Hôm nay,  

Chuyện Tình Đôi Sao

01/12/201500:00:00(Xem: 7988)

Hôm thứ ba 24/11/2015 tại tòa Bạch Ốc, TT Mỹ Obama đã trao tặng huy chương "Medal of Freedom 2015" - loại huy chương dân sự cao quí nhất của nước Mỹ - cho 17 công dân Mỹ xuất sắc trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, phục vụ công cộng và hoạt động xã hội. Hai trong số 17 người này là cặp vợ chồng ca nhạc sĩ Emilio và Gloria Estefan của ban nhạc "Miami Sound Machine" ở Florida. Tên huy chương "Medal of Freedom" đã phản ảnh đúng đối với hai người này; nhất là Gloria Estefan, với lập trường chống cộng sản kiên định và quá trình hoạt động nghệ thuật, chính trị không ngừng của cô; nổi tiếng nhất qua các thành tích: Từ chối sang Cuba hát trong dịp thăm viếng mục vụ của Thánh Giáo Hoàng John Paul II từ 21/1 đến 25/1/1998 theo lời mời của GHCG Cuba; phúc đáp lời mời hát tại Vatican bằng bức thư vạch trần tội ác của chế độ Fidel Castro đối với dân tộc Cuba nói chung, gia đình cô nói riêng; và khi hát thì nội dung sáng tác khiến chế độ cộng sản Cuba phải nhức đầu qua bản "Go Away" bóng gió đuổi khéo Fidel ra khỏi xứ sở của mình! Nhạc họ sáng tác và trình diễn đẹp ra sao thì chuyện tình của họ cũng đẹp làm vậy.

Gloria tên thật Gloria Maria Milagrosa Fajardo sinh ngày 1/9/1957; lập gia đình ngày 2/9/1998 lúc cô vừa tròn 21 tuổi. Vì mẹ cũng tên "Gloria" nên gia đình thường gọi cô là "Glorita", tên "cúng cơm" để phân biệt. Chuyện tình của cô bắt đầu từ một đám cưới mà ban nhạc Miami Latin Boys của Emilio Estefan được mướn đến phục vụ; trong đó thực khách Gloria đã lên hát giúp vui vài bài. Cô lúc đó mới 17 tuổi; tánh e lệ nhưng khi lên sân khấu lại khá dạn dĩ vì đã quen hát từ nhỏ. Có thể nói nếu mỗi người Việt là một nhà thơ thì mỗi người Cuba là một ca nhạc sĩ; vì âm nhạc là linh hồn của họ. Hôm ấy cô đi ăn cưới với mẹ Gloria Garcia và cô chị em họ tên Merci Murciano. Ban đầu được ban nhạc mời lên thử giọng nhưng cô từ chối. Tuy nhiên bà mẹ lại khuyến khích: "cứ hát đi Gloria; con hát hay đấy!". Thế là cô lên sân khấu và rủ Merci song ca như hai người vẫn từng hát chung bấy lâu nay. Lúc đó cô đang là sinh viên y khoa học bán thời gian tại University of Miami, Florida môn chính thần kinh học; đồng thời làm thông ngôn viên Anh, Pháp ngữ toàn thời gian tại Miami International Aiport.

Bị mê hoặc bởi cặp mắt đẹp, làn da trắng mịn màng và vẻ e lệ trinh nguyên của Gloria, anh nhạc trưởng Emilio đã phải chính thức mời cô gia nhập ban nhạc. Và vì có thêm giọng ca nữ, ban nhạc phải đổi tên là Miami Sound Machine từ 1976. Ban nhạc tuy nổi tiếng nhất trong vùng nhưng còn nghèo nên cô đã thỏa thuận chia tiền cho Merci khi hát chung. Mẹ cô chỉ cho đi hát cuối tuần với Merci vì buộc cô phải tốt nghiệp đại học. Hôm đầu trình diễn dĩ nhiên có bà mẹ và em gái đi hộ tống. Cả hai cô được nhận như ca sĩ hậu bị của ban nhạc. Lúc đầu chưa quen với số cử tọa đông, Gloria thường dõi mắt xuống sàn rạp trước khi hát; có lẽ để lấy lại tự tin; sau này được Emilio sửa sai "cứ xem như có một mình tôi trong studio nghe thôi"! Trưởng ban nhạc có lần còn đánh giá "tệ" rằng cô "cần phải tiến bộ thêm 95% nữa!" khiến sau này đã là bồ tèo rồi, Gloria để bụng câu nói và mắng yêu Emilio "bộ anh mê phần khiếm khuyết 5% còn lại của tui chắc!". Việc chọn một giọng ca nữ và là giọng ca chính cũng là một cải tiến mới lạ và chủ trương khác biệt với tiêu chuẩn thông thường của một ban nhạc Latino!

