Hôm nay,  

Tiếng Ve Mùa Cũ

22/05/201400:00:00(Xem: 5334)

Tuổi thơ của tôi cũng như bạn đã từng đi qua những mùa hè nóng bỏng râm ran tiếng ve sầu. Tiếng ve âm vang trong lớp học với hoa phượng đỏ tràn đầy ngoài song cửa. Và những câu thơ ngụ ngôn của La Fontaine:

Ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con...

Đó là một trong những bài học ấu thơ khuyên nhủ tuổi học trò chăm chỉ học hành cần mẩn như kiến, đừng lo ca hát chơi bời say sưa như ve. Để ngày sau đông giá hối tiếc…

Nơi tôi và bạn ở, đâu đâu cũng có ve khi hè về. Nhưng trong những ngôi nhà vườn, những vòm cây cao, những con đường ngập lá cỏ thì tiếng ve ra rả và thênh thang hơn suốt ngày. Những tiếng ve ấy lại càng âm vang xa và nhiều hơn khi cất lên trong mấy ngả tường thành, trong mấy vòm cổng nội phủ...Khi hoa phượng đỏ bắt đầu nở rộ, khi sen mặt hồ bắt đầu thoáng hương, những trái nhản lồng chín vàng trên cây và tiếng trống trường tưởng chừng như sắp lắng. Thì vang lên trong không gian ngập sắc màu và hương thơm cây trái ấy là tiếng ve. Lúc nhè nhẹ, lúc hân hoan, lúc thét gào...một khúc giao hưởng ngày hè.

Những tiếng ve ngày hè rộn ràng, háo hức và lấp lánh màu nắng vui, không như tiếng ve đêm. Bởi ve thường hát khi tìm bạn trong ánh ngày. Chỉ có những chú ve cô đơn xấu trai, kém tài và thiếu may mắn còn nỉ non trong đêm tối. Những tiếng ve đêm hè thật buồn cứ rơi chập chờn trong vườn đêm, lúc nhặt lúc thưa. Như muộn màng trách nhau những thủy chung tình ái. Rồi yên ắng chìm sâu trong bóng đêm mùa hạ tưởng chừng như an phận. Giấc ngủ đến với những ước mơ đời vui chợt bị đánh thức khuấy động bởi tiếng ve, nhiều lúc thảng thốt nghe như tiếng rao đêm của những mảnh đời nghèo khó, chân đất trên muôn ngõ vắng thôi còn xôn xao. Những tiếng ve đêm tưởng chừng như tiếng thở dài của lòng, khi thao thức nằm trăn trở chờ sáng...

Bọn trẻ ngày ấy không có nhiều trò chơi và thú giải trí gì cho ngày hè ngoài những trận đá banh chân đất, nướng cám vò đất sét đi câu cá tràu, trèo cây hái trái phượng ăn và đi câu ve bằng cần tre có dính chút nhựa mít đầu ngọn. Những con ve đực nằm yên trong vòm lá, kêu inh ỏi bạn tình mà không hề lưu ý đến những cần tre nhỏ dính keo vào cánh từ những chú bé nghịch ngợm.

Cuộc đời của ve thật nhiều điều kỳ thú và mang đầy triết lý. Điểm đặc thù là chu kỳ sống có một không hai của chúng. Ve nằm lặng lẽ dưới mặt đất trong nhiều năm liền (từ 3 đến 17 năm tùy loài). Đến một ngày đầu hè ấu trùng trồi lên mặt đất, leo lên cây, lột vỏ nhộng "kim thiền thoát xác" hong khô đôi cánh cứng và...ca hát. Sau khi tìm được bạn tình, yêu thương, đẻ trứng trên cành lá. Hai tháng hè ngắn ngủi yêu thương rồi chết, trứng trưởng thành rớt vào lòng đất, nằm kiên nhẫn chờ đợi nhiều năm nữa để làm lại một đời ca hát.

Có lẽ hình tượng hóa thân từ trứng - ấu trùng - đến một đôi cánh đẹp; từ nhiều năm ẩn dật náu thân trong lòng đất, trước khi đến với đời sống ngắn ngủi, rồi ra đi để lại một tiếng vọng mùa hè âm vang; tiếng ve sầu là nguồn thi hứng cho đời. Bàng bạc nhiều nhất trong những vần thơ Haiku Nhật Bản. Hảy nghe những câu thơ của Basho, thấm đượm mùi thiền. Khi lạc quan yêu đời thì tiếng ve cứ hồn nhiên giửa mùa hè ngắn ngủi, chẳng có vẻ gì sắp chết:

Cicadas singing
No sign
of dying soon.
.
Ve sầu ca hát miên man.
Sá gì cái chết, màng chi cuối hè

Khi lắng đọng nội tâm, chỉ một tiếng ve sầu cô đơn, như nỗi lặng thinh đơn côi, thấm sâu vào đá tảng. Thật trầm sâu triết lý như một công án thiền:

Lonely silence
a single cicada's cry
sinking into stone.
.
Ôi trong tỉnh lặng sa mù
Tiếng ve chìm lắng sâu vào đá xưa

Đó là những tiếng ve đơn độc. Khi ve cùng cất tiếng râm ran thì âm thanh như tiếng bè trầm, rồi dần lên cao, lên cao và trải dài miên man như không dứt như tiếng đại hùng chung.

Temple bell
also sounds like it is
cicada's voice
.
Lặng nghe một tiếng chuông chùa
Âm vang như thể lời ve nguyện cầu

Hay như tiếng ve chiều hôm nắng quái, thổn thức một hiện hữu giữa muôn trùng đại ngã, nơi chênh vênh đầu vực, cuối ghềnh đời của nhà thơ Maeda Fura:

The dawn cicada
makes itself heard
at this cape
.
Con ve chiều lên tiếng
mủi đất biển nơi này
Tiếng ve hay tiếng sóng
đánh thức một đời say

Và thảng thốt như trong xa xăm phôi pha, chợt vắng tiếng ve nỉ non, một thời reo vui như tình, trong thơ của Ishida Hakyo:

Utterly distant
when this one oil cicada
stops its cries
.
Từ em xa cách tột cùng
Khi ve thôi đã khóc cùng chia ly

blank
Hình ảnh Thiếu nữ và tiếng ve mùa cũ.

Người Nhật với nghệ thuật bonsai và haiku đã cho thấy sự đam mê và tỉnh thức trong từng nhánh cây, ngọn cỏ, hòn sỏi đến tiếng ve. Ngôn ngử Nhật dành biết bao nhiêu từ cho ve: Hatsuzemi là con ve đầu tiên cất tiếng ca, Semishigure là tiếng ve như mưa rào, Aburazemi là tiếng ve reo như dầu sôi, Kumazemi là tiếng ve ồn ào ra rả, Oshizemi là ve cái không tiếng kêu và Utsusemi là cái vỏ không khi ve lột xác...


Chu kỳ đời sống đặc thù của kiếp ve sầu cũng làm nên những câu chuyện cổ kỳ thú ở Hy Lạp: Rằng có một chàng trai tên là Eunomos, đánh đàn cithara (loại đàn cổ giống đàn lyre, tiền thân của đàn guitar) Trong một cuộc thi âm nhạc, vừa khi chàng bật âm cao cuối cùng để kết thúc giai điệu tuyệt vời thì dây đàn cithara đứt. Thần kỳ thay một chú ve sầu bay vào đậu trên cây đàn và hát thay cung bật. Eunomos thắng cuộc thi đó! Tiếng ve tượng trưng cho âm nhạc.

Cũng trong truyền thuyết Hy Lạp xưa, theo Plato thì nhà triết gia Socrates ngồi dưới gốc cây ven sông một chiều hạ, đàm đạo cùng người học trò Phaedrus (nghỉa là sáng suốt) trên cao tiếng ve hát râm ran. Socrates bảo Phaedrus đừng bao giờ xao lảng và buồn ngủ, hãy bàn đến những vấn đề minh triết. (Bởi theo Socrates đời sống có 4 đặc ân làm con người say đắm: lẽ tiên tri ngày mai - Sự giải thoát ràng buột hiện tại - Thi ca và Tình Ái.) Những chú ve vừa ca hát vừa lắng nghe những đàm thoại của họ. Sau đó bay về trình báo điều lành với những nàng Thơ Muse. Socrates bảo rằng từ trước khi những vị thần thi ca Muses ra đời, thì những con ve mang hình hài người. Khi âm nhạc đến trong đời, những con người (mang kiếp ve sầu) này say đắm ca nhạc. Họ cống hiến một đời ca hát đến quên ăn quên uống, đến thân xác tan biến. Những vị thần Muses thưởng cho những con người này hóa thành ve, cất tiếng ca miên trùng, được ca hát nỉ non mà không màng ăn uống nghỉ ngơi. Hát ca từ khi chào đời đến khi lìa trần, chỉ đôi lần thấm giọng bằng những hạt sương non, ve là hóa thân của thi ca và đời sống khắc kỷ của người thi sĩ.

