Hôm nay,  

Đến Hẹn, Lại Không Lên

15/06/201900:00:00(Xem: 3892)
Nguyen Nhon Tri
Nguyễn Nhơn Trí

Hôm 17 tháng 5, chúng tôi hẹn nhau tại một địa điểm ở Paris X, gặp nhau, thăm hỏi nhau và ăn trưa, nói chuyện vui với nhau nhơn có một người bạn ở Poitiers lên Paris. Việc hẹn gặp nhau, chúng tôi thường làm khi có cơ hội.

Gần tới giờ, Anh Võ Nhơn Trí điện thoại «xin cáo lỗi vì đi khám bịnh về, mệt lắm, lết không nổi nữa».

Bạn bè ai cũng nghĩ lớn tuổi, đi khám bịnh về, thường bị mệt vì ngồi chờ đợi, khám với những tư thế xoay trở, hít thở, quơi tay, dang chơn, … làm cho bịnh nhơn dễ bị căng thẳng và mệt. Đi khám bịnh, Anh Trí đi bộ, lên xuống bus/métro, đi về 2 bận, càng dễ bị mệt hơn tuy đi không xa lắm vì chỉ trong Paris.

Hôm sau, bạn điện thoại thăm anh nhưng không nhận được trả lời, lại nghỉ anh mệt, không dậy lấy điện thoại.

Rồi ngày qua ….không như anh em nghĩ anh «không lết nổi nữa» trong ý nghĩa bình thường của cách anh nói. Mà lần này nó có ý nghĩa khác hẳn. Anh không lết nổi nữa mà anh đi. Vì Anh đi được. Anh đi thật xa, thật cao, nơi không gian mênh mông, vô tận.

Anh vĩnh viễn từ giã anh em, bạn bè, chơi vói nhau, thân nhau từ năm 1984, ngày anh trở lại Pháp.

Nam kỳ, tiểu tư sản, trí thức Tây học

Võ Nhơn Trí sanh tại Sa đéc tháng 11 năm 1927, lớn lên bên quê nội Rạch giá, học Trung học nội trú ở Taberd Sài gòn.

Thật sự ông không phải tên Võ Nhân Trí mà là Robin Võ. Cũng như nhiều gia đình Tây  học, giàu có ở Nam kỳ, ông có quốc tịch pháp, lấy tên theo pháp. Năm 1960, ông đưa vợ cùng về Hà nội, tới Tòa Đại diện Hà nội ở Paris làm thông hành, họ mới bỏ tên Tây thực dân, viết tên Việt nam là Võ Nhân Trí cho ông.

Anh em phê bình «Anh là dân Nam kỳ chánh gốc thì phải NHƠN chớ tại sao NHÂN?». Ông nói tụi nó viết, tui cũng không thèm để ý. Vậy bây giờ viết lại NHƠN, bỏ NHÂN đi. Từ đây, tên của ông ghi trên sách, các bài biên khảo của ông, mới viết là Võ NHƠN Trí. Tuy nhiên cũng còn nhiều nơi viết NHÂN theo thói quen cũ.

Ở nội trú Taberd, lúc lên Đệ Nhị cấp, phòng ngủ của ông thuộc dãy nhà nằm sát tường bên kia là Bót Catinat. Nhiều đêm, ông giựt mình thức giấc vì những tiếng rên la của phạm nhơn bị lính kín Tây tra tấn. Tỉnh ngủ, nằm suy nghĩ, ông cảm thấy ghét lính Tây. Ngày qua ngày, ông thấy hận thù Tây  thực dân.

Xong Trung học, gia đình cho ông qua Pháp học Đại học. Ở Paris, ông học chánh trị ở Viện Chánh trị học, tốt nghiệp Trường Quốc gia Tổ chức Kinh tế và Xã hội (ENOES – Kỹ sư Thương mại), Tiến sĩ Luật, và qua Anh học thêm Kinh tế (Ph.D).

Năm 1960, ông đưa vợ cùng về Hà nội phục vụ chế độ nhân dân. Đây là sự chọn lựa của ông do phản ứng từ lòng thù hận lính Tây  thực dân những năm tuổi trẻ ở nội trú Taberd. Nếu ông về Sài gòn như nhiều người khác, thì cuộc đời của ông chắc chắn đã khác, thật sự có cơ hội và điều kiện tốt để phục vụ đất nước, có đời sống gia đình giàu sang. Hoặc ông ở lại Pháp, vừa không phải sống trong lo sợ chiến tranh vì bà vợ là Dược sĩ, Vi trùng học, đang làm việc ở Viện Pasteur có lương  lớn.

Về tới Hà nội, việc đầu tiên là khai sơ yếu lý lịch. Ông thành khẩn khai báo «gia đình địa chủ, tiểu tư sản, học ở Pháp Anh. Cả vợ cũng gia đình tiiểu tư sản, Tây  học».