Thời gian này cũng là lúc bố cô phải vào viện dưỡng lão quân đội cho đến khi qua đời tại đó. Ông José Munuel Fajardo từng là hiến binh lái Harley hộ tống cựu Tổng Thống Cuba Fulgencio Batista trước khi Fidel cướp chính quyền hôm 1/1/1959. Ông vượt biên qua Mỹ một tháng sau khi hai mẹ con Gloria đến Miami tháng 5/1960; rồi ông bí mật gia nhập quân phục quốc. Chỉ vài tuần sau khi được thả cùng 1,112 tù binh phục quốc quân hôm 25/12/1962 sau trận Vịnh Con Heo thất bại hồi tháng 4/1961, ông gia nhập ngay U.S. Army; đem gia đình theo đến các trại binh đóng ở San Antonio TX và South Carolina. Khi ông sang Việt Nam phục vụ, vợ con ông phải bỏ trại gia binh để trở lại Miami. Ông rời Việt Nam năm 1967 rồi đóng quân tại Panama Canal; được giải ngũ vì căn bệnh xơ cứng màng tế bào (sclerosis) có lẽ do chất độc da cam ở mặt trận VN.

Sau khi cưỡng chiếm Cuba bằng vũ lực ngày 1/1/1959, nhà độc tài cộng sản Fidel Castro đã mấy lần thách thức tuyên bố cho tự do di dân nhưng thực tế dân chúng không còn tiền để hối lộ quan chức CS địa phương sau khi bị tước đoạt hết tài sản qua hình thức đổi tiền và các hình thức trưng thu, quốc hữu hóa khác; do đó không mấy ai đi được. Lần đầu với chiến dịch "Pedropan" từ 1960-1962 di tản 14,000 trẻ em mà một nửa là đoàn tụ, nửa kia tìm cha mẹ Mỹ nhận nuôi. Sau vụ hỏa tiễn Nga ở Cuba tháng 10/1962, việc di dân bị gián đoạn đến 1965 mới có chiến dịch "Freedom Flights" kéo dài đến 1970. Đến 1980, Fidel buộc phải hứa nữa; tạo nên chương trình "Mariel Boatlift" đưa được khoảng 125,000 người đến Florida. Nhưng gia đình ông anh José "Papo" Estefan của Emilio không nằm trong số này mà phải bay qua Costa Rica rồi đến Mỹ vài tháng sau đó bằng đường bộ.

Emilio nói với mẹ là anh không có tình ýý gì với cô ca sĩ; chỉ muốn ban nhạc lớn mạnh, thành công và bền vững để tạo sự nghiệp; không muốn trục trặc hay tan rã vì sì-căng-đan tình ái. Thế nhưng qua thán phục nhau, tình cảm của hai người ngày càng lớn dần và sâu đậm. Nhân một dịp lễ July Fourth, ban nhạc Miami Sound Machine được mời trình diễn trên một chiếc cruise du lịch. Trong giờ giải lao, Emilio nói dối hôm đó là "sinh nhật" của mình để có cớ xin Gloria cho mình một nụ hôn làm quà. Dĩ nhiên cô từ chối theo phản xạ của con nhà gia giáo; rồi cười nói "Không, em sẽ tặng anh một món quà". Nhưng áp dụng chiến thuật "đỉa đeo" cố hữu và lợi hại của nam giới, Emilio nài nỉ "chỉ một nụ hôn thôi mà; nhiều nhặn gì đâu!". Thế rồi Gloria bèn lưỡng lự, dè dặt đưa môi hôn vào cái bẫy má người có birthday giả, kẻ "giả hình" kia đã chớp lấy cơ hội ôm hôn người đẹp thắm thiết!

