Hôm nay,  

Chuyện Tình Đôi Sao

01/12/201500:00:00(Xem: 8125)

Hôm thứ ba 24/11/2015 tại tòa Bạch Ốc, TT Mỹ Obama đã trao tặng huy chương "Medal of Freedom 2015" - loại huy chương dân sự cao quí nhất của nước Mỹ - cho 17 công dân Mỹ xuất sắc trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, phục vụ công cộng và hoạt động xã hội. Hai trong số 17 người này là cặp vợ chồng ca nhạc sĩ Emilio và Gloria Estefan của ban nhạc "Miami Sound Machine" ở Florida. Tên huy chương "Medal of Freedom" đã phản ảnh đúng đối với hai người này; nhất là Gloria Estefan, với lập trường chống cộng sản kiên định và quá trình hoạt động nghệ thuật, chính trị không ngừng của cô; nổi tiếng nhất qua các thành tích: Từ chối sang Cuba hát trong dịp thăm viếng mục vụ của Thánh Giáo Hoàng John Paul II từ 21/1 đến 25/1/1998 theo lời mời của GHCG Cuba; phúc đáp lời mời hát tại Vatican bằng bức thư vạch trần tội ác của chế độ Fidel Castro đối với dân tộc Cuba nói chung, gia đình cô nói riêng; và khi hát thì nội dung sáng tác khiến chế độ cộng sản Cuba phải nhức đầu qua bản "Go Away" bóng gió đuổi khéo Fidel ra khỏi xứ sở của mình! Nhạc họ sáng tác và trình diễn đẹp ra sao thì chuyện tình của họ cũng đẹp làm vậy.

Gloria tên thật Gloria Maria Milagrosa Fajardo sinh ngày 1/9/1957; lập gia đình ngày 2/9/1998 lúc cô vừa tròn 21 tuổi. Vì mẹ cũng tên "Gloria" nên gia đình thường gọi cô là "Glorita", tên "cúng cơm" để phân biệt. Chuyện tình của cô bắt đầu từ một đám cưới mà ban nhạc Miami Latin Boys của Emilio Estefan được mướn đến phục vụ; trong đó thực khách Gloria đã lên hát giúp vui vài bài. Cô lúc đó mới 17 tuổi; tánh e lệ nhưng khi lên sân khấu lại khá dạn dĩ vì đã quen hát từ nhỏ. Có thể nói nếu mỗi người Việt là một nhà thơ thì mỗi người Cuba là một ca nhạc sĩ; vì âm nhạc là linh hồn của họ. Hôm ấy cô đi ăn cưới với mẹ Gloria Garcia và cô chị em họ tên Merci Murciano. Ban đầu được ban nhạc mời lên thử giọng nhưng cô từ chối. Tuy nhiên bà mẹ lại khuyến khích: "cứ hát đi Gloria; con hát hay đấy!". Thế là cô lên sân khấu và rủ Merci song ca như hai người vẫn từng hát chung bấy lâu nay. Lúc đó cô đang là sinh viên y khoa học bán thời gian tại University of Miami, Florida môn chính thần kinh học; đồng thời làm thông ngôn viên Anh, Pháp ngữ toàn thời gian tại Miami International Aiport.

Bị mê hoặc bởi cặp mắt đẹp, làn da trắng mịn màng và vẻ e lệ trinh nguyên của Gloria, anh nhạc trưởng Emilio đã phải chính thức mời cô gia nhập ban nhạc. Và vì có thêm giọng ca nữ, ban nhạc phải đổi tên là Miami Sound Machine từ 1976. Ban nhạc tuy nổi tiếng nhất trong vùng nhưng còn nghèo nên cô đã thỏa thuận chia tiền cho Merci khi hát chung. Mẹ cô chỉ cho đi hát cuối tuần với Merci vì buộc cô phải tốt nghiệp đại học. Hôm đầu trình diễn dĩ nhiên có bà mẹ và em gái đi hộ tống. Cả hai cô được nhận như ca sĩ hậu bị của ban nhạc. Lúc đầu chưa quen với số cử tọa đông, Gloria thường dõi mắt xuống sàn rạp trước khi hát; có lẽ để lấy lại tự tin; sau này được Emilio sửa sai "cứ xem như có một mình tôi trong studio nghe thôi"! Trưởng ban nhạc có lần còn đánh giá "tệ" rằng cô "cần phải tiến bộ thêm 95% nữa!" khiến sau này đã là bồ tèo rồi, Gloria để bụng câu nói và mắng yêu Emilio "bộ anh mê phần khiếm khuyết 5% còn lại của tui chắc!". Việc chọn một giọng ca nữ và là giọng ca chính cũng là một cải tiến mới lạ và chủ trương khác biệt với tiêu chuẩn thông thường của một ban nhạc Latino!

