí của những kẻ vô trách nhiệm, cho các kẻ tâm thần, vô cảm đã xả AK vào các trường học, các trạm xe bus, các rạp hát, các nhà thờ…mà sau khi ông mất, bài aì điếu trên tờ Time phải than thở ‘ngày nay không nơi nào trên thế giới nằm ngoài tầm họng súng của Kalishnakov’!

Giai thoại mới nhất qua sự kiện thời sự ở Ukraina, tên ông lại được nhắc đến từ thủ tướng Nga, phụ tá cho Putin khi ông này hậm hực gán cho lãnh đạo phe nổi dậy được hậu thuẫn bởi ‘bọn người mang súng Kalishnakov đeo mặt nạ đen’ nhằm ám chỉ lực lượng đứng đàng sau phe thân Tây phương.

Mấy năm trước ngày ông mất, theo thói quen của người già thường lo cho ‘phần hồn’, ông có gởi cho Giáo chủ đạo Chính thống Nga một lá thư, nội dung có chỗ ông cảm thấy có trách nhiệm và là người ‘có tội’ khi sáng chế ra khẩu AK giết đi biết bao sinh mạng, vậy nếu chết đi ông có được lên thiên đàng không? Trước câu hỏi của một con chiên ngoan đạo, vị Giáo chủ không trực tiếp giải đáp (vì chuyện thiên đàng là chuyện của Chúa chẳng phải do người), chỉ ca ngợi ông có thiện ý khi làm việc này vì tinh thần yêu nước nhằm bảo vệ Tổ Quốc.

Phước thay là ông vẫn ngủ ngon, lạc quan, sống lâu, chết êm và thanh thản xa trần gian một đêm trước ngày Chúa giáng sinh ở tuổi 94.

ĐXT

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.