Nhắc lại, lúc ở Sài gòn, vì câm thù Tây thực dân, khi qua Pháp, năm 1952, ông liền gia nhập đảng cộng sản pháp để cùng với giới trẻ tả phái tranh đấu chống thực dân ở thuộc địa. Về Hà nội, qua năm sau, ông được kết nạp vào đảng cộng sản hà nội.

Nhưng cả ông bà suốt hai năm đầu được đảng đải ngộ, chỉ cho ngồi chơi, đi tham quan, chớ chưa cho một việc gì làm. Hăng hái, nhiệt tình phục vụ đất nước xã hội chủ nghĩa mà, hết ngày này qua tháng kia, chỉ ngồi chơi thì không gì khác hơn, đối với người trí thức có nhu cầu làm việc, là một hình phạt, một cách tra tấn tinh thần day dẳng, ngắm ngầm mà bào mòn theo ngày tháng. Thật ghê gớm!

Sau cùng, bà vợ của ông được chỉ định làm việc trong một phòng thí nghiệm với một chị Trưởng phòng răng đen mả tấu, Dược sĩ tốt nghiệp Hà nội và Liên xô, mà kiến thức chuyên môn, theo bà Trí nhận xét, không bằng một nhơn viên trợ lý phòng thí nghiệm (Laborantine) ở Viện Pasteur nơi bà làm việc trước kia. Đúng hơn không khác gì một lao công rửa dụng cụ thí nghiệm. Nhưng tác phong của Trưởng phòng để lãnh đạo nhơn viên dưới tay bà thì hoàn toàn cách mạng đỏ ói.

Về phần ông Trí, ông được cho làm việc với tư cách Chuyên viên ngiên cúu ở Ủy Ban Khoa Học Xã hội Việt nam (Viện Kinh tế ở Hà nội và Viện Xã hội ở Tp/HCM sau 1975).

Năm 1967, ông viết quyển «Phát triển kinh tế của Cộng hòa Dân chủ Việt nam 1945-1965». Khi biên soạn, ông được phép vào kho luu trử dữ liệu kinh tế để tham khảo. Nhơn cơ hội này, ông mới biết những dữ liệu kinh tế có những mức độ chính xác khác nhau, dành cho cán bộ ở cấp bực và trình độ cũng khác nhau.

Những tài liệu gần với sự thât hơn hết chỉ dành cho Chánh trị Bộ, gần gần với sự thât thì dành cho cán bộ Trung ương đảng, …những tài liệu dành cho cán bộ tuyên truyền ra quần chúng thì chỉ còn sự thật của tuyên truyền.

Cán bộ nghiên cúu, ông cũng chỉ được quyền tham khảo nhưng khi sử dụng thì phải biết giử đúng liều lượng cần thiết.

Ngoài công việc nghiên cúu theo chỉ thị của đảng, ông còn được đưa qua phái đoàn tuyên truyền cho chiến tranh giải phóng ở các nước Đệ tam như Algérie, châu phi đen. Trong công tác này, ông được đảng và chánh phủ long trọng giới thiệu ông thuộc thành phần Đại Địa chủ, tư sản, Tây học ở Nam Bộ mà từ bỏ giai cấp, sớm giác ngộ cách mạng nên theo cách mạng. Ông dĩ nhiên được hoan nghênh nhiệt liệt. Công tác quan trọng của ông là đi tuyên truyền cho Mặt Trận Giải phóng Miền nam.

Có lần trên đường về, ông ghé qua Paris. Ông được bạn bè Việt kiều yêu nước ở Paris mời tới nhà ăn cơm. Họ hỏi ông tình hình ở Hà nội, địa vị và quyền lợi của người về phục vụ đất nước như ông. Có lẽ họ cũng có ý định về. Ông Trí kể hết những gì ông chứng kiến, ông thể nghiệm qua thân phận của chính ông và ông cực lực khuyên họ đừng bao giờ về. Và ông căn dặn đừng nói ra vì ông còn trở về bên ấy.

Sau 1975, nhiều người gốc Miền nam lần lược về Nam. Riêng ông nhiều lần xin về, vẫn không được về. Mải mấy năm sau, ông mới được về Nam. Khi lấy giấp phép về công tác Viện Khoa Học Xã hội Tp.HCM, ông gặp Phó Thủ tướng Trần Phương. Ông Phương hỏi ông có biết tại sao tới nay, ông mới được phép về Nam hay không ?

Ông thật thà bảo không biết. Ông Phương giải thích nếu cho ông về sớm như mấy người kia thì trí thức Nam Bộ sẽ không còn một người. Ông Phương hỏi ông có nhớ lúc ông ghé qua Paris trước kia, ông nói gì với Việt kiều hay không?

