Hôm nay,  

Tính Ra GDP Để Làm Gì?

18/06/201500:00:00(Xem: 7022)

...nợ của TQ có thể sẽ nhân đôi trong bảy tám năm nữa thì mới duy trì được đà tăng trưởng 7%...
 
Khi lãnh đạo một quốc gia đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng là 7% hay 6,5% thì điều ấy có nghĩa là gì? Sâu xa hơn vậy, khái niệm Tổng sản lượng Kinh tế hay Tổng sản phẩm Xã hội, hoặc GDP là gì? Diễn đàn Kinh tế tìm giải đáp cho các câu hỏi đó qua phần phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Xin mời quý thính giả theo dõi cách Mặc Lâm nêu vấn đề….

 Mặc Lâm: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, cách đây mấy tháng, trong phiên họp của Quốc hội Trung Quốc, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã đề ra hai mục tiêu là duy trì mức tăng trưởng bền vững vào khoảng 7% và giải quyết gánh nợ quá lớn của nền kinh tế. Cách đây ít ngày, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam cũng nói đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ là 6,5%. Khi có những tuyên bố như vậy thì người ta nên nghĩ sao? Và đi sâu hơn vào vấn đề thì tăng trưởng là gì, làm sao đo lường được mức tăng trưởng đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin lần lượt đi vào vấn đề để tìm giải đáp cụ thể cho mấy câu hỏi này.

- Nói về tình hình Trung Quốc khi tuần trước chúng ta đã nêu câu hỏi về sự mạnh yếu của kinh tế xứ này thì mình nên nhớ vài chuyện trong bối cảnh. Trung Quốc đang có một vấn đề nghiêm trọng là gánh nợ quá cao của cả quốc gia. Theo các nguồn thẩm định đáng tin cậy thì kinh tế Trung Quốc đang mắc nợ từ 250% đến 282% của Tổng sản lượng GDP. Nếu ta chấp nhận ước tính phổ thông của các định chế quốc tế thì tính đến cuối năm ngoái, Tổng sản lượng của Trung Quốc ở khoảng hơn chín ngàn tỷ đô la, tức là xứ này có thể mắc nợ từ 22 ngàn 500 tỷ đến 25 ngàn 400 tỷ đô la.

- Chi tiết thứ hai đáng chú ý là gánh nợ của Trung Quốc đã tăng vọt và ngày càng nặng hơn trong mươi năm vừa qua. Giới kinh tế có một phép tính dễ nhớ là đếm thử xem kinh tế phải bơm thêm bao nhiêu tiền về tín dụng, hoặc vay thêm bao nhiêu tiền, để tạo thêm một đơn vị sản xuất. Như Trung Quốc phải bơm thêm bốn đồng vào kinh tế thì sản lượng mới tăng thêm được một đồng.  Khi Thủ tướng Bắc Kinh đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là 7% thì điều ấy có nghĩa là sản lượng kinh tế sẽ tăng thêm được 630 tỷ đô la. Muốn như vậy, họ phải bơm thêm gần ba ngàn tỷ tiền nợ. Với đà vay mượn quá cao như hiện nay, gánh nợ của Trung Quốc có thể sẽ nhân đôi trong bảy tám năm nữa thì mới duy trì được đà tăng trưởng 7%. Như vậy, làm sao giải quyết mục tiêu giảm nợ được?

- Kết luận ở đây là Thủ tướng Bắc Kinh đưa ra một chiến lược mâu thuẫn và hai mục tiêu bất khả. Trường hợp Việt Nam cũng không khác, khi lãnh đạo đưa ra một con số và treo lên đó nhiều hy vọng mà chẳng biết làm sao có thể đạt mục tiêu hay chỉ tiêu được đề ra.

Mặc Lâm: Nếu vậy thì chúng ta có thể tìm đến câu hỏi “tăng trưởng là gì”?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta tạm mường tượng ra một hình ảnh đơn giản sau đây cho dễ hiểu.

- Ta có một nhà máy sản xuất, một khu vực kinh tế hay một quốc gia. Trong một khoảng thời gian nhất định, như một năm, một quý hay một ngày, mình đưa vào đó một số nhập lượng hay tài sản như nguyên nhiên vật liệu và công sức con người, v.v… thì ở đầu ra sẽ có một số xuất lượng.