Thời gian này cũng là lúc bố cô phải vào viện dưỡng lão quân đội cho đến khi qua đời tại đó. Ông José Munuel Fajardo từng là hiến binh lái Harley hộ tống cựu Tổng Thống Cuba Fulgencio Batista trước khi Fidel cướp chính quyền hôm 1/1/1959. Ông vượt biên qua Mỹ một tháng sau khi hai mẹ con Gloria đến Miami tháng 5/1960; rồi ông bí mật gia nhập quân phục quốc. Chỉ vài tuần sau khi được thả cùng 1,112 tù binh phục quốc quân hôm 25/12/1962 sau trận Vịnh Con Heo thất bại hồi tháng 4/1961, ông gia nhập ngay U.S. Army; đem gia đình theo đến các trại binh đóng ở San Antonio TX và South Carolina. Khi ông sang Việt Nam phục vụ, vợ con ông phải bỏ trại gia binh để trở lại Miami. Ông rời Việt Nam năm 1967 rồi đóng quân tại Panama Canal; được giải ngũ vì căn bệnh xơ cứng màng tế bào (sclerosis) có lẽ do chất độc da cam ở mặt trận VN.

Sau khi cưỡng chiếm Cuba bằng vũ lực ngày 1/1/1959, nhà độc tài cộng sản Fidel Castro đã mấy lần thách thức tuyên bố cho tự do di dân nhưng thực tế dân chúng không còn tiền để hối lộ quan chức CS địa phương sau khi bị tước đoạt hết tài sản qua hình thức đổi tiền và các hình thức trưng thu, quốc hữu hóa khác; do đó không mấy ai đi được. Lần đầu với chiến dịch "Pedropan" từ 1960-1962 di tản 14,000 trẻ em mà một nửa là đoàn tụ, nửa kia tìm cha mẹ Mỹ nhận nuôi. Sau vụ hỏa tiễn Nga ở Cuba tháng 10/1962, việc di dân bị gián đoạn đến 1965 mới có chiến dịch "Freedom Flights" kéo dài đến 1970. Đến 1980, Fidel buộc phải hứa nữa; tạo nên chương trình "Mariel Boatlift" đưa được khoảng 125,000 người đến Florida. Nhưng gia đình ông anh José "Papo" Estefan của Emilio không nằm trong số này mà phải bay qua Costa Rica rồi đến Mỹ vài tháng sau đó bằng đường bộ.

Emilio nói với mẹ là anh không có tình ýý gì với cô ca sĩ; chỉ muốn ban nhạc lớn mạnh, thành công và bền vững để tạo sự nghiệp; không muốn trục trặc hay tan rã vì sì-căng-đan tình ái. Thế nhưng qua thán phục nhau, tình cảm của hai người ngày càng lớn dần và sâu đậm. Nhân một dịp lễ July Fourth, ban nhạc Miami Sound Machine được mời trình diễn trên một chiếc cruise du lịch. Trong giờ giải lao, Emilio nói dối hôm đó là "sinh nhật" của mình để có cớ xin Gloria cho mình một nụ hôn làm quà. Dĩ nhiên cô từ chối theo phản xạ của con nhà gia giáo; rồi cười nói "Không, em sẽ tặng anh một món quà". Nhưng áp dụng chiến thuật "đỉa đeo" cố hữu và lợi hại của nam giới, Emilio nài nỉ "chỉ một nụ hôn thôi mà; nhiều nhặn gì đâu!". Thế rồi Gloria bèn lưỡng lự, dè dặt đưa môi hôn vào cái bẫy má người có birthday giả, kẻ "giả hình" kia đã chớp lấy cơ hội ôm hôn người đẹp thắm thiết!

