Hôm nay,  

Albert Camus, “Người Xa Lạ”

07/11/201812:38:00(Xem: 7792)
blank
 

Albert Camus, “Người Xa Lạ”

 

Cao Đắc Vinh

 

Sáng nay, một ngày giữa thu đầu tháng 11, ngoài khung cửa sương thu la đà rơi lưng trời tạo nên cảnh u buồn hoài cảm.

Khu phố vẫn ngái ngủ, mặt trời chưa thức dậy, hơi lạnh ban khuya còn bao phủ căn phòng, tôi pha hai ly cà phê nóng rồi ngồi đối diện với người đàn bà mà tuổi đôi mươi đã qua từ mấy thập niên. Nàng cắt tóc ngắn, đôi mắt to tô điểm vội vàng cố tình làm mờ dấu thời gian, chiếc lưng thẳng nối dài tấm thân mảnh khảnh ngẫu nhiên bồi thêm nét thanh tú yêu kiều... Một vẻ đẹp mùa thu trước mắt tôi.

Hớp một ngụm đắng, mùi cà phê tan vào khứu giác làm bay bổng tâm hồn, tôi cao hứng bắt đầu trò truyện:

- Đố em ai đã viết “mùa thu là mùa xuân thứ hai khi mỗi chiếc lá là một cánh hoa”?

- Anh nói đi... Em không biết!

- Camus... anh nghĩ đến câu ấy vì mùa xuân thứ hai đang ở trước mặt anh.

Nói xong tôi nhìn nàng say đắm... Cảm thấy mất tự nhiên, nàng vội nâng ly cà phê nóng ôm giữa lòng bàn tay như để khỏa lấp sự ngượng ngùng rồi vuốt nhẹ mái tóc ra phía sau, mỉm cười bâng quơ, một nụ cười điềm đạm không hé môi. Tôi hỏi tiếp:

- Những năm ở College, em đã đọc “The Stranger” của Camus chưa?

- Có nhưng... không hiểu!

- Vậy em thử đoán hôm nay là ngày gì?

- Ngày gì hả anh?

- Ngày sinh của Camus nên anh sẽ kể triết lý “phi lý” Camus cho em nghe nhé!

Nàng gật đầu, đôi mắt long lanh nhìn tôi chờ đợi.

- “The Stranger” (Người Lạ Mặt) là cuốn tiểu thuyết đầu tay cùng với “The Myth of Sisyphus” (Huyền Thoại Sisyphus) là hai tác phẩm chính của Camus vừa xác định vừa phủ định rồi nhận định một hướng đi đối với sự phi lý trong đời người.

- Em nhớ... cuộc đời Camus cũng nghèo khổ, phi lý và thăng trầm giống như văn chương của ông.

- Đúng vậy! Nói đến triết lý phi lý của Camus thì không thể nào bỏ quên tiểu sử. Để anh kể em nghe từ đầu...
 