- Khi xuất lượng ở đầu ra trị giá cao hơn nhập lượng ở đầu vào thì ta có gia tăng sản xuất hay tái sản. Ngược lại, nếu xuất lượng thấp hơn nhập lượng thì ta không có sản xuất mà chỉ có sản nhập!

- Sai số hay sự khác biệt giữa xuất lượng và nhập lượng sẽ cho ta con số tăng trưởng. Tổng số tăng trưởng của quốc gia hay một khu vực kinh tế trong một thời khoảng nào đó được gọi là GDP, là Tổng sản lượng Nội địa hay Tổng sản phẩm Xã hội. Nếu so sánh GDP trong thời gian từ năm này qua năm khác, hay trong không gian từ xứ này qua xứ khác, thì mình có đà tăng trưởng, giả dụ là 7% hay 6,5%, là giá trị tài sản lên xuống đến cỡ nào. Vấn đề ở đây nằm ở chữ “giá trị” hay cách tính trị giá của nhập lượng và xuất lượng. Nếu cách tính đó thiếu chính xác - thí dụ như làm sao đo được sự ô nhiễm môi sinh trong chu trình sản xuất để tính thành tiền? - thì con số sản lượng, tăng trưởng hay GDP cũng thiếu chính xác. Tức là không đáng tin.
Mặc Lâm: Thưa ông, xét như vậy thì quả thật là vấn đề quá rắc rối vì ta phải đếm ra từng loại nhập lượng như nguyên liệu, nhiên liệu, hay công sức con người được đo bằng tiền lương lao động chẳng hạn, rồi mới cho mỗi nhập lượng này một trị giá thì sau cùng mới có con số về GDP. Mà số liệu này lại tùy thuộc vào quá nhiều yếu tố sai lạc như cách đếm và cách tính giá, nếu vậy thì tại sao người ta vẫn cần tính ra và nói đến GDP?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi rất hay vì cho thấy là ta nên thận trọng khi sử dụng số liệu này.

- Với rất cả những khiếm khuyết trong cách đếm và cách tính, người ta vẫn cần con số GDP. Thứ nhất, đó là một số liệu tạm về lượng tài sản hay sản lượng mà mình tạo ra. Không có một cái cân đo lường dù lệch lạc thì mình vẫn chẳng biết được kết quả lao động là gì. Thứ hai, con số GDP ấy cũng có ích để so sánh một nền kinh tế trong hai thời điểm khác nhau, hoặc hai nền kinh tế trong cùng một khoảng thời gian nhất định. Việc so sánh này mới thật sự là quan trọng.


Mặc Lâm: Nhưng thưa ông, nếu có sự sai lệch trong cách tính ra số liệu mà mình gọi là GDP thì việc so sánh ấy có còn giá trị hướng dẫn gì không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là vẫn có giá trị. Thí dụ như khi ta tính ra Tổng sản lượng của kinh tế Trung Quốc vào năm 2015 và so sánh với số liệu đó vào năm ngoái. Cho dù cách tính có thể sai nhưng nếu cái “sai” của năm nay và năm ngoái cứ nguyên như vậy thì mình vẫn có thể so được.

- Vấn đề xảy ra là trong hệ thống thu thập thống kê của Trung Quốc người ta thường xuyên thấy có sai lệch giữa số liệu của các cơ quan kiểm kê từ trung ương tới các chi nhánh địa phương và con số báo cáo của chính quyền địa phương trình lên trên. Thông thường, báo cáo về sản lượng của các địa phương luôn luôn cao hơn con số từ các phủ bộ của trung ương. Khi tính gộp lại thì Tổng sản lượng toàn quốc luôn luôn cao hơn con số của Cục Thống kê Quốc gia.

- Lý do giải thích ở đây nằm trong hệ thống chính trị. Các đảng viên cán bộ ở địa phương không chịu trách nhiệm với người dân ở dưới mà thăng quan tiến chức là nhờ thượng cấp ở trên, cho nên khi báo cáo lên trên họ có xu hướng tô hồng và lên mỗi cấp lại nống thêm một hệ số tô hồng với kết quả tổng hợp là một con số quá cao. Vì vậy, người ta rất khó cải tiến bộ máy thống kê của một xứ độc tài cho khả tín hơn nếu không cải cách chính trị. Sau cùng thì người ta phải tạm đo bằng cách khác và tìm ra một phần sự thật. Chẳng hạn như đà tăng trưởng không thể cao như vậy trong khi sản lượng điện than tiêu thụ lại giảm, là chuyện rất thường xảy ra tại Trung Quốc.