Cha mẹ của Emilio thấy Gloria thì chịu liền; nhất là bà nội của anh. Tuy nhiên mẹ của cô thì dè dặt và ái ngại cho việc học của con mình nên ra điều kiện tiên quyết rằng Gloria phải tốt nghiệp đại học; mọi chuyện khác chỉ là thứ yếu. Bà e rằng Emilio chỉ là một anh nhạc sĩ quèn; không xuất thân từ đại học, tương lai "không đi tới đâu"; "xướng ca vô loại" làm sao bảo đảm cuộc sống cho con gái bà?! Emilio ban đầu định từng bước lấy lòng bà "mẹ vợ" tương lai khó tính; dĩ nhiên không phải dễ trong hoàn cảnh anh phải dậy mỗi ngày từ 5 giờ sáng; vừa phải làm thư kí quảng cáo ở Bacardi suốt ngày; chiều đi học và làm mướn đủ nghề rồi tối còn phải đi đàn đến khuya. Emilio sống qua ngày; đi làm bằng xe đạp; bữa ăn thường là lon sữa và mấy cái bánh doughnut - loại bánh tầm thường mà nay là triệu phú rồi vẫn còn ghiền! Nhưng rồi anh dùng chiến thuật tập trung đánh vào "mặt trận" chính đối diện; quan trọng và cần "tiếp quản" càng sớm càng tốt; còn "mặt trận miền Tây" - bà già vợ kia - chỉ cần "vẫn yên tĩnh" là ô-kê!

Thế rồi vài ngày trước lễ Valentine 1978 tại nhà cha mẹ anh, Emilio thủ sẵn chiếc nhẫn hỏi trong túi quần; định sẽ tặng Gloria và hỏi cưới đúng vào ngày ấy nhưng vì nôn nao sốt ruột quá; thừa dịp Gloria đang ngồi thân mật tiếp chuyện mẹ mình, anh rút nhẫn ra tặng nàng. Gloria mở hộp nhẫn ra xem, cười và choàng tay qua ôm mẹ anh rồi bước sang ôm anh; một hình thức "say Yes" tế nhị. Mùa xuân năm sau, Gloria tốt nghiệp ưu hạng ra trường University of Miami; đồng thời cũng được nhận vào Sorbonne, Université de Paris ở Pháp nhưng bỏ không theo học mà cùng Emilio giốc hết thì giờ vào việc kiện toàn và phát triển ban nhạc. Emilio định làm đám cưới linh đình với một ban đại hòa tấu nhưng mẹ vợ cản ngăn; nại cớ bệnh tình của bố cô đang ở thời kỳ nguy kịch nhất.

Rồi một đám cưới đơn giản diễn ra hôm 2/9/1978 khi Gloria vừa tròn 21 tuổi. Cô dâu Gloria hiên ngang tiến bước vào thánh đường một mình; nói rằng không người đàn ông nào trên cõi đời này xứng đáng thay thế ông bố anh hùng để dẫn mình vào cung thánh theo đúng nghi lễ. Vị linh mục chủ tế hiểu ý nên đã rời bàn thánh xuống dẫn cô dâu đến với chú rể khi cô còn cách đó vài bước. Vị chủ tế già này cũng chính là vị chủ lễ hôn phối cho cha mẹ cô 22 năm về trước ở Havana, Cuba; khi quốc gia này còn tự do, dân chủ và thịnh vượng. Sau thánh lễ, cô dâu chú rể lặng lẽ rời thánh đường đến thẳng viện dưỡng lão quân đội Mỹ. Ông José Manuel Fajardo sau suốt nhiều tháng năm không nói một câu; nay thấy con gái lộng lẫy trong lễ phục cô dâu ngày cưới mới thốt lên "Glorita!" một cách yếu đuối từ trên giường bệnh như một lời chúc phúc súc tích nhất mà một người sắp lìa đời có thể làm nổi! Ông mất năm 1980 sau 13 năm dài chiến đấu với căn bệnh bất trị. Sau đám cưới mấy tuần, Gloria theo chồng về Santiago thăm gia đình anh chồng "Papo" còn kẹt lại "thiên đường cộng sản" Cuba.