Cha mẹ của Emilio thấy Gloria thì chịu liền; nhất là bà nội của anh. Tuy nhiên mẹ của cô thì dè dặt và ái ngại cho việc học của con mình nên ra điều kiện tiên quyết rằng Gloria phải tốt nghiệp đại học; mọi chuyện khác chỉ là thứ yếu. Bà e rằng Emilio chỉ là một anh nhạc sĩ quèn; không xuất thân từ đại học, tương lai "không đi tới đâu"; "xướng ca vô loại" làm sao bảo đảm cuộc sống cho con gái bà?! Emilio ban đầu định từng bước lấy lòng bà "mẹ vợ" tương lai khó tính; dĩ nhiên không phải dễ trong hoàn cảnh anh phải dậy mỗi ngày từ 5 giờ sáng; vừa phải làm thư kí quảng cáo ở Bacardi suốt ngày; chiều đi học và làm mướn đủ nghề rồi tối còn phải đi đàn đến khuya. Emilio sống qua ngày; đi làm bằng xe đạp; bữa ăn thường là lon sữa và mấy cái bánh doughnut - loại bánh tầm thường mà nay là triệu phú rồi vẫn còn ghiền! Nhưng rồi anh dùng chiến thuật tập trung đánh vào "mặt trận" chính đối diện; quan trọng và cần "tiếp quản" càng sớm càng tốt; còn "mặt trận miền Tây" - bà già vợ kia - chỉ cần "vẫn yên tĩnh" là ô-kê!

Thế rồi vài ngày trước lễ Valentine 1978 tại nhà cha mẹ anh, Emilio thủ sẵn chiếc nhẫn hỏi trong túi quần; định sẽ tặng Gloria và hỏi cưới đúng vào ngày ấy nhưng vì nôn nao sốt ruột quá; thừa dịp Gloria đang ngồi thân mật tiếp chuyện mẹ mình, anh rút nhẫn ra tặng nàng. Gloria mở hộp nhẫn ra xem, cười và choàng tay qua ôm mẹ anh rồi bước sang ôm anh; một hình thức "say Yes" tế nhị. Mùa xuân năm sau, Gloria tốt nghiệp ưu hạng ra trường University of Miami; đồng thời cũng được nhận vào Sorbonne, Université de Paris ở Pháp nhưng bỏ không theo học mà cùng Emilio giốc hết thì giờ vào việc kiện toàn và phát triển ban nhạc. Emilio định làm đám cưới linh đình với một ban đại hòa tấu nhưng mẹ vợ cản ngăn; nại cớ bệnh tình của bố cô đang ở thời kỳ nguy kịch nhất.

Rồi một đám cưới đơn giản diễn ra hôm 2/9/1978 khi Gloria vừa tròn 21 tuổi. Cô dâu Gloria hiên ngang tiến bước vào thánh đường một mình; nói rằng không người đàn ông nào trên cõi đời này xứng đáng thay thế ông bố anh hùng để dẫn mình vào cung thánh theo đúng nghi lễ. Vị linh mục chủ tế hiểu ý nên đã rời bàn thánh xuống dẫn cô dâu đến với chú rể khi cô còn cách đó vài bước. Vị chủ tế già này cũng chính là vị chủ lễ hôn phối cho cha mẹ cô 22 năm về trước ở Havana, Cuba; khi quốc gia này còn tự do, dân chủ và thịnh vượng. Sau thánh lễ, cô dâu chú rể lặng lẽ rời thánh đường đến thẳng viện dưỡng lão quân đội Mỹ. Ông José Manuel Fajardo sau suốt nhiều tháng năm không nói một câu; nay thấy con gái lộng lẫy trong lễ phục cô dâu ngày cưới mới thốt lên "Glorita!" một cách yếu đuối từ trên giường bệnh như một lời chúc phúc súc tích nhất mà một người sắp lìa đời có thể làm nổi! Ông mất năm 1980 sau 13 năm dài chiến đấu với căn bệnh bất trị. Sau đám cưới mấy tuần, Gloria theo chồng về Santiago thăm gia đình anh chồng "Papo" còn kẹt lại "thiên đường cộng sản" Cuba.