We know that you are royally blest Cicada. When among the tree-tops, you sip some dew and sing your song; for every single thing is yours.

(Scratching the 17-year Poetic Itch. Mười bảy năm nôn nao - bài thơ cổ khiếm danh thế kỷ thứ 5)

Sau khi hóa thân vươn đôi cánh mềm, hong khô và mãnh liệt ca hát, ve sầu để lại chiếc vỏ khô mang dấu tích của một quá khứ trầm tư đầy hoài cảm. Như câu thơ của Stuart Dybek:

Chiếc vỏ của một con ve bám vào màn cửa là tất cả những gì còn sót lại từ bài ca chói chang rộn rã đêm qua. (Mùa thu nhiệt đới.)

Tiếng ve sầu miên man trở về hoài niệm những tháng năm xưa quê nhà. Có nghe lòng rung rung giọt sầu khi nhớ về kỷ niệm ấu thơ.

Nhà anh đầu suối
Nhà em cuối dòng
Suối có một lòng
Sao tình đôi ngả
Kể từ mùa hạ
Tê tái ve sầu
Đêm thắp đèn dầu
Chúng mình ngồi học
Giờ anh đi đâu
Chong đèn, em khóc
(Chong đèn. Phạm Thiên Thư)

Tê tái tiếng ve như tiếng lòng là vậy. Bởi tiếng ve làm khuấy động một khung trời ngày thơ, một mùa hè chia ly khi cùng chung nhau một đời suối, mà tình trôi mấy ngả… của một nhà thơ làm ngất ngây đời – đạo. Nhưng tuyệt vời nhất có lẽ một nỗi hờn của cỏi lòng người cư sỹ khi tự tình:

Còn nghe được tiếng ve sầu
Còn yêu đốm lửa đêm sâu bập bùng
Quê người trên đỉnh Trường Sơn
Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu (Tự Tình. Tuệ Sỹ).

Nhìn kiếp ve sầu không khỏi chạnh lòng nhớ đến kiếp người. Nếu có 17 năm nằm thao thức trong lòng đất, thì một chiều hôm đầu hạ, có chú ve non oằn mình vươn ra thân xác hẹp, thoát thai hóa thân làm đôi cánh phù vân. Rồi cất tiếng ca đồng vọng chỉ trong hai tháng hè ngắn ngủi. Hỏi sao lòng không bùi ngùi, thơ không ngừng rơi và nhạc không ngơi bay? Tiếng ve đó dù đơn côi lẻ loi cũng đủ làm đau một phiến đá, làm trở mình một con sóng đầu ghềnh, làm nối lại một cung tơ đành đoạn và làm minh triết một tỉnh thức kiếp người. Như tiếng đại hồng chung âm vang trong đêm hè vô minh.

Và tiếng ve đó ở trời Tây biêng biếc hay trời Đông mênh mang, có một giây phút thực tại khi lòng chùng xuống một hoài niệm ngàn trùng. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi như một sát na. Chỉ một tiếng ve nức nở của đầu hè háo hức hay nuối tiếc tâm khảm. Thì tiếng ve đó đủ làm xao động một bờ vai gầy nặng trỉu những mê hoan:

Hôm nay chợt nhớ thương người.
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh.
(Trần Dạ Từ)

Bây giờ là tháng Năm, chắc phượng đã thắm nơi quê cũ cùng tiếng ve miên man. Những cậu bé mười sáu, mười bảy tuổi thôi còn đi bắt ve sầu. Những cô bé tóc thề nay đã biết buồn vân vê tà áo học và bắt đầu lo âu về ngày mai bất toàn. Mười bảy năm niên thiếu có chuẩn bị gì cho đời những hân hoan? Mười bảy tuổi hoa niên qua đi ngắn ngủi như mười bảy âm vận trong bài thơ haiku. Kiêu sa mà đầy vọng động, thiết tha như mười bảy năm ve nằm trong lòng đất.

Mười bảy năm mê muội
trong lòng đất ăn năn.
Một đêm hè trở giấc
thoát thai cánh ve sầu.
Uống giọt sương của lá,
hát một mùa phiêu du.
Lại về trong lòng đất.
Tiếng ve vọng thiên thu (SB)

Như tiếng âm vang trong lòng cũ. Một trưa đầu hạ ở xứ người. Có câu thơ vụng về năm chữ. Rơi xuống thềm hoang một phận người. Cũng mong như tiếng ve sầu kêu vang giửa tháng năm mùa hè, đủ đánh thức một chút hiện hửu nhỏ nhoi trong kiếp mù sa luân hồi tội nghiệp.

Sean Bảo. Tháng Năm, 2014

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.