Khác với ông bố tận tụy và anh hùng của Gloria, bố của Emilio suốt đời chỉ mê cờ bạc; không phải để kiếm tiền nuôi gia đình mà chỉ kiếm tiền để...gỡ! Có lần Emilio dành dụm được $1,200 định để mua trang bị lập nhà may và lo cho mẹ vé máy bay qua Mexico; đã bị ông bố lấy đi "nướng" hết sạch! Do đó gánh nặng gia đình đè lên hai vai người con trai 17 tuổi ngay từ khi hai bố con sang Mỹ tỵ nạn cộng sản qua ngả Madrid, Spain hồi tháng 2/1967. Do đó có lần ở Mỹ ông bố thắng ván bài lớn, Emilio phải giấu bớt một nửa tiền vào bao da đựng đàn để làm vốn sang tiệm may cho bố mẹ anh có công việc làm. Bà mẹ anh không cho gia đình tổ chức mọi tiệc birthday; thậm chí tiệc Noel; nại cớ gia đình ông con trai cả "Papo", giáo sư đại học Santiago môn năng lượng, còn kẹt lại Cuba mà vợ lại mới chết.

Emilio Estefan sinh ngày 4/3/1953 tại Santiago, cái nôi cộng sản của Fidel Castro ở Cuba. Anh từng chứng kiến cảnh Fidel đứng trên ban-công tòa thị sảnh tuyên bố chiến thắng hôm 1/1/1959, ngày đổi đời định mệnh cho gia đình anh và toàn dân xứ này. Bố Emilio Capetillo Estefan gốc Lebanon và mẹ Carmen gốc Spaniard là thương gia ngành may mặc nên tài sản, hãng xưởng và trang bị máy móc đều bị "giải phóng" toàn bộ; trắng tay như dân Saigon bên kia bán cầu 16 năm sau đó! Bà mẹ Carmen phải đi tỵ nạn CS qua ngả Mexico bằng máy bay rồi trốn qua Houston TX bằng đường bộ gian khổ năm 1970. Ông bà nội Jalin và Julia gốc Lebanon. Ông bà ngoại Antinio Gomez và Carmen Vasquez từng làm cho hãng rượu Bacardi nổi tiếng ở Spain và đã được chủ hãng Don Emilio Bacardi đích thân đứng ra làm chủ hôn cho hai người thời kỳ mới di cư sang Mỹ.

Emilio đàn accordion từ hồi 7 tuổi ở quê nhà; đến năm 17 tuổi ở Miami, anh phải nhờ ông dượng, chồng bà dì Javivi tốt bụng - người đã gởi từng gói thực phẩm và tiền bạc chắt chiu cho cha con anh từ Mỹ - đứng ra cosign mua trả góp chiếc accordion giá $277; mỗi tháng trả $17.58. Khi mới qua Mỹ, anh xin vào trường học nhạc; bị từ chối vì quá tuổi vì tuổi để nhập học từ 11 trở xuống. Sau thời gian hình thành hồi thập niên 1970s với Agustincio, Pundi, Carlitos, Danielito; và bổ sung hồi thập niên 1980s với Rafael Vigil, Joe Galdo, Lawrence Dermer; và nhất là sau ngày cưới, khi Emilio ngừng đàn để tập trung vào công việc điều hành và quản lí, ban nhạc Miami Sound Machine nay có thêm những tay cự phách như Marcos Avila (bass), Kiki Garcia (trống) và Raul Murciano (saxo và keyboard), người đã cưới Merci và sau bất đồng - đòi trình diễn lời Anh ngữ nhiều hơn - đã cùng vợ rời bỏ ban nhạc. Gloria và Emilio cũng đã đào tạo và hỗ trợ nhiều đồng nghiệp nổi danh như Carlos Ponce, Jon Secada, Shakira Mubarak...