Khác với ông bố tận tụy và anh hùng của Gloria, bố của Emilio suốt đời chỉ mê cờ bạc; không phải để kiếm tiền nuôi gia đình mà chỉ kiếm tiền để...gỡ! Có lần Emilio dành dụm được $1,200 định để mua trang bị lập nhà may và lo cho mẹ vé máy bay qua Mexico; đã bị ông bố lấy đi "nướng" hết sạch! Do đó gánh nặng gia đình đè lên hai vai người con trai 17 tuổi ngay từ khi hai bố con sang Mỹ tỵ nạn cộng sản qua ngả Madrid, Spain hồi tháng 2/1967. Do đó có lần ở Mỹ ông bố thắng ván bài lớn, Emilio phải giấu bớt một nửa tiền vào bao da đựng đàn để làm vốn sang tiệm may cho bố mẹ anh có công việc làm. Bà mẹ anh không cho gia đình tổ chức mọi tiệc birthday; thậm chí tiệc Noel; nại cớ gia đình ông con trai cả "Papo", giáo sư đại học Santiago môn năng lượng, còn kẹt lại Cuba mà vợ lại mới chết.

Emilio Estefan sinh ngày 4/3/1953 tại Santiago, cái nôi cộng sản của Fidel Castro ở Cuba. Anh từng chứng kiến cảnh Fidel đứng trên ban-công tòa thị sảnh tuyên bố chiến thắng hôm 1/1/1959, ngày đổi đời định mệnh cho gia đình anh và toàn dân xứ này. Bố Emilio Capetillo Estefan gốc Lebanon và mẹ Carmen gốc Spaniard là thương gia ngành may mặc nên tài sản, hãng xưởng và trang bị máy móc đều bị "giải phóng" toàn bộ; trắng tay như dân Saigon bên kia bán cầu 16 năm sau đó! Bà mẹ Carmen phải đi tỵ nạn CS qua ngả Mexico bằng máy bay rồi trốn qua Houston TX bằng đường bộ gian khổ năm 1970. Ông bà nội Jalin và Julia gốc Lebanon. Ông bà ngoại Antinio Gomez và Carmen Vasquez từng làm cho hãng rượu Bacardi nổi tiếng ở Spain và đã được chủ hãng Don Emilio Bacardi đích thân đứng ra làm chủ hôn cho hai người thời kỳ mới di cư sang Mỹ.

Emilio đàn accordion từ hồi 7 tuổi ở quê nhà; đến năm 17 tuổi ở Miami, anh phải nhờ ông dượng, chồng bà dì Javivi tốt bụng - người đã gởi từng gói thực phẩm và tiền bạc chắt chiu cho cha con anh từ Mỹ - đứng ra cosign mua trả góp chiếc accordion giá $277; mỗi tháng trả $17.58. Khi mới qua Mỹ, anh xin vào trường học nhạc; bị từ chối vì quá tuổi vì tuổi để nhập học từ 11 trở xuống. Sau thời gian hình thành hồi thập niên 1970s với Agustincio, Pundi, Carlitos, Danielito; và bổ sung hồi thập niên 1980s với Rafael Vigil, Joe Galdo, Lawrence Dermer; và nhất là sau ngày cưới, khi Emilio ngừng đàn để tập trung vào công việc điều hành và quản lí, ban nhạc Miami Sound Machine nay có thêm những tay cự phách như Marcos Avila (bass), Kiki Garcia (trống) và Raul Murciano (saxo và keyboard), người đã cưới Merci và sau bất đồng - đòi trình diễn lời Anh ngữ nhiều hơn - đã cùng vợ rời bỏ ban nhạc. Gloria và Emilio cũng đã đào tạo và hỗ trợ nhiều đồng nghiệp nổi danh như Carlos Ponce, Jon Secada, Shakira Mubarak...