Ông Trí giựt mình. Ông đã căn dặn anh em giử kín cho ông thế mà vẫn có người báo cáo.

Năm 1980, từ Sài gòn, ông về Sa đéc ăn giổ. Xe đò ngừng chờ qua phà Mỹ Thuận. Ông đi ra mé sông đi tiểu. Bổng đâu công an ập tới bắt ông, cho ông toan vượt biên. Ông bị nhốt và điều tra. Tối ngủ trên nền đất với những tù khác đủ loại. Ông xuất trình giấy tờ cán bộ nghiên cúu Viện Khoa học Xã hội nhưng công an lờ đi. Sau cả tháng, cán bộ Chủ nhiệm của ông ở Hà nội đem giấy tờ vào  trình công an, ông mới được thả ra. Lúc cán bộ Chủ nhiệm tới, vốn quen biết lâu ngày, khá thân, nhưng hôm ấy, anh ta làm mặt lạnh nhạt, không chào hỏi, không bắt tay, không nói một câu hỏi thăm nhau. Ông Trí thấy thêm tình đồng chí cách mạng thật thấm thía.


Trả thẻ đảng, qua Pháp

Sau khi gia đình lần lượt tìm cách qua Pháp, ông ở lại làm con tin. Năm 1984, ông mới có cơ hội đi khỏi Việt nam nhờ người em, đệ tử của nhà toán học Laurent Schwartz, yêu cầu ông can thiệp với Hà nội nhơn một phái đoàn Pháp gặp Chánh phủ Hà nội. Thật ra Hà nội cũng chẳng muốn giữ ông lại làm gì, chỉ tốn cơm mà còn thêm thấy ghét.

Trở qua Pháp, cả ông bà đều cao tuổi. Bà phải làm lại cuôc sống từ đầu. Đi làm công cho pharmacie ở ngoại ô, nơi 8 giờ tối là hết xe. Nhiều lúc bà phải lội bộ vài km, cả dưới Trời tuyết.

Còn ông có dịp suy nghĩ, viết lách tự do, hoàn toàn theo suy nghĩ của ông. Ông được một Trường đại học ở Nhựt mời viết về kinh tế Việt nam sau 75.

Năm 1990, ông viết xong quyển «Chánh sách kinh tế Việt nam từ 1975» do Đại học Singapour xuất bản, sau 3 năm làm việc cho Viện Đại học. Quyển này được tái bản năm 1992.

Ngoài sách, ông còn viết nhiều bài biên khảo phê phán chánh sách kinh tế, chánh trị của Hà nội cho các báo Việt ngữ hải ngoại. Ông tham dự nhiều chương trình hội thảo chánh trị ở Sydney do Trung Tâm Đồng Tâm tổ chức (1995), ở Huê kỳ (AEI – American Enterprise Institute for Public Policy Research), ở quốc Hội Huê kỳ do Ủy Ban Quốc tế Yểm trợ Việt nam Tự do tổ chức, trả lời nhiều cuộc phỏng vần của các Đài phát thanh (rfa) về Hà nội vi phạm nhơn quyền, về tội ác của chánh sách cộng sản ở Việt nam, …

Ở đâu, lúc nào có cơ hội là ông hăng hái vạch trần sự bịp bợm, sự tàn ác của chế độ hà nội đối với dân chúng việt nam. Ông tâm niệm mình đã từng nạn nhơn của chế độ, từng chứng kiến chánh sách phi nhơn ấy, nay có cơ hội nói tự do, phải tố cáo nó cho mọi người biết để đừng để bị chúng nó gạt. Biết mà không nói ra là có tội. Ông còn nói rỏ «Đó là crime» (tội hình sự / trọng tội).

Ở Paris, mỗi khi có một phái đoàn chánh phủ hà nội qua vận động, tuyên truyền với dư luận người pháp và Việt kiều, ông tới tham dự để chất vấn, làm cho dư luận hiểu sự thật ở Việt nam. Có lần phái đoàn do Phó Thủ tướng Chánh phủ hướng dẩn, nói chuyện về Việt nam phát triển để mời gọi Pháp đầu tư. Phó Thủ tướng Phan văn Khải nói bằng tiếng việt, có người thông dịch cho cử tọa người pháp. Ông Trí can thiệp, dĩ nhiên phải nói tiếng pháp. Thấy đại diện Hà nội vẫn nói lấy được như ở trong xứ, ông phản bác mạnh. Trong lúc bực tức, ông không kìm được nên chửi thề (theo thói quen của ông) trước khi nói lời bằng tiếng pháp. Dĩ nhiên chỉ có người Việt hiểu và Việt kiều, cả ông Phó Thủ tướng đều xụ mặt.