Khi hạnh phúc đến tràn đầy với hai con Nayib và Emily đồng thời định sẽ sanh đứa thứ ba - bất thành vì tai nạn; khi sự nghiệp lên đến tuyệt đỉnh tiền tài và danh vọng thì cũng như một định luật của tạo hóa, Gloria gặp vận xui - một dịp nữa để cô chứng tỏ nghị lực và can trường: Tháng 3/1990 sau khi rời White House theo lời mời của TT George Bush (bố), gia đình vợ chồng cô đi New York bằng tourbus để dự cơm tối với đồng nghiệp Toomy Mottola. Hôm sau trên đường đến Syracuse qua ngả Pennsylvania, xe bus của họ đã bị một xe vận tải đụng ngang hông rất mạnh. Không ai trong xe bị thương nặng nhưng Gloria bị ngất xỉu phải vào Scranton Hospital gần đó để cấp cứu. Khi được xác nhận là gãy cột sống, cô được không vận về New York để giải phẫu và uốn đốt xương sống bằng nẹp kim loại titanium với tiên đoán của bác sĩ rằng sẽ bị bại liệt suốt đời.

Nhưng lạ thay, với lời cầu nguyện, ýchí khí và nghị lực; với niềm yêu đời, yêu nghề và đức tính kiên trì nhẫn nại, cô đã nhanh chóng bình phục và xuất viện chỉ sau hai tuần điều trị. Danh ca người Spaniard, Julio Igosias đã cho mượn máy bay riêng để Gloria về nhà làm therapy tại chỗ dự trù kéo dài 6 tháng. Mỗi ngày cô phải tập ngồi, tập đứng rồi tập đi; từ lẫm chẫm từng bước ngắn đến bước dài. May thay, căn nhà hai tầng mới xây ở Star Island trong Biscayne Bay có gắn thang máy do sáng kiến của chính cô; dự trù để cho bố xử dụng sau khi bình phục nhưng bố đã nhường cho cô con gái dùng đúng lúc. Chả thế mà mới 4 tháng, cô đã cùng gia đình đi được đến studio của mình.

Có lẽ Gloria với nghị lực mạnh cá biệt sẵn có cộng với tấm gương kiên trì nhẫn nại học được của hai danh ca Julio Igosias và Edith Piaf - hai người đã từng bị tai nạn xe thảm khốc như cô - đã hồi phục nhanh ngoài dự liệu của bệnh viện. Trong lúc có mặt tại studio, Emilio lục trong túi quần thấy có tấm giấy nhỏ; có lẽ sống sót qua nhiều trận lốc xoáy nước của máy giặt nhưng vẫn còn dòng chữ đọc được "Coming out of the dark". Nhận thấy đây là dấu hiệu của vận may; vả lại, tình yêu nồng nàn và cảm hứng cao độ đã khiến họ sáng tác bản nhạc cùng tên để rồi chưa đầy một năm sau, hồi tháng 1/1991, Gloria đã bình phục hẳn và trở lại sân khấu; lộng lẫy trong trang phục nhung gấm và hát xuất thần bản nhạc ấy trong đêm phát giải American Music Awards!

