Hôm nay,  

Ngồi Buồn Nói Chuyện… AK

28/02/201400:00:00(Xem: 6162)
Đọc tuần báo Time số cuối năm, tôi khá ấn tượng về lời ai điếu người cha đẻ ra khẩu súng trường AK-47 của Liên xô, một vũ khí cá nhân có độ sát thương cao và đã xuất xưởng trên 100 triệu khẩu kể từ ngày có bằng sáng chế nhãn hiệu này mang chính tên ông.

Bản tin đăng trên chuyên mục dành cho các danh nhân thế giới đủ mọi lãnh vực vừa qua đời mà thân thế và sự nghiệp của họ có ảnh hưởng cả tốt (lẫn xấu) đến số phận nhiều người thậm chí chuyển đổi cả thế giới. Mới đây nhất, Võ Nguyên Giáp của Việt nam được vinh danh như ‘viên tướng chưa hề chiến bại’ nhưng cũng chỉ chiếm một khung nhỏ trong toàn chuyên mục chỉ có một trang.

Ấy vậy mà người cha đẻ AK-47 lại được trang trọng nhắc đến vừa có hình ảnh đính kèm vừa có phần tiểu sử ‘hoành tráng’ chiếm cả nửa trang, được ghi danh như ‘Người của chiến trận’ (Man of war) dù ông chỉ là một thượng tướng của Liên xô không có công trạng gì lớn, nhưng đưa đẩy thế nào lại tạo kiểu được khẩu súng trường tự động độc đáo mà trong cuốn hồi ký mới đây nhất đã lấy tựa đề ‘AK-47 làm chuyển đổi thế giới’, cuốn sách được kể như best-seller trên thị trường sách. Tôi đang tìm đọc cuốn này.

Vậy cha đẻ AK-47, ông là ai? Cứ theo dòng tiểu sử thì Mikhail Kalashnikov là một chiến sĩ tăng (thiết giáp) của Hồng quân Liên xô thời Đại chiến thứ hai, thấy đồng đội của mình là những người lính bộ binh được trang bị bởi vũ khí cá nhân quá nghèo nàn về hỏa lực, khiến cuộc chiến tranh vệ quốc tổn thất gần 20 triệu, nên nhờ có khiếu về cơ khí và tham khảo thêm sách vở, ông mày mò thế nào mà tạo ra được khẩu súng trường vừa ngắn vừa nhẹ có băng đạn cong với độ sát thương cao, vừa dễ xử dụng và bảo toàn trong chiến trận. Với tâm niệm khi chế tạo loại vũ khí sát thương này, ông chỉ muốn đồng đội ông xử dụng nó như một khí tài nhằm ‘bảo vệ đất mẹ’, nhưng không ngờ hiệu quả của nó đã nhanh chóng trở thành loại vũ khí cá nhân được phổ biến nhất trong các cuộc chiến tranh hậu bán thế kỷ 20!

Ngày nay AK-47 không còn là danh xưng của một khẩu súng, mà trở thành công cụ đồng hành với các phong trào tự phát của dân quân, của các cuộc nổi dậy, từ châu Á, châu Phi, trải dài qua châu Mỹ La-tinh, từ Việt nam đến Nicaragua, từ rừng già Mã lai đến sa mạc Trung Đông, AK-47 đã dính liền với các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh du kích, chiến tranh phá hoại, chiến tranh khủng bố, chưa kể khởi đầu nó lại được trang bị cho lính Nga trong cuộc đàn áp cuộc nổi dậy tại Hungary năm 1956, rồi binh sĩ của lực lượng khối Warsaw của Đông Âu, rồi gậy ông đập lưng ông, lại được chính nhóm majahadin của A-phú-hãn xử dụng nó để chống sự có mặt của Nga trên đất nước này buộc Liên xô phải rút quân hồi thập niên ’80.

Nhưng theo sự đánh giá của các nhà vũ khí học thì khi AK-47 rơi vào tay các lực lượng vũ trang của Cộng sản Bắc Việt mà người ta quen gọi là Việt Cộng trong chiến tranh Việt nam khởi đi từ giữa thập niên ‘60 thì AK trở thành vũ khí cá nhân được ‘ưa chuộng’ nhất. Chẳng vậy mà thủ tướng của Do Thái Sharon trong suốt 60 năm lúc nào cũng có khẩu AK và cái xẻng cá nhân trong thùng xe, ông còn trân trọng gọi nguyên chữ ‘khẩu Kalashnikov của tôi’. Mandela người yêu hoà bình và công lý khi phải quay sang chiến tranh phá hoại đã phải nhờ các đồng chí cộng sản bài học quân sự đầu đời, cách xử dụng…AK. Từ khi có chiến tranh khủng bố thì hình ảnh được tung trên mạng là ông trùm bin Laden đang bắn AK ở một xạ trường huấn luyện cho các đàn em và khi nơi ở bị lính Mỹ đột nhập, phản ứng đầu tiên của bà vợ là với tay lấy khẩu AK treo đầu giường thảy cho ông, nhưng số phần đứt đoạn nên ông trùm không xử dụng kịp.


