Hôm nay,  

Những Phép Lạ Trong Tù

03/08/201600:00:00(Xem: 8650)

Khi nói đến hai chữ “phép lạ”, chúng ta thường nghĩ ngay đến những sự việc lạ lùng xẩy ra hiển nhiên, công khai, có chứng nhân hay vật chứng, mà khoa học không thể giải thích được các liên hệ giữa các sự kiện. Các chuyên viên, cảnh sát, thám tử, và những người viết phóng sự, tường thuật, khi nói về một sự kiện thì luôn luôn theo một mô thức như sau: What? Who? Why? When? Where? How? (Cái gì? Người nào? Tại Sao? Khi Nào? Ở đâu? Như thế nào?) Riêng các nhà khoa học, nghiên cứu thì theo một mệnh đề khác: Positive Causes(n) – Negative Causes(n) = Event. (Nguyên nhân tích cực + nguyên nhân tích cực - Nguyên nhân tiêu cực = Kết quả!) Hoặc A + B + C = D… Thí dụ: Về khoa học thường thức: Hơi nóng > nước bốc hơi > gặp lạnh = mưa! Về khoa học tâm lý: người bình thường + chấn động tâm lý (sinh lý) = người mất bình thường. Về y khoa: ăn nhiều chất đường + bột gạo – (thiếu) thể dục = bệnh…

Đối với “phép lạ” thì các mô thức kia bị triệt tiêu, vì không có cơ sở để lý giải được. Và vì không thể chứng minh bằng khoa học thường thức, nên những kẻ xấu thường dè bỉu các “phép lạ” như là những trò lường gạt của những kẻ mê tín. Nhưng với tôi, khi còn trong tù Cộng Sản đã nhiều lần được thoát hiểm trong tích tắc, mà không chuyên gia khoa học nào giải thích được, nên tôi vẫn tin có “phép lạ”.

Trường hợp thứ nhất: Ngày đầu tiên trình diện tại trường Chu Văn An để đi “học tập”, tôi đem theo một cuốn vở học trò, dầy 200 trang, với mục đích để ghi nhật ký những ngày trong tù, hầu sau này có dịp cho thế hệ sau hiểu về nhà tù Cộng Sản (ý định bắt chước Aleksandr Solzhenitsyn viết Quần Đảo Ngục Tù). Tên bộ đội kiểm soát hành lý của tù nhân tại bàn giấy đặt tại cổng Trường, sau khi tịch thu mất cái đèn pin, quẹt Zippo, và dao cạo râu của tôi, định lấy luôn cuốn vở, tôi vội nói: “Tôi là người muốn tìm hiểu về cách mạng Xô Viết, nên mang theo cuốn này để ghi chép các bài học về Mác xít -Lê Nin nít, Mao ít…”. Nghe thấy tôi nói môt tràng “ít ít”…, tên bộ đội ngẩn người ra, và trả lại tôi cuốn vở. Mừng quá, tôi dấu ngay cuốn vở vào bụng. Sau đó, nhóm chúng tôi được chuyển lên Trảng Lớn, được chỉ định ở ngay trên mặt đường nhựa, không có nhà cửa chi cả. Chúng tôi phải đi nhặt ống giấy đựng đạn đại bác dựng đứng lên, rồi xé bao cát ra làm giây cột, tự dựng thành nhà ở. Trong những buổi tối, sau khi lao động về, tôi nằm dài ra đất, giương mắt ra mà viết nhật ký. Trang đầu tiên, tôi vẽ ngay bức hình cái nhà ở nham nhở làm bằng ống vỏ đạn, và từ đó, những ngày tháng đầu tiên được trải ra giấy. Việc tôi viết nhật ký cũng như vài anh em làm thơ nhớ nhà, có lẽ bị “ăng tên” nào đó báo cáo, nên một buổi chiều, đang loay hoay với cuốn nhật ký, thì bất ngờ, một đoàn vệ binh ào vào như cơn lốc, chĩa lưỡi lê vào bụng chúng tôi và gào thét bắt mang đồ đạc ra sân, đứng thành hàng, cho tên quản giáo xét đồ! Tụi chúng đến nhanh quá, tôi không kịp dấu cuốn nhật ký đi, đành ôm tất cả gia tài ra ngoài sân, mà mồ hôi bắt đầu nhỏ giọt trên trán. Tôi đứng vào hàng gần sau cùng, với cuốn vở đó như