Albert Camus sinh ngày 7 tháng 11 năm 1913 ở Mondovi (ngày nay gọi là tỉnh Dréan) xứ Algérie Bắc Phi. Cha ông là Lucien Camus, thợ Pháp trồng nho, bị thương nặng trong trận Marne năm 1914 khi thế chiến thứ I bùng nổ rồi chết ở quân y viện St Brieuc do đó ông không biết mặt cha. Mẹ ông là Catherine Sintès gốc Tây Ban Nha giúp việc nội trợ để nuôi hai con. Nơi đây, Camus sống với ông ngoại bản chất nghiêm khắc độc tài, ông cậu chuyên nghề bán thịt và người mẹ tuy thương yêu con nhưng vừa điếc vừa mù chữ nên ít chuyện trò. Sau khi chồng chết, vì nghèo bà Sintes mang các con về vùng ngoại ô Belcourt ở chung với mẹ và người chú bị tê liệt. Camus sống cô đơn, ngoài giờ học, lang thang với đám bạn bè đá banh, phơi nắng, tắm biển trong khu chung cư bình dân tạp nhạp đủ hạng người. Thuở bé, Camus mắc bệnh lao nên thường phải nhập viện. Nằm nhà thương, ông luôn bị ám ảnh bởi sự chết và nghèo khổ! Năm 1930 ông đậu Tú tài và để có tiền ăn học, ông làm đủ thứ việc... thư ký cho sở khí tượng, tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi rồi công ty gởi hàng hoá. Công việc nhàm chán “sáng sách ô đi, tối sách về” đã ảnh hưởng vào tư tưởng phi lý của ông sau này. Lên Đại học, Camus theo môn triết và đỗ cử nhân năm 1935, cao học 1936 ở Algeria. Tuy gốc “chân đen” (pieds noirs) yêu quê hương miền biển sa mạc nhưng bản chất nhân từ, ông viết báo, hoạt động đòi công bằng, bác ái cho dân bản xứ Hồi giáo chống chính quyền thuộc địa. Báo bị đóng cửa không tìm ra việc nên Camus phải rời về Paris. Ông ra nhập đảng Cộng Sản năm 1934 và 3 năm sau 1937 bỏ đảng. Đó là thân thế Camus và từ đó con người đi vào tác phẩm.

- Còn cuốn tiểu thuyết “The Stranger” ra sao? Anh kể cho em đi...
 blank

Tôi chậm rãi hớp một ngụm cà phê trước khi nói tiếp:

- Anh sẽ bắt đầu tóm tắt cốt truyện “Người Xa Lạ” cho em nghe. Tuy nhiên đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện của chàng thanh niên Meursault vì thế để thêm phần hào hứng, anh sẽ nói như chính anh ta kể chuyện với em... Bắt đầu là mấy dòng chữ như thế này:

Mẹ chết hôm nay. Cũng có thể hôm qua. Tôi không biết! Nhận được tờ điện tín từ viện dưỡng lão: “Mẹ qua đời. Tang lễ ngày mai. Trân trọng.” Quả tình nó chẳng nghĩa lý gì cả. Có thể sự việc đã xảy ra hôm qua?

Viện ở Marengo cách Algiers 80 cây số, coi như mất 2 tiếng đi bằng xe buýt. Hôm nay thứ Năm, vì đang làm việc ở công ty gởi hàng nên tôi xin phép ông chủ nghỉ 2 ngày. Ông ấy tỏ vẻ khó chịu nên tôi phải lên tiếng xác định: “Không phải lỗi tôi nếu viện muốn an táng vào ngày thứ Sáu!”

Tôi rời văn phòng đến tiệm Celeste’s ăn trưa. Celeste là chủ tiệm, chỗ quen biết vì tôi thường đến đây dùng bữa. Xong xuôi, tôi đón xe buýt dự trù sẽ đến Marengo vào buổi chiều nhưng từ làng Marengo lại phải cuốc bộ khoảng 2 cây số mới tới viện dưỡng lão mà trời thì rất oi bức.

Đến nơi, gặp quản gia, ông ấy dắt tôi vào nhà xác và cắt nghĩa về cái nắng mùa hè nên phải gấp rút việc chôn cất. Đứng bên quan tài, tôi thấy nắp hòm còn khép hờ. Quản gia ôn tồn hỏi tôi có muốn xem mặt mẹ? Tôi trả lời “không cần thiết” vì sau mấy tiếng đồng hồ dưới ánh nắng chói chang, tôi thấy khó chịu, mồ hôi toát ra ướt đẫm. Sau lời từ chối, ông ấy lộ vẻ ngạc nhiên. Cái mệt cùng với không gian hư vô u buồn của nhà xác làm tôi thèm hút thuốc và uống cà phê cho tỉnh ngủ.

Gặp vị giám đốc sau đó, ông ta cũng hỏi tôi muốn nhìn mặt mẹ lần cuối trước khi đóng đinh quan tài? Tôi cũng nói “không” ngắn gọn!

