Hôm nay,  

Những Phép Lạ Trong Tù

03/08/201600:00:00(Xem: 8571)

Khi nói đến hai chữ “phép lạ”, chúng ta thường nghĩ ngay đến những sự việc lạ lùng xẩy ra hiển nhiên, công khai, có chứng nhân hay vật chứng, mà khoa học không thể giải thích được các liên hệ giữa các sự kiện. Các chuyên viên, cảnh sát, thám tử, và những người viết phóng sự, tường thuật, khi nói về một sự kiện thì luôn luôn theo một mô thức như sau: What? Who? Why? When? Where? How? (Cái gì? Người nào? Tại Sao? Khi Nào? Ở đâu? Như thế nào?) Riêng các nhà khoa học, nghiên cứu thì theo một mệnh đề khác: Positive Causes(n) – Negative Causes(n) = Event. (Nguyên nhân tích cực + nguyên nhân tích cực - Nguyên nhân tiêu cực = Kết quả!) Hoặc A + B + C = D… Thí dụ: Về khoa học thường thức: Hơi nóng > nước bốc hơi > gặp lạnh = mưa! Về khoa học tâm lý: người bình thường + chấn động tâm lý (sinh lý) = người mất bình thường. Về y khoa: ăn nhiều chất đường + bột gạo – (thiếu) thể dục = bệnh…

Đối với “phép lạ” thì các mô thức kia bị triệt tiêu, vì không có cơ sở để lý giải được. Và vì không thể chứng minh bằng khoa học thường thức, nên những kẻ xấu thường dè bỉu các “phép lạ” như là những trò lường gạt của những kẻ mê tín. Nhưng với tôi, khi còn trong tù Cộng Sản đã nhiều lần được thoát hiểm trong tích tắc, mà không chuyên gia khoa học nào giải thích được, nên tôi vẫn tin có “phép lạ”.

Trường hợp thứ nhất: Ngày đầu tiên trình diện tại trường Chu Văn An để đi “học tập”, tôi đem theo một cuốn vở học trò, dầy 200 trang, với mục đích để ghi nhật ký những ngày trong tù, hầu sau này có dịp cho thế hệ sau hiểu về nhà tù Cộng Sản (ý định bắt chước Aleksandr Solzhenitsyn viết Quần Đảo Ngục Tù). Tên bộ đội kiểm soát hành lý của tù nhân tại bàn giấy đặt tại cổng Trường, sau khi tịch thu mất cái đèn pin, quẹt Zippo, và dao cạo râu của tôi, định lấy luôn cuốn vở, tôi vội nói: “Tôi là người muốn tìm hiểu về cách mạng Xô Viết, nên mang theo cuốn này để ghi chép các bài học về Mác xít -Lê Nin nít, Mao ít…”. Nghe thấy tôi nói môt tràng “ít ít”…, tên bộ đội ngẩn người ra, và trả lại tôi cuốn vở. Mừng quá, tôi dấu ngay cuốn vở vào bụng. Sau đó, nhóm chúng tôi được chuyển lên Trảng Lớn, được chỉ định ở ngay trên mặt đường nhựa, không có nhà cửa chi cả. Chúng tôi phải đi nhặt ống giấy đựng đạn đại bác dựng đứng lên, rồi xé bao cát ra làm giây cột, tự dựng thành nhà ở. Trong những buổi tối, sau khi lao động về, tôi nằm dài ra đất, giương mắt ra mà viết nhật ký. Trang đầu tiên, tôi vẽ ngay bức hình cái nhà ở nham nhở làm bằng ống vỏ đạn, và từ đó, những ngày tháng đầu tiên được trải ra giấy. Việc tôi viết nhật ký cũng như vài anh em làm thơ nhớ nhà, có lẽ bị “ăng tên” nào đó báo cáo, nên một buổi chiều, đang loay hoay với cuốn nhật ký, thì bất ngờ, một đoàn vệ binh ào vào như cơn lốc, chĩa lưỡi lê vào bụng chúng tôi và gào thét bắt mang đồ đạc ra sân, đứng thành hàng, cho tên quản giáo xét đồ! Tụi chúng đến nhanh quá, tôi không kịp dấu cuốn nhật ký đi, đành ôm tất cả gia tài ra ngoài sân, mà mồ hôi bắt đầu nhỏ giọt trên trán. Tôi đứng vào hàng gần sau cùng, với cuốn vở đó như