một kết liễu cuộc đời tôi nằm chình ình trên cái ba lô tôi làm bằng bao cát có hai lớp đáy để hàng ngày giấu cuốn vở. Tên quản giáo, từng nằm vùng ở miền Nam, đi từ hàng đầu đến cuối, tới mỗi chỗ đứng của một tên tù, hắn ngồi xổm xuống lục hàng. Gặp bất cứ môt miếng giấy nhỏ có viết chữ nào là lập tức người chủ miếng giấy đó bị lôi ra ngoài, xếp hàng riêng, chờ tống vào một cái ngục nào không ai biết. Tôi nhớ có anh bạn họ Bùi.. viết có 4 câu thơ tả núi Bà Đen, và nhớ vợ, bị lôi xềnh xệch đi ngay.. Một anh khác cũng viết dở một lá thư cho vợ cũng bị lôi đi.. Khi tên quản giáo đến gần chỗ tôi, thì mồ hôi tôi tuôn ra ướt hết trán, trôi xuống cằm! Tôi biết số phận tôi đã kết liễu vì cuốn nhật ký của tôi ghi toàn bộ những lời nói láo của tên quản giáo, và các việc làm lao động khổ sai của chúng tôi gần hai chục trang…Không còn cách nào khác để cứu mình, tôi chỉ biết đọc kinh và cầu Chúa! Khi tên quản giáo tới chỗ tôi, hắn ngồi xụp xuống, thấy cuốn nhật ký, hắn mở ra, và đọc.. Tôi nhắm mắt lại, thầm thì lời nguyện: “Lạy Chúa, xin cứu con. Nếu Chúa muốn con còn sống, thì con sẽ sống, nhưng nếu Chúa muốn con chết, thì con cũng xin vâng theo ý Chúa”.

Tôi đọc kinh xong thì nhìn thẳng lên trời, nghe mồ hôi nhỏ giọt trong lưng áo và nghe thấy tên quản giáo từ từ mở từng trang giấy xột xoạt… Lạ lùng thay! Tên này đọc hết mấy chục trang, rồi.. gấp cuốn vở lại, đứng dậy, và bước sang bên cạnh, hoạnh họe anh bạn có tới mấy cây bút Bic! Tôi đứng cứng cả người, không cử động được! Khám đến người cuối cùng, thi tên quản giáo cho giải tán. Nhìn ra phía trước, thấy mấy anh làm thơ cho vợ bị lôi đi xềnh xệch, tôi ngơ ngác như người mộng du.. Phép lạ của Chúa đã cứu tôi trong khi tôi mới là kẻ đáng bị xử lý nhất, vì cuốn nhật ký của tôi lù lù ra đó, dầy cui, có hàng ngàn chữ ghi tội ác của chúng! (Cuốn nhật ký này, tôi vẫn còn giữ đến bây giờ! Khi sang Mỹ theo diện H.O, tôi cũng dấu theo được mà chẳng có tên Công An nào thấy!)

Sau khi về lại chỗ ngủ, mấy anh nằm gần vẫn thấy tôi viết nhật ký lại nắm vai tôi, lắc mạnh, ngơ ngác…Không anh nào hiểu được tại sao tôi viết nhiều nhất lại an toàn trong khi mấy anh kia chỉ viết có vài câu nhớ vợ mà bị lôi đi biệt tích???

Phép lạ thứ hai:

Ở trại tù Cà Tum, láng chúng tôi có lệ là ai sắp có thân nhân lên thăm thì nhờ mang theo thư từ và chút quà. Khi anh A được vợ lên thăm, anh A sẽ nhờ bà vợ mang địa chỉ của mấy anh B, C, D, E… nằm gần anh A, chuẩn bị thư từ và quà để gửi cho vợ anh B sắp lên thăm vào cuối tháng. Rồi anh B lên, mang theo thư và quà của anh A, C,D, E… Hôm đó, tới lượt tôi được thăm nuôi. Vợ tôi nhìn trước, sau thấy tên bộ đội quay đi, thì dúi cho tôi một cọc thư buộc dây thung. Tôi nhét ngay vào bụng. Vợ tôi chỉ cho tôi biết mấy gói quà nhỏ của các anh nằm gần.. để trao cho họ. Sau 15 phút phù du, tôi chia tay với người vợ thân yêu, rồi lủi thủi, đeo ba lô đồ thăm nuôi, ra về. Đường về trại phải đi qua một cánh rừng “le”, môt loại tre nhỏ, mảnh mà cao, mọc thành chùm như cái nấm. Một nhóm thân “le” tụ lại sát nhau, rồi tỏa cành tre mỏng ra bốn hướng, rơi xuống đất theo hình vòng cung làm thành cái mũ nấm tròn với các nhọn le chạm đất kín mít. Bên trong thì rỗng không, có thể cho nhiều người đứng. Mỗi khi chúng tôi muốn lấy măng, thì bò toài dưới đất, vạch mấy ngọn le ra, trườn vào gốc, cắt măng rồi bò lùi ra. Ít người dám ngồi trong đó, vì “vắt” sẽ phóng tới, bám vào tai, tay, cổ.. để hút máu. Hôm đó, trên đường về, nhìn quanh quất không thấy ai, tôi vạch một bụi le ra, chui vào trong “bụng” cây nấm, đặt ba lô xuống đất, ngồi lên và bóc thư vợ ra xem! Nhưng lá thư đầu tiên trong cọc thư lại là thư của một anh bạn nằm cùng láng, gấp đôi lại, không có phong bì. Vô tình, tôi liếc qua vài dòng, và rồi giật bắn người lên, bàng hoàng! Lá thư viết vội cho chồng mở đầu bằng hàng chữ: “Anh L.! Nếu anh không về sớm, thì chắc em tự tử mất! Đ.M. bọn Cộng Sản! Đ.M. thằng Hồ Chí Minh! Nó cướp mất nhà của mình rồi, em đang ở nhờ nhà mẹ, nếu không về nhà mẹ thì em phải đi kinh tế mới! bọn cộng sản chó đẻ khốn nạn quá, chúng không từ nan việc khốn gì mà không làm… Đ.M. Cộng Sản!” (Những chữ tục này viết đủ, không viết tắt!)


Mới đọc đến đây, tôi hoa cả mắt! Chết rồi! Lá thư này mà lọt vào tay bộ đội, thì tôi bị bắn tức thì! Bà này muốn giết tôi chết sao? Vừa nghĩ đến đây, một mũi súng chĩa vào mạng sườn tôi và một tiếng quát lớn: “Làm gì ngồi đây? Đọc thư phản động hả?” Tôi hết hồn nhìn sang thấy một tên bộ đội trẻ đang quắc mắt nhìn tôi, mũi súng AKA của nó đẩy đẩy vào bụng tôi. Nó lại quát: “đưa bó thư đây!”

Thế là hết! Thế là chết! Tôi lẳng lặng đưa chùm thư cho tên bộ đội hung hăng, và biết rằng mình sắp lãnh một viên đạn đồng, tôi nhắm mắt lại và cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cứu con! Con không có hy vọng gì sống sót! Chỉ có Chúa mới cứu được con mà thôi!” Rồi tôi nhìn tên bộ đội đang đọc lá thư khủng khiếp kia, chờ hắn giải tôi về phòng an ninh gồm những tên trọ trẹ Nghệ An, quê hương “Bác Hồ” rồi bị trói vào cọc.. Nhưng không ngờ… tên kia đọc hết lá thư đó, rồi đọc thêm vài thư nữa, rồi đột nhiên trở giọng hiền từ: “Thôi! Đi về đi! Anh em đang đợi!” Vừa nói, hắn vừa gài lại dây thung như cũ, đưa sấp thư cho tôi, rồi cúi người xuống, chui ra khỏi cái lỗ mà nó vạch ra lúc nãy…Tôi sững sờ một lúc rồi mới lững thững về trại, kể cho anh em nghe về lá thư khát máu kia. Mọi người đọc xong, chửi anh L. thậm tệ: “Con vợ mày là đứa khốn nạn! Nó nhờ người ta đưa giùm thư lại viết như thế, có khác gì đưa người ta ra cọc bắn không?..” Anh L., người nhận thư, không biết nói sao, chỉ ngồi khóc! Tôi lại phải an ủi anh ta…

Phép lạ thứ ba:

Một hôm đi rừng ở Cà Tum, tôi bị vấp chân vào một cái dây kẽm gai bỏ lăn lóc trong đống cỏ, bị sước bắp chân chừng 1 cm, tôi coi thường, rồi quên đi. Ngày hôm sau, chỗ sước đóng vẩy lại, tưởng là sẽ khỏi. Ai ngờ, đến ngày thứ ba, đang lao động bỗng thấy sây sẩm, chóng mặt, và người nóng bừng, tôi té ngồi xuống đất. Anh em chạy lại đỡ tôi lên và bảo tôi đi về vì thấy người tôi quá nóng. Tôi lết về đến lán, leo lên được cái chõng tre thì hết hơi. Nghe tin tôi bệnh nặng, anh bạn tôi, đại úy quân y, lúc đó đang làm nhiệm vụ “Vệ sinh Viên” (y tá) của trại chạy đến. Anh khám tôi và chỉ cho tôi thấy cái chân của tôi, từ ngón chân trở lên đến trên đầu gối đã tím đen! Anh thở dài, nói: “Tao nói mày đừng buồn! Mày bị hoại huyết rồi! Bệnh này cần đến trụ sinh cực mạnh mới trị được! Mà ở đây làm gì có trụ sinh? Chỉ có nước.. cưa! Cưa càng sớm càng tốt, kẻo nó chạy lên đến háng thì ra nghĩa địa!” Tôi nghe bạn nói mà thẫn thờ…Một lúc sau, tôi nói: “Mày lên trạm y tế hỏi đại xem sao!” Bạn tôi nói: “Đi cũng thế thôi, nhưng để cho mày yên lòng, tao đi.” Khoảng 15 phút sau, anh trở lại, lắc đầu: “Tao đã nói mà! Chúng nó nói chỉ còn cách cưa!” Nhưng nhìn thấy tôi buồn bã quá, anh nói: “Tao chạy đi một vòng, xin bạn bè, xem có đứa nào có trụ sinh không?” Rồi anh đi ngay. Tôi nằm trên võng mà thở dài, vì nhớ đến một anh bạn đạp mìn khi đi phá bãi mìn theo lệnh bộ đội, phải cưa chân. Anh bị cột chặt vào chõng tre như cột heo, mồm thì bị nhét giẻ, không có thuốc mê. Một bác sĩ dùng cái cưa thợ mộc mà kéo qua kéo lại “rít.. rít…”. Nghĩ đến đây, tôi thấy hàm răng tôi tê buốt. Lại cũng nhớ đến niềm hy vọng cuối cùng của một con người, tôi nhắm mắt và cầu nguyện. Tôi dâng mọi sự lên cho Chúa, xin Chúa cứ làm theo Ý Ngài. Một lúc sau, bạn tôi hổn hển trở về, đưa cho tôi một nắm thuốc viên trắng, nói: “Tao xin mỗi nơi một, hai viên trụ sinh, không cần biết là loại nào, mày bỏ hết vào mồm, làm một lần. Số mày còn sống thì qua khỏi, số mày phải chết tại đây, thì đành chịu.”

Tôi cám ơn bạn và tống hết nắm thuốc vào mồm, uống một hơi nước và nhắm mắt lại, ngủ mê man 9,10 tiếng đồng hồ. Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy, đột nhiên thấy thoải mái, không còn sốt nữa, tay chân hình như nhẹ nhàng hơn. Tôi ngồi phắt dậy, nhìn vào chân mình thì thấy.. da đã trắng trở lại, không còn dấu vết đen tím nữa!

Phép lạ thứ tư:

Về nhà được chừng 1 tháng, tôi tính đường vượt biên. Tôi dự định lên nhà người cậu họ ở Cát Lở, Vũng Tầu, nhờ cậu cho đi ké. Lên đường, tôi giả dạng công nhân bằng cách mặc cái áo sơ mi nâu, bỏ ngoài quần, đi dép lốp, tay cầm cuốn “MÁC XÍT- LÊ NIN NÍT”. Xe đò khởi hành đi Vũng Tầu ồn ào vì hàng trên chỗ tôi ngồi là một nhóm công an mặc thường phục, nói cười vung vãi. Tôi ngồi hàng ghế sau cùng, dựa vào cửa kính sau. Xe đò đi thoải mái được chừng 1 tiếng, bỗng bất ngờ dừng lại tại một trạm công an đặt ngay bên đường. Một tên công an leo lên xe, quát: “Xuống! Xuống hết!” Bà con lục tục kéo nhau xuống. Tên công an trạm đi từ đầu xe xuống cuối xe, thấy mấy tên mặc áo sơ mi này còn ngồi đó thì quát: “Sao mấy tên này không xuống?” Một tên trong bọn cười gằn: “Bọn tao là công an đây!” Tên khám xe trợn mắt: “Công An cũng phải xuống!” Mấy tên kia vùng vằng một lúc rồi cũng phải xuống vì mũi súng của tên kia chĩa thẳng vào người. Tôi ngồi cứng đơ! Vừa mới đi tù về, chỉ có giấy ra trại, mà mới ra trại lại đi Vũng Tầu, nhất định là Vượt Biên! Thế thì thêm vài năm nằm ấp nữa! Tôi lại nhắm mắt, cầu nguyện! Sau khi mấy tên công an kia xuống hết, thì tên khám xe tiến đến tôi, trợn mắt! Tự nhiên tôi thấy một cái lực đẩy tay tôi đang cầm cuốn sách đưa cho tên kia nhìn cái bìa, mà không nói một tiếng nào! Thật lạ lùng! Tên khám xe vừa nhìn thấy cái bìa sách như nhìn thấy một cái gì đó, mà bỗng cúi đầu, chào tôi một cách cung kính, rồi quay lưng đi ra! Tôi bàng hoàng môt lúc rồi mới tạ ơn Chúa! Sau đó chừng nửa tiếng, bà con lục tục đi lên, nhưng thiếu mất 3 người bị bắt vì mưu toan vượt biên! Còn mấy tên công an chìm kia vừa lên xe vừa chửi tục um xùm...Số mạng tôi, một lần nữa đã được Chúa cứu ngoạn mục. (Chuyến vượt biên này và hai chuyến sau đều không thành công, sau những ngày nằm “ém” khốn khổ tại các nhà cầu, bãi sình, ruộng lúa, trên ghe “tắc xi”…có lẽ ý Chúa muốn tôi đi cả nhà theo diện H.O.!)

Những câu chuyện trên đây chỉ là một số trong hàng trăm điều lạ mà tôi nhận được từ Chúa Giê Su từ mấy chục năm rồi. Ngày hôm nay, tường thuật lại, không có mục đích nói về mình, mà về Tình Thương vô cùng to lớn của Chúa, một tình thương mà không có bút mực nào, tranh vẽ nào, bản nhạc nào có thể diễn tả đầy đủ được. Từ khi Chúa Giê Su xuống trần đến nay đã mấy ngàn năm, Ngài vẫn ở lại với Con Người và giúp đỡ hàng tỷ con người vượt qua nhiều thử thách, hoạn nạn. Với Việt Nam, biết bao người vượt biên nhờ lời cầu nguyện! Biết bao người đã thoát chết kỳ lạ trong các trại lao tù khổ sai! Biết bao gia đình thành công bên Mỹ một cách lạ lùng! Vì thế, với lòng chân thành, xin dâng câu chuyện này để cùng với hàng tỷ người Tạ Ơn Chúa đời đời, kiếp kiếp chẳng cùng.

Chu Tất Tiến

Ý kiến bạn đọc
04/08/201617:30:55
Khách
Đồng ý với tác giả. Quả là những phép lạ.
04/08/201606:10:12
Khách
Tôi tin tuyệt đối vào Đấng Tối Cao. Tôi không theo Công Giáo, và cũng không phải là mồt Phật tử thuần thành, nhưng tôi đã nhiều lần chứng nghiệm sự linh ứng của Phật Bà Quan Âm cứu sống cuộc đời của tôi.
03/08/201618:11:25
Khách
'Phước cho kẻ chảng thấy mà tin'
'Vả đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong.là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy [thánh kinh sach hebreux 11 :1]
Cám ơn Chúa về bài vết của tác giả , như một lần nữa tái xác tín lòng tin vào TINH YÊU tuyệt đối của Chúa cứu thế Jesus.Tôi rất cảm động về lòng thành của tác giả , trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng dâng trình lên Chúa và phó thác hoàn toàn trong 'Ý Chúa được nên 'Xin Chúa tiếp tục trong dụng ngòi bút của tác giả như một chứng nhân trung thành của Chúa Amen
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.