Đêm hôm ấy, tôi gặp những cụ già sống ở đây một thời quen biết mẹ. Họ ngồi ngay hàng thẳng lối để tưởng niệm và cầu kinh nhưng luôn luôn kín đáo nhìn tôi dò xét qua từng cử chỉ. Ở hàng ghế phía sau, bỗng có tiếng khóc thút thít. Lão quản gia ghé tai tôi nói nhỏ... “đó là bà cụ thân với mẹ tôi, họ thường ngồi bên nhau tâm tình bây giờ mẹ tôi đi thì cụ ấy cảm thấy cô đơn”. Ngoài ra ngày mai còn một cụ ông sẽ được phép tiễn đưa trong tang lễ... cụ Thomas Perez thương yêu mẹ tôi đến nỗi ở đây họ bảo đó là “fiancé” của mẹ.

Sáng thứ Sáu mặt trời vừa lên, ánh nắng chói chang báo trước một ngày đẹp nhưng rất oi bức. Tôi đi sau quan tài dĩ nhiên có cả cụ Perez. Nhìn cụ khoác bộ áo màu đen, tay chống ba toong, chân đi khập khiễng trong cái nóng gay gắt mà ái ngại. Cụ lê từng bước trên con đường đất đỏ nên không sao theo kịp đám tang. Sau cùng, thấy cụ đi tắt, ngang qua cánh đồng để có thể nhập vào tang lễ. Mắt cụ đỏ vì khóc, mồ hôi đổ giọt đọng trên má từng hàng ở những nếp nhăn.

Đã lâu tôi không có dịp về miền quê như hôm nay nên phong cảnh quang đãng, không khí trong lành, không gian thanh tịnh cho tôi cái hạnh phúc khoan khoái nếu quên đi ngày chôn cất mẹ.

Nhìn mồ hôi lấm tấm trên mặt tôi, cô y tá phân trần: “Nếu chúng ta đi chậm dưới ánh mặt trời gay gắt, sẽ dễ bị say nắng nhưng nếu đi nhanh, mồ hôi toát ra lại sinh cảm lạnh lúc bước vào nhà thờ.” Tôi thấy cô ấy có lý... không lối thoát ở mọi hoàn cảnh!

Trưa thứ Bảy về nhà, thế là tôi được 4 ngày nghỉ. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông chủ không hài lòng lúc tôi xin phép nhưng thôi... ổng nghĩ sao cũng được, tôi bất cần!

Nhìn nắng nóng chan hoà, tôi dự tính trưa nay sẽ đi bơi. Rồi lang thang ở bờ biển, tình cờ tôi gặp lại Maria Cardona, cô thư ký làm cùng hãng khi xưa. Nhìn Marie, thấy cô ta đẹp!

Biển lặng sóng, nàng nằm ngửa trên chiếc phao, tôi gối đầu trên bụng nàng du dương với những va chạm xác thịt. Sau bữa tối ở Celeste’s, chúng tôi xem ciné, tuần này họ chiếu phim vui nhộn của Fernandel. Ngồi trong rạp, nôn nao vì bộ ngực hấp dẫn, tôi mơn trớn cặp vú của nàng. Marie chỉ rên qua làn hơi nhẹ, tôi mạnh bạo với người sang hôn nàng trong bóng tối nhưng nụ hôn ấy không mấy tuyệt hảo vì những tiếng cười xung quanh. Tôi rủ Marie về nhà làm tình rồi ngủ qua đêm.

Sáng Chủ nhật, Marie rời nhà trước khi tôi thức dậy. Mùi da thịt của nàng còn vương trên chăn gối đêm qua càng làm tôi ngây ngất! Ghét ngày Chủ nhật vì chẳng biết làm gì, tôi đành đứng ở ban công nhìn người qua lại dưới phố. Có anh lính bước vội trên đường ngước nhìn tôi, vẫy tay chào. Mấy ông bà dạo phố cũng khoác tay về phía tôi miệng cười toe toét. Tôi vô tư chỉ thấy vẻ đẹp thiên nhiên hữu tình cùng mặt trời và biển mặn.