Kể từ khi sáng chế khoảng 1947, nhiều giai thoại và huyền thoại được kể về khẩu súng này. Không nói đâu xa, chỉ ở quê mình, AK một thời đồng nghĩa với Việt Cộng. Các lính miền Nam khi báo cáo tổn thất hay dùng ‘phía ta’ và ‘phía AK’. Cũng chẳng dấu diếm lính Cộng hòa có phần ‘ghen tị’ khi bộ đội miền Bắc được trang bị vũ khí cá nhân vừa tiện dụng lại tối tân từ khối Liên xô, trong khi Mỹ chỉ chiụ trang bị cho mình khẩu M1 vừa dài hỏa lực lại yếu hơn, cho nên các sử gia sau này khi đánh giá cuộc chiến đã nhận xét về mặt hỏa lực không phải B 52 mà thực sự ‘khẩu AK làm chuyển đổi chiến tranh Việt nam’!

Sau chiến tranh, chúng tôi nhớ một giai thoại vui hồi đi tù cải tạo tai miền Bắc. Trong một đêm thanh vắng tại một trại giam vùng Trung du Vĩnh Phú, có tiếng kêu thất thanh từ một tù nhân, ‘cán bộ ơi!cứu tôi với!’. Hỏi ra mới biết anh ta đau sạn thận. Viên cán bộ đi tuần cũng chẳng biết làm gì hơn. Cấp cứu chưa thấy, rên rỉ một hồi, không chịu nổi, anh ta đánh bạo ‘xin cán bộ cho tôi một viên…AK’. Tất nhiên chuyện nghe như đùa nhưng có thật. Nay sang đến Mỹ, cựu đại úy Dũng vẫn được anh em gọi theo cái tên ‘Dũng AK’ sau lần sống sót nhờ chữa mẹo mà đái ra được một viên sỏi thận.

Trở lại chuyện cha đẻ AK, bản thân Mikhail Kalashnikov vốn là một chiến sĩ thuần thành, về hưu với quân hàm thượng tướng và danh hiệu Anh hùng lao động ở tuổi 70, Trùng hợp với thời điểm Liên xô tan rã, từ một người vô thần, ông quay về với những giá trị tinh thần và tâm linh của một người nông dân gốc Nga (cha ông cũng là một nông dân và tín đồ ngoan đạo của đạo Chính thống Orthodox Nga). Ông đâm ra trăn trở về việc sáng chế ra khẩu AK mà lúc đầu chỉ nhằm mục đích tự vệ, nay trở thành vũ khí tấn công và hệ lụy là nhiều số phận đã phải tử vong trong nhiều cuộc chiến tranh dù các phe hữu quan có nhân danh là gì đi nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông không hài lòng với hình ảnh bin Laden khi trùm khủng bố cầm khẩu AK được chiếu đi chiếu lại trên màn hình thế giới. Ông rất ghét những kẻ dùng AK để trang bị cho những đạo quân dấu mặt, cho mục tiêu phi đạo đức, cho thú chơi vũ khí của những kẻ vô trách nhiệm, cho các kẻ tâm thần, vô cảm đã xả AK vào các trường học, các trạm xe bus, các rạp hát, các nhà thờ…mà sau khi ông mất, bài aì điếu trên tờ Time phải than thở ‘ngày nay không nơi nào trên thế giới nằm ngoài tầm họng súng của Kalishnakov’!

Giai thoại mới nhất qua sự kiện thời sự ở Ukraina, tên ông lại được nhắc đến từ thủ tướng Nga, phụ tá cho Putin khi ông này hậm hực gán cho lãnh đạo phe nổi dậy được hậu thuẫn bởi ‘bọn người mang súng Kalishnakov đeo mặt nạ đen’ nhằm ám chỉ lực lượng đứng đàng sau phe thân Tây phương.

Mấy năm trước ngày ông mất, theo thói quen của người già thường lo cho ‘phần hồn’, ông có gởi cho Giáo chủ đạo Chính thống Nga một lá thư, nội dung có chỗ ông cảm thấy có trách nhiệm và là người ‘có tội’ khi sáng chế ra khẩu AK giết đi biết bao sinh mạng, vậy nếu chết đi ông có được lên thiên đàng không? Trước câu hỏi của một con chiên ngoan đạo, vị Giáo chủ không trực tiếp giải đáp (vì chuyện thiên đàng là chuyện của Chúa chẳng phải do người), chỉ ca ngợi ông có thiện ý khi làm việc này vì tinh thần yêu nước nhằm bảo vệ Tổ Quốc.

Phước thay là ông vẫn ngủ ngon, lạc quan, sống lâu, chết êm và thanh thản xa trần gian một đêm trước ngày Chúa giáng sinh ở tuổi 94.

ĐXT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.