một kết liễu cuộc đời tôi nằm chình ình trên cái ba lô tôi làm bằng bao cát có hai lớp đáy để hàng ngày giấu cuốn vở. Tên quản giáo, từng nằm vùng ở miền Nam, đi từ hàng đầu đến cuối, tới mỗi chỗ đứng của một tên tù, hắn ngồi xổm xuống lục hàng. Gặp bất cứ môt miếng giấy nhỏ có viết chữ nào là lập tức người chủ miếng giấy đó bị lôi ra ngoài, xếp hàng riêng, chờ tống vào một cái ngục nào không ai biết. Tôi nhớ có anh bạn họ Bùi.. viết có 4 câu thơ tả núi Bà Đen, và nhớ vợ, bị lôi xềnh xệch đi ngay.. Một anh khác cũng viết dở một lá thư cho vợ cũng bị lôi đi.. Khi tên quản giáo đến gần chỗ tôi, thì mồ hôi tôi tuôn ra ướt hết trán, trôi xuống cằm! Tôi biết số phận tôi đã kết liễu vì cuốn nhật ký của tôi ghi toàn bộ những lời nói láo của tên quản giáo, và các việc làm lao động khổ sai của chúng tôi gần hai chục trang…Không còn cách nào khác để cứu mình, tôi chỉ biết đọc kinh và cầu Chúa! Khi tên quản giáo tới chỗ tôi, hắn ngồi xụp xuống, thấy cuốn nhật ký, hắn mở ra, và đọc.. Tôi nhắm mắt lại, thầm thì lời nguyện: “Lạy Chúa, xin cứu con. Nếu Chúa muốn con còn sống, thì con sẽ sống, nhưng nếu Chúa muốn con chết, thì con cũng xin vâng theo ý Chúa”.

Tôi đọc kinh xong thì nhìn thẳng lên trời, nghe mồ hôi nhỏ giọt trong lưng áo và nghe thấy tên quản giáo từ từ mở từng trang giấy xột xoạt… Lạ lùng thay! Tên này đọc hết mấy chục trang, rồi.. gấp cuốn vở lại, đứng dậy, và bước sang bên cạnh, hoạnh họe anh bạn có tới mấy cây bút Bic! Tôi đứng cứng cả người, không cử động được! Khám đến người cuối cùng, thi tên quản giáo cho giải tán. Nhìn ra phía trước, thấy mấy anh làm thơ cho vợ bị lôi đi xềnh xệch, tôi ngơ ngác như người mộng du.. Phép lạ của Chúa đã cứu tôi trong khi tôi mới là kẻ đáng bị xử lý nhất, vì cuốn nhật ký của tôi lù lù ra đó, dầy cui, có hàng ngàn chữ ghi tội ác của chúng! (Cuốn nhật ký này, tôi vẫn còn giữ đến bây giờ! Khi sang Mỹ theo diện H.O, tôi cũng dấu theo được mà chẳng có tên Công An nào thấy!)

Sau khi về lại chỗ ngủ, mấy anh nằm gần vẫn thấy tôi viết nhật ký lại nắm vai tôi, lắc mạnh, ngơ ngác…Không anh nào hiểu được tại sao tôi viết nhiều nhất lại an toàn trong khi mấy anh kia chỉ viết có vài câu nhớ vợ mà bị lôi đi biệt tích???

Phép lạ thứ hai:

Ở trại tù Cà Tum, láng chúng tôi có lệ là ai sắp có thân nhân lên thăm thì nhờ mang theo thư từ và chút quà. Khi anh A được vợ lên thăm, anh A sẽ nhờ bà vợ mang địa chỉ của mấy anh B, C, D, E… nằm gần anh A, chuẩn bị thư từ và quà để gửi cho vợ anh B sắp lên thăm vào cuối tháng. Rồi anh B lên, mang theo thư và quà của anh A, C,D, E… Hôm đó, tới lượt tôi được thăm nuôi. Vợ tôi nhìn trước, sau thấy tên bộ đội quay đi, thì dúi cho tôi một cọc thư buộc dây thung. Tôi nhét ngay vào bụng. Vợ tôi chỉ cho tôi biết mấy gói quà nhỏ của các anh nằm gần.. để trao cho họ. Sau 15 phút phù du, tôi chia tay với người vợ thân yêu, rồi lủi thủi, đeo ba lô đồ thăm nuôi, ra về. Đường về trại phải đi qua một cánh rừng “le”, môt loại tre nhỏ, mảnh mà cao, mọc thành chùm như cái nấm. Một nhóm thân “le” tụ lại sát nhau, rồi tỏa cành tre mỏng ra bốn hướng, rơi xuống đất theo hình vòng cung làm thành cái mũ nấm tròn với các nhọn le chạm đất kín mít. Bên trong thì rỗng không, có thể cho nhiều người đứng. Mỗi khi chúng tôi muốn lấy măng, thì bò toài dưới đất, vạch mấy ngọn le ra, trườn vào gốc, cắt măng rồi bò lùi ra. Ít người dám ngồi trong đó, vì “vắt” sẽ phóng tới, bám vào tai, tay, cổ.. để hút máu. Hôm đó, trên đường về, nhìn quanh quất không thấy ai, tôi vạch một bụi le ra, chui vào trong “bụng” cây nấm, đặt ba lô xuống đất, ngồi lên và bóc thư vợ ra xem! Nhưng lá thư đầu tiên trong cọc thư lại là thư của một anh bạn nằm cùng láng, gấp đôi lại, không có phong bì. Vô tình, tôi liếc qua vài dòng, và rồi giật bắn người lên, bàng hoàng! Lá thư viết vội cho chồng mở đầu bằng hàng chữ: “Anh L.! Nếu anh không về sớm, thì chắc em tự tử mất! Đ.M. bọn Cộng Sản! Đ.M. thằng Hồ Chí Minh! Nó cướp mất nhà của mình rồi, em đang ở nhờ nhà mẹ, nếu không về nhà mẹ thì em phải đi kinh tế mới! bọn cộng sản chó đẻ khốn nạn quá, chúng không từ nan việc khốn gì mà không làm… Đ.M. Cộng Sản!” (Những chữ tục này viết đủ, không viết tắt!)


Mới đọc đến đây, tôi hoa cả mắt! Chết rồi! Lá thư này mà lọt vào tay bộ đội, thì tôi bị bắn tức thì! Bà này muốn giết tôi chết sao? Vừa nghĩ đến đây, một mũi súng chĩa vào mạng sườn tôi và một tiếng quát lớn: “Làm gì ngồi đây? Đọc thư phản động hả?” Tôi hết hồn nhìn sang thấy một tên bộ đội trẻ đang quắc mắt nhìn tôi, mũi súng AKA của nó đẩy đẩy vào bụng tôi. Nó lại quát: “đưa bó thư đây!”

Thế là hết! Thế là chết! Tôi lẳng lặng đưa chùm thư cho tên bộ đội hung hăng, và biết rằng mình sắp lãnh một viên đạn đồng, tôi nhắm mắt lại và cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cứu con! Con không có hy vọng gì sống sót! Chỉ có Chúa mới cứu được con mà thôi!” Rồi tôi nhìn tên bộ đội đang đọc lá thư khủng khiếp kia, chờ hắn giải tôi về phòng an ninh gồm những tên trọ trẹ Nghệ An, quê hương “Bác Hồ” rồi bị trói vào cọc.. Nhưng không ngờ… tên kia đọc hết lá thư đó, rồi đọc thêm vài thư nữa, rồi đột nhiên trở giọng hiền từ: “Thôi! Đi về đi! Anh em đang đợi!” Vừa nói, hắn vừa gài lại dây thung như cũ, đưa sấp thư cho tôi, rồi cúi người xuống, chui ra khỏi cái lỗ mà nó vạch ra lúc nãy…Tôi sững sờ một lúc rồi mới lững thững về trại, kể cho anh em nghe về lá thư khát máu kia. Mọi người đọc xong, chửi anh L. thậm tệ: “Con vợ mày là đứa khốn nạn! Nó nhờ người ta đưa giùm thư lại viết như thế, có khác gì đưa người ta ra cọc bắn không?..” Anh L., người nhận thư, không biết nói sao, chỉ ngồi khóc! Tôi lại phải an ủi anh ta…

Phép lạ thứ ba:

Một hôm đi rừng ở Cà Tum, tôi bị vấp chân vào một cái dây kẽm gai bỏ lăn lóc trong đống cỏ, bị sước bắp chân chừng 1 cm, tôi coi thường, rồi quên đi. Ngày hôm sau, chỗ sước đóng vẩy lại, tưởng là sẽ khỏi. Ai ngờ, đến ngày thứ ba, đang lao động bỗng thấy sây sẩm, chóng mặt, và người nóng bừng, tôi té ngồi xuống đất. Anh em chạy lại đỡ tôi lên và bảo tôi đi về vì thấy người tôi quá nóng. Tôi lết về đến lán, leo lên được cái chõng tre thì hết hơi. Nghe tin tôi bệnh nặng, anh bạn tôi, đại úy quân y, lúc đó đang làm nhiệm vụ “Vệ sinh Viên” (y tá) của trại chạy đến. Anh khám tôi và chỉ cho tôi thấy cái chân của tôi, từ ngón chân trở lên đến trên đầu gối đã tím đen! Anh thở dài, nói: “Tao nói mày đừng buồn! Mày bị hoại huyết rồi! Bệnh này cần đến trụ sinh cực mạnh mới trị được! Mà ở đây làm gì có trụ sinh? Chỉ có nước.. cưa! Cưa càng sớm càng tốt, kẻo nó chạy lên đến háng thì ra nghĩa địa!” Tôi nghe bạn nói mà thẫn thờ…Một lúc sau, tôi nói: “Mày lên trạm y tế hỏi đại xem sao!” Bạn tôi nói: “Đi cũng thế thôi, nhưng để cho mày yên lòng, tao đi.” Khoảng 15 phút sau, anh trở lại, lắc đầu: “Tao đã nói mà! Chúng nó nói chỉ còn cách cưa!” Nhưng nhìn thấy tôi buồn bã quá, anh nói: “Tao chạy đi một vòng, xin bạn bè, xem có đứa nào có trụ sinh không?” Rồi anh đi ngay. Tôi nằm trên võng mà thở dài, vì nhớ đến một anh bạn đạp mìn khi đi phá bãi mìn theo lệnh bộ đội, phải cưa chân. Anh bị cột chặt vào chõng tre như cột heo, mồm thì bị nhét giẻ, không có thuốc mê. Một bác sĩ dùng cái cưa thợ mộc mà kéo qua kéo lại “rít.. rít…”. Nghĩ đến đây, tôi thấy hàm răng tôi tê buốt. Lại cũng nhớ đến niềm hy vọng cuối cùng của một con người, tôi nhắm mắt và cầu nguyện. Tôi dâng mọi sự lên cho Chúa, xin Chúa cứ làm theo Ý Ngài. Một lúc sau, bạn tôi hổn hển trở về, đưa cho tôi một nắm thuốc viên trắng, nói: “Tao xin mỗi nơi một, hai viên trụ sinh, không cần biết là loại nào, mày bỏ hết vào mồm, làm một lần. Số mày còn sống thì qua khỏi, số mày phải chết tại đây, thì đành chịu.”

Tôi cám ơn bạn và tống hết nắm thuốc vào mồm, uống một hơi nước và nhắm mắt lại, ngủ mê man 9,10 tiếng đồng hồ. Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy, đột nhiên thấy thoải mái, không còn sốt nữa, tay chân hình như nhẹ nhàng hơn. Tôi ngồi phắt dậy, nhìn vào chân mình thì thấy.. da đã trắng trở lại, không còn dấu vết đen tím nữa!

Phép lạ thứ tư:

Về nhà được chừng 1 tháng, tôi tính đường vượt biên. Tôi dự định lên nhà người cậu họ ở Cát Lở, Vũng Tầu, nhờ cậu cho đi ké. Lên đường, tôi giả dạng công nhân bằng cách mặc cái áo sơ mi nâu, bỏ ngoài quần, đi dép lốp, tay cầm cuốn “MÁC XÍT- LÊ NIN NÍT”. Xe đò khởi hành đi Vũng Tầu ồn ào vì hàng trên chỗ tôi ngồi là một nhóm công an mặc thường phục, nói cười vung vãi. Tôi ngồi hàng ghế sau cùng, dựa vào cửa kính sau. Xe đò đi thoải mái được chừng 1 tiếng, bỗng bất ngờ dừng lại tại một trạm công an đặt ngay bên đường. Một tên công an leo lên xe, quát: “Xuống! Xuống hết!” Bà con lục tục kéo nhau xuống. Tên công an trạm đi từ đầu xe xuống cuối xe, thấy mấy tên mặc áo sơ mi này còn ngồi đó thì quát: “Sao mấy tên này không xuống?” Một tên trong bọn cười gằn: “Bọn tao là công an đây!” Tên khám xe trợn mắt: “Công An cũng phải xuống!” Mấy tên kia vùng vằng một lúc rồi cũng phải xuống vì mũi súng của tên kia chĩa thẳng vào người. Tôi ngồi cứng đơ! Vừa mới đi tù về, chỉ có giấy ra trại, mà mới ra trại lại đi Vũng Tầu, nhất định là Vượt Biên! Thế thì thêm vài năm nằm ấp nữa! Tôi lại nhắm mắt, cầu nguyện! Sau khi mấy tên công an kia xuống hết, thì tên khám xe tiến đến tôi, trợn mắt! Tự nhiên tôi thấy một cái lực đẩy tay tôi đang cầm cuốn sách đưa cho tên kia nhìn cái bìa, mà không nói một tiếng nào! Thật lạ lùng! Tên khám xe vừa nhìn thấy cái bìa sách như nhìn thấy một cái gì đó, mà bỗng cúi đầu, chào tôi một cách cung kính, rồi quay lưng đi ra! Tôi bàng hoàng môt lúc rồi mới tạ ơn Chúa! Sau đó chừng nửa tiếng, bà con lục tục đi lên, nhưng thiếu mất 3 người bị bắt vì mưu toan vượt biên! Còn mấy tên công an chìm kia vừa lên xe vừa chửi tục um xùm...Số mạng tôi, một lần nữa đã được Chúa cứu ngoạn mục. (Chuyến vượt biên này và hai chuyến sau đều không thành công, sau những ngày nằm “ém” khốn khổ tại các nhà cầu, bãi sình, ruộng lúa, trên ghe “tắc xi”…có lẽ ý Chúa muốn tôi đi cả nhà theo diện H.O.!)

Những câu chuyện trên đây chỉ là một số trong hàng trăm điều lạ mà tôi nhận được từ Chúa Giê Su từ mấy chục năm rồi. Ngày hôm nay, tường thuật lại, không có mục đích nói về mình, mà về Tình Thương vô cùng to lớn của Chúa, một tình thương mà không có bút mực nào, tranh vẽ nào, bản nhạc nào có thể diễn tả đầy đủ được. Từ khi Chúa Giê Su xuống trần đến nay đã mấy ngàn năm, Ngài vẫn ở lại với Con Người và giúp đỡ hàng tỷ con người vượt qua nhiều thử thách, hoạn nạn. Với Việt Nam, biết bao người vượt biên nhờ lời cầu nguyện! Biết bao người đã thoát chết kỳ lạ trong các trại lao tù khổ sai! Biết bao gia đình thành công bên Mỹ một cách lạ lùng! Vì thế, với lòng chân thành, xin dâng câu chuyện này để cùng với hàng tỷ người Tạ Ơn Chúa đời đời, kiếp kiếp chẳng cùng.

Chu Tất Tiến

Ý kiến bạn đọc
04/08/201617:30:55
Khách
Đồng ý với tác giả. Quả là những phép lạ.
04/08/201606:10:12
Khách
Tôi tin tuyệt đối vào Đấng Tối Cao. Tôi không theo Công Giáo, và cũng không phải là mồt Phật tử thuần thành, nhưng tôi đã nhiều lần chứng nghiệm sự linh ứng của Phật Bà Quan Âm cứu sống cuộc đời của tôi.
03/08/201618:11:25
Khách
'Phước cho kẻ chảng thấy mà tin'
'Vả đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong.là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy [thánh kinh sach hebreux 11 :1]
Cám ơn Chúa về bài vết của tác giả , như một lần nữa tái xác tín lòng tin vào TINH YÊU tuyệt đối của Chúa cứu thế Jesus.Tôi rất cảm động về lòng thành của tác giả , trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng dâng trình lên Chúa và phó thác hoàn toàn trong 'Ý Chúa được nên 'Xin Chúa tiếp tục trong dụng ngòi bút của tác giả như một chứng nhân trung thành của Chúa Amen
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.