Sáng thứ Hai, tôi đi làm. Ông chủ vui vẻ hỏi tôi về tuổi của mẹ. Tôi nói khoảng “sáu mươi” vì không biết con số chính xác. Buổi trưa tôi lại đến tiệm Celeste’s ăn, uống rượu, hút thuốc rồi về ngủ sau đó mới trở lại sở làm. Chiều nay, trên đường về tự dưng tôi muốn nấu khoai tây luộc ăn bữa tối.

Vừa lên cầu thang, tôi gặp Salamano với con chó spaniel. Hàng xóm lâu năm, từ lúc mẹ tôi ở đây và vợ ông ta còn sống. Vợ chết, Salamano cô đơn xem spaniel như bạn tri kỷ nhưng mỗi khi con chó vô tình làm phiền thì tức khắc Salamano đánh đập và chửi rủa thậm tệ. Ngày nào cũng thế và cảnh tượng này giống đời sống của vợ chồng Salamano khi xưa.

Sau Salamano, tôi gặp Raymond Sintes, anh ta rủ tôi ăn tối với dồi heo và rượu đỏ. Tôi đồng ý! Chè chén xong, Raymond nhờ tôi viết cho cô bạn gái Ả rập Moorish mà anh yêu nhưng phụ tình nên anh đánh, cô ấy giận không đến nữa. Anh mê Moorish và muốn trả thù... dụ cô ấy trở lại để làm tình rồi phút chót sẽ nhổ nước miếng vào mặt, đuổi cô ấy đi! Tôi không thấy lý do gì từ chối nên nhận lời viết. Raymond nói chiều nay vừa đánh lộn với thằng Ả rập, anh của con nhỏ đó nên đau tay phải băng bó.

Cuối tuần lễ sau, Marie đến thăm. Sau những giờ phút ái ân, nàng hỏi tôi có yêu nàng không? Tôi trả lời “không” vì điều đó vô nghĩa. Yêu tôi nên Marie hỏi có muốn cưới nàng làm vợ không? Tôi lại phải nói rằng hôn nhân chẳng phải là điều quan trọng nhưng nếu nàng muốn thì chúng mình cưới nhau. Marie lộ vẻ buồn nhưng chỉ vài phút sau lại cười nói và hôn tôi. Nàng bảo yêu tôi vì những điều kỳ cục đó.

Masson là bạn của Raymond có căn nhà ngay bờ biển nên họ mời chúng tôi đến chơi và ở đây vô tình đã xảy ra án mạng... Hai người Ả rập theo chúng tôi đến bờ biển. Raymond đánh lộn bị họ dùng dao chém rách miệng phải vào nhà thương. Tôi phải giữ cây súng của Raymond để khỏi xảy ra án mạng một cách bất ngờ nhưng không may chính tôi lại là kẻ sát nhân.
 

- Câu truyện còn dài mà mặt trời đã lên cao nên anh tạm ngừng ở đây nghe em.

“Người Xa Lạ” của Camus đặt thân phận con người vào tính phi lý và vì đời người phi lý nên xã hội tìm mọi cách cho nó những niềm tin như tôn giáo hay quy ước gia đình, xã hội chẳng hạn.

Meursault sống trung thực, nghĩ sao nói vậy, mọi hành động đều có tính thiên nhiên và tự nhiên. Ở phần Hai, Meursault phải đối mặt với tù tội nhưng nhất định không theo Chúa và anh ta chấp nhận chết. An ủi rằng cái chết chắc chắn trong đời người và con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc khi ý thức cái thực tại ở ngay hôm nay... Hãy quên đi thiên đàng, địa ngục với kiếp sau.

Thôi chúng mình tạm ngừng ở đây. Hẹn em nói chuyên tiếp vào một buổi sáng khác đẹp trời bên ly cà phê.

 

11/07/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.