Thế rồi họ mua cổ phần của NFL tháng 1/2009; rồi bản nhạc "Monday Night Football" ra đời. Họ mua Cardozo Hotel có Cardozo Bar & Grill; xây hồi thập niên 1930s cũng trên Ocean Dr. rồi tân trang và đổi tên thành "Costa d'Este (East Coast) Beach Resort" với ngụ ýý "Este" là chữ tắt của tên dòng họ "Estefan" của mình. Họ mở "Bongos Cuban Café" nổi tiếng và nhiều chi nhánh cho đến nay. Họ có cổ phần trong Sony, Pepsi, AT&T, Starbucks. Họ lập Estefan Enterprises, Crescent Moon Records, Sony Worldwide Artist Development để gây vốn. Họ lập "Gloria Estefan Foundation" năm 1993 để gây quĩ giúp người tỵ nạn CS đồng hương Cuba ở trại tỵ nạn Guatanamo, bệnh nhân bại liệt, học sinh nghèo, thương phế binh Mỹ, nạn nhân các trận bão lụt Andrew, George, Katrina,..vv.. Sau ngày 11 Sept. 2001, họ tổ chức sân khấu với 60 nghệ sĩ nổi danh đồng ca "El Ultimo Adios" gây quĩ cho American Red Cross giúp nạn nhân khủng bố Hồi giáo.

Họ là thượng khách của TT Nelson Mandela (S. Africa), TT Bush bố và Bush con, TT Clinton, TT Obama, vua Juan Carlos và hoàng hậu Sophia (Spain), tỷ phú Donald Trump. Tên ban nhạc "Miami Sound Machine" của họ được đặt cho một đại lộ của thành phố. Emilio được tặng Star trên Hollywood Walking Fame. Cơ quan Ellis Island Foundation công bố giải "Ellis Island Family Herritage Awards" đã tặng gia đình Estefan chứng chỉ "B.C. Forbes Peopling of America Award" dành cho các gia đình di dân qua ngả hải cảng miền đông, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do.

Họ được tặng nhiều giải American Grammy Awards, nhiều giải Latin Grammy Awards, nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự, giải Pop Songwriter of the Year... Gloria đoạt giải Alma Awards về thành tích "thành tựu trọn đời" về âm nhạc. Mỗi lần nhận giải, họ luôn nói "cám ơn" nước Mỹ; hoặc bạn họ nói cám ơn "Columbia, Mexico..." nhưng không ai nói "cám ơn" Cuba với chế độ cộng sản độc tài đang thống trị, cướp của giết người và xua đuổi công dân để chiếm đất nước làm của riêng như CSVN. Họ cũng hiến tặng rộng lượng tài vật cho nạn nhân chiến tranh, nghèo đói, thiên tai và bệnh tật qua nhiều tổ chức từ thiện và quốc gia. Gloria định nghĩa "rộng lượng" không phải là "có bao nhiều và cho bao nhiêu"; mà là "có bao ít và cho bao nhiều"? Đặc biệt họ suốt đời tạ ơn nước Mỹ, quốc gia đã cưu mang họ và ban cho họ các vốn liếng quí giá của con người là nhân phẩm, cơ hội và nhất là Tự Do; những thứ đã bị chế độ hai anh em Fidel và Raul Castro tước đoạt mất từ tay Thượng Đế.

Cho nên đối với bọn độc tài cộng sản đang đứa "ngủ" ở Cuba và xin Mỹ bỏ cấm vận, đứa "thức" ở Việt Nam xin mua vũ khí sát thương; thay phiên nhau ngày đêm canh chừng để cướp của giết người và bán nước - như tên "chủ tịch" nước VC Nguyễn Minh Triết đã lố bịch mô tả một cách trào phúng - thì Gloria và Emilio Estefan không thèm bố thí; dù chỉ một xu! Cương nghị là thế! Lập trường bất di dịch là thế! Tầm vóc Gloria và Emilio Estefan là thế! Vĩ đại và đáng ngưỡng mộ là thế! Ngoài cặp vợ chồng Estefans, 15 người kia gồm: Barbara Streisand, Steven Spielberg, Stephen Sondheim, James Taylor, Itzhak Perlman, Willie Mays, Katherine G. Johnson, Bonnie Carroll, Sen. Barbara Mikulski, Rep. Lee Hamilton, William Ruckelshaus, Yogi Berra, Shirley Chisholm. Billy Frank Jr và Minoru Yasui do thân nhân thay mặt lãnh thế vì họ đã qua đời. Ruckelshaus đến từ Washington State.

HÀ BẮC
(tham khảo hồi kí của Emilio Estefan, The Washington Post và The Associated Press)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.