Mặc Lâm: Có phải đấy là nguyên nhân khiến cho thế giới không đánh giá cao chỉ tiêu kinh tế của các nước độc tài hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ có ba lý do trong hiện tượng gọi là “không đáng tin” này.

- Thứ nhất là cách thu thập thống kê thiếu chính xác. Thứ hai là khi đề ra chỉ tiêu, họ chỉ khích lệ cấp dưới báo cáo láo để vượt chỉ tiêu. Thứ ba là dù nhà nước cứ nắm lấy quyền quản lý kinh tế một cách duy ý chí, họ không thật sự chi phối được tất cả. Thí dụ như lãnh đạo Bắc Kinh đòi giảm nợ mà cứ duy trì đà tăng trưởng 7% thì họ vẫn duy ý chí và phủ nhận quy luật khách quan của kinh tế. Nếu muốn giảm nợ thì phải chịu một đà tăng trưởng thấp hơn, có khi chỉ 3-4% để sau dăm ba năm thì sẽ có nền móng lành mạnh hơn. Nhưng nếu vẫn muốn có 7% tăng trưởng mà không chấn chỉnh hệ thống tín dụng và ngân hàng thì chỉ chất thêm nợ và tất yếu bị khủng hoảng, tức là lao cỗ xe xuống vực cho lẹ hơn!

- Vì những nguyên nhân nói trên, các nước công nghiệp hóa không có cái lệ đặt ra chỉ tiêu cho cả nước, dù trong nước, từng doanh nghiệp đều lặng lẽ tính ra chỉ tiêu của quý sau, của năm tới. Đấy là một sự khác biệt quan trọng về tư duy và dẫn đến khác biệt về phương thức quản lý.

Mặc Lâm: Thưa ông, hồi nãy ông có nói đến hình ảnh của một cái cân lệch với hàm ý là nếu dùng cái cân lệch ấy để đo cùng một vật trong hai thời điểm thì việc so sánh ấy vẫn có giá trị. Các nước có cách nào điều chỉnh cái cân lệch ấy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa. - Các quốc gia văn minh đều ý thức được những khiếm khuyết của việc đo lường nên thường xuyên cải sửa và không tự cột mình vào một cái cân lệch. Khi họ điều chỉnh theo một phương pháp mới thì cũng tính ngược lại kết quả đã qua để có cùng một nền tảng so sánh cho thuần nhất hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là trong hệ thống dân chủ thì người đo đếm hoặc thu thập thống kê là một pháp nhân độc lập, lợi tức hay chức phận của họ không tùy thuộc vào cách cân đo. Nói cho cùng, nền dân chủ không là một thể chế vẹn toàn nhưng vẫn ít tệ nhất vì nhờ đó mà xã hội tránh được sai lầm và nếu có sai thì còn có người sửa. Trong một chế độ độc tài thì chẳng ai được làm trọng tài độc lập để vạch ra cái sai và khủng hoảng kinh tế thường dẫn tới khủng hoảng chính trị nên lãnh đạo càng không muốn cải sửa thì khủng hoảng càng dễ xảy ra.

Mặc Lâm: Câu hỏi sau cùng, hơi chuyên môn một chút, là khi ông nói đến tổng số tài sản phụ trội dược tạo thêm trong một chu trình sản xuất. Thưa ông, người ta có cách nào so sánh lượng tài sản của hai quốc gia trong cùng một thời điểm không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi chuyên môn này rất xác đáng vì cho chúng ta một cách nhìn khác.

- Thí dụ như khi tính rằng sản lượng GDP của Hoa Kỳ vào năm 2014 là khoảng 17 ngàn tỷ đô la và của Trung Quốc cùng năm đó thì mình có thể nói là kinh tế Mỹ giàu gần gấp hai kinh tế Tầu. Nhưng nếu đo tổng số tài sản của tư nhân tại hai nước thì mình có con số khác. Của dân Mỹ là gần 43 ngàn tỷ, của dân Tầu thì chỉ được chưa đầy năm ngàn tỷ, tức là chỉ bằng một phần chín mà thôi. Vì vậy khi cứ nghe người ta nói rằng kinh tế Trung Quốc đã hoặc sắp bắt kịp kinh tế Hoa Kỳ thì ta nên nhìn lại. Nếu cứ tin vào đó mà suy ngẫm về sức nặng chính trị thì còn sai lầm nữa.

Mặc Lâm: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.