Võ Nhơn Trí là vậy. Và anh em thương Võ Nhơn Trí cũng vì cái Nam kỳ đặc sệt đó.

Việt nam cần đổi mới thật sự

Sau thời gian dài theo dõi sát tình hình việt nam, Võ Nhơn Trí viết quyển «Việt nam cần đổi mới thật sự» bằng tiếng việt do Đông Á ở Vancouver, Canada, xuất bản năm 2003. Quyển sách làm Hà nội cay cú vì ông vạch trần những sai lầm, những dối trá, bản chất chế độ là độc tài ác ôn vì rặp khuôn theo  Tàu làm mẫu mực.

Ông giải nghĩa chánh sách «đổi mới» là sự chuyển hóa chủ nghĩa xã hội theo kiểu «mác-lê-mao» sang thứ chủ nghĩa xã hội theo kiểu «mác–lê-đặng» và «tư tưởng hồ chí minh».

Theo Yang Chungi, một nhà chánh trị học trung quốc, chánh sách đổi mới ở Việt nam thực hiện theo những điểm căn bản sau đây rặp khuôn Trung quốc :

- phát triển lực lượng sản xuất,

- dân giàu nhưng lần lược kẻ trước, người sau,

- kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

- dân chủ xhcn, pháp luật xhcn, văn hóa xhcn, …

- mở cửa ra các nước tư bản nhằm học tập, lợi dụng vốn liếng, kỷ thuật của tư bản để xây dựng cnxh, hiện đại hóa nền kinh tế, nhứt là trong giai đọan đầu của cnxh (nhưng giai đoạn này kéo dài không biết bao lâu, cả ngàn năm ?

Còn tư tưởng hồ chí minh?).

Võ Nhơn Trí viết «Theo gương đảng cộng sản trung quốc đề cao tư tưởng mao trạch-đông, đảng cộng sàn việt nam cũng từ 1991 trở đi, đề cao một cách giả tạo cái gọi là tư tưởng hồ chí minh tại Đại hộ 7 của họ đề có chút ít bản sắc dân tộc sau khi Liên-xô và Đông Âu sụp đổ».

Hồ Chí Minh tâm đắc quan điểm của Staline «Đảng cộng sản là công cụ của chuyên chính vô sản» và «chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của đảng cộng sản». Mà trong thực tế, chuyên chính của đảng cộng sản là chuyên chính của một người, đó lá Staline. Vì vậy, Boris Souvarine từng cho rằng Hồ chí Minh là một đệ tử tuyệt trần của Staline.

Anh đi về đâu, Anh mất về đâu =?

Hôm mùng 7 tháng 6, tại phòng tang lễ «Dernier Hommage» của nghĩa trang Père Lachaise ở Paris XX, có hai người bạn thân lâu năm của Võ Nhơn Trí, có mặt để tiễn đưa ông lên đường.

Cụ TTH, bạn cùng tuổi với Cụ Võ Nhơn Trí, ngỏ lời thương tiếc người bạn vừa ra đi «Mọi cuộc chia ly đều buồn thảm, kể cả những cuộc chia ly người ta ước muốn», như nhà văn danh tiếng của Pháp, Anatole France, thế kỷ trước, đã viết như vậy. Với thân nhân của người quá cố nỗi buồn chia tay vĩnh viễn với ông mênh mang như ảnh tượng trong thơ của Đỗ Phủ “càn khôn hàm sang di, trời đất còn mang vết thương đau”.

Ông Võ Nhơn Trí, thông qua những hoạt động dưới nhiều hình thức của mình, đã sử sự như một nhà tư tưởng độc lập, tự do.

 Anh ra đi trong nỗi thương nhớ của thân nhân và bạn bè.

 Anh đã để lại cho đời sau cả một di sản tinh thần của trí tuệ, của lương tâm cao thượng của một nhà trí thức chuyên gia mang hoài bão Kinh Bang Tế Thế. Nhưng thời thế đã ngăn trở anh Kinh Bang. Đó là một nghịch lý mà hơn một nửa thế kỷ nay anh quyết chí xóa bỏ. Anh đã tận dụng mọi cơ hội để vang vọng lời kêu gọi xoá bỏ của anh trên nhiều diễn đàn trong nước cũng như ngoài nước. Lời kêu gọi không khoan nhượng của anh, những lời kêu gọi mang tính cách mạng cải tạo xã hội được lắng nghe ở khắp nơi trong sự thuyết phục và kính trọng.
T
hái độ kiên trì của anh đã dựng lên một sự nghiệp cải tạo thời thế gương mẫu. Và thái độ ấy đã lôi cuốn lòng người lên đường xây dựng một cuộc đời tươi đẹp được giải phóng khỏi nghèo túng và sợ hãi, chẳng những cho dân tộc