Khi hạnh phúc đến tràn đầy với hai con Nayib và Emily đồng thời định sẽ sanh đứa thứ ba - bất thành vì tai nạn; khi sự nghiệp lên đến tuyệt đỉnh tiền tài và danh vọng thì cũng như một định luật của tạo hóa, Gloria gặp vận xui - một dịp nữa để cô chứng tỏ nghị lực và can trường: Tháng 3/1990 sau khi rời White House theo lời mời của TT George Bush (bố), gia đình vợ chồng cô đi New York bằng tourbus để dự cơm tối với đồng nghiệp Toomy Mottola. Hôm sau trên đường đến Syracuse qua ngả Pennsylvania, xe bus của họ đã bị một xe vận tải đụng ngang hông rất mạnh. Không ai trong xe bị thương nặng nhưng Gloria bị ngất xỉu phải vào Scranton Hospital gần đó để cấp cứu. Khi được xác nhận là gãy cột sống, cô được không vận về New York để giải phẫu và uốn đốt xương sống bằng nẹp kim loại titanium với tiên đoán của bác sĩ rằng sẽ bị bại liệt suốt đời.

Nhưng lạ thay, với lời cầu nguyện, ýchí khí và nghị lực; với niềm yêu đời, yêu nghề và đức tính kiên trì nhẫn nại, cô đã nhanh chóng bình phục và xuất viện chỉ sau hai tuần điều trị. Danh ca người Spaniard, Julio Igosias đã cho mượn máy bay riêng để Gloria về nhà làm therapy tại chỗ dự trù kéo dài 6 tháng. Mỗi ngày cô phải tập ngồi, tập đứng rồi tập đi; từ lẫm chẫm từng bước ngắn đến bước dài. May thay, căn nhà hai tầng mới xây ở Star Island trong Biscayne Bay có gắn thang máy do sáng kiến của chính cô; dự trù để cho bố xử dụng sau khi bình phục nhưng bố đã nhường cho cô con gái dùng đúng lúc. Chả thế mà mới 4 tháng, cô đã cùng gia đình đi được đến studio của mình.

Có lẽ Gloria với nghị lực mạnh cá biệt sẵn có cộng với tấm gương kiên trì nhẫn nại học được của hai danh ca Julio Igosias và Edith Piaf - hai người đã từng bị tai nạn xe thảm khốc như cô - đã hồi phục nhanh ngoài dự liệu của bệnh viện. Trong lúc có mặt tại studio, Emilio lục trong túi quần thấy có tấm giấy nhỏ; có lẽ sống sót qua nhiều trận lốc xoáy nước của máy giặt nhưng vẫn còn dòng chữ đọc được "Coming out of the dark". Nhận thấy đây là dấu hiệu của vận may; vả lại, tình yêu nồng nàn và cảm hứng cao độ đã khiến họ sáng tác bản nhạc cùng tên để rồi chưa đầy một năm sau, hồi tháng 1/1991, Gloria đã bình phục hẳn và trở lại sân khấu; lộng lẫy trong trang phục nhung gấm và hát xuất thần bản nhạc ấy trong đêm phát giải American Music Awards!

Thế rồi họ mua cổ phần của NFL tháng 1/2009; rồi bản nhạc "Monday Night Football" ra đời. Họ mua Cardozo Hotel có Cardozo Bar & Grill; xây hồi thập niên 1930s cũng trên Ocean Dr. rồi tân trang và đổi tên thành "Costa d'Este (East Coast) Beach Resort" với ngụ ýý "Este" là chữ tắt của tên dòng họ "Estefan" của mình. Họ mở "Bongos Cuban Café" nổi tiếng và nhiều chi nhánh cho đến nay. Họ có cổ phần trong Sony, Pepsi, AT&T, Starbucks. Họ lập Estefan Enterprises, Crescent Moon Records, Sony Worldwide Artist Development để gây vốn. Họ lập "Gloria Estefan Foundation" năm 1993 để gây quĩ giúp người tỵ nạn CS đồng hương Cuba ở trại tỵ nạn Guatanamo, bệnh nhân bại liệt, học sinh nghèo, thương phế binh Mỹ, nạn nhân các trận bão lụt Andrew, George, Katrina,..vv.. Sau ngày 11 Sept. 2001, họ tổ chức sân khấu với 60 nghệ sĩ nổi danh đồng ca "El Ultimo Adios" gây quĩ cho American Red Cross giúp nạn nhân khủng bố Hồi giáo.

Họ là thượng khách của TT Nelson Mandela (S. Africa), TT Bush bố và Bush con, TT Clinton, TT Obama, vua Juan Carlos và hoàng hậu Sophia (Spain), tỷ phú Donald Trump. Tên ban nhạc "Miami Sound Machine" của họ được đặt cho một đại lộ của thành phố. Emilio được tặng Star trên Hollywood Walking Fame. Cơ quan Ellis Island Foundation công bố giải "Ellis Island Family Herritage Awards" đã tặng gia đình Estefan chứng chỉ "B.C. Forbes Peopling of America Award" dành cho các gia đình di dân qua ngả hải cảng miền đông, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do.

Họ được tặng nhiều giải American Grammy Awards, nhiều giải Latin Grammy Awards, nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự, giải Pop Songwriter of the Year... Gloria đoạt giải Alma Awards về thành tích "thành tựu trọn đời" về âm nhạc. Mỗi lần nhận giải, họ luôn nói "cám ơn" nước Mỹ; hoặc bạn họ nói cám ơn "Columbia, Mexico..." nhưng không ai nói "cám ơn" Cuba với chế độ cộng sản độc tài đang thống trị, cướp của giết người và xua đuổi công dân để chiếm đất nước làm của riêng như CSVN. Họ cũng hiến tặng rộng lượng tài vật cho nạn nhân chiến tranh, nghèo đói, thiên tai và bệnh tật qua nhiều tổ chức từ thiện và quốc gia. Gloria định nghĩa "rộng lượng" không phải là "có bao nhiều và cho bao nhiêu"; mà là "có bao ít và cho bao nhiều"? Đặc biệt họ suốt đời tạ ơn nước Mỹ, quốc gia đã cưu mang họ và ban cho họ các vốn liếng quí giá của con người là nhân phẩm, cơ hội và nhất là Tự Do; những thứ đã bị chế độ hai anh em Fidel và Raul Castro tước đoạt mất từ tay Thượng Đế.

Cho nên đối với bọn độc tài cộng sản đang đứa "ngủ" ở Cuba và xin Mỹ bỏ cấm vận, đứa "thức" ở Việt Nam xin mua vũ khí sát thương; thay phiên nhau ngày đêm canh chừng để cướp của giết người và bán nước - như tên "chủ tịch" nước VC Nguyễn Minh Triết đã lố bịch mô tả một cách trào phúng - thì Gloria và Emilio Estefan không thèm bố thí; dù chỉ một xu! Cương nghị là thế! Lập trường bất di dịch là thế! Tầm vóc Gloria và Emilio Estefan là thế! Vĩ đại và đáng ngưỡng mộ là thế! Ngoài cặp vợ chồng Estefans, 15 người kia gồm: Barbara Streisand, Steven Spielberg, Stephen Sondheim, James Taylor, Itzhak Perlman, Willie Mays, Katherine G. Johnson, Bonnie Carroll, Sen. Barbara Mikulski, Rep. Lee Hamilton, William Ruckelshaus, Yogi Berra, Shirley Chisholm. Billy Frank Jr và Minoru Yasui do thân nhân thay mặt lãnh thế vì họ đã qua đời. Ruckelshaus đến từ Washington State.

HÀ BẮC
(tham khảo hồi kí của Emilio Estefan, The Washington Post và The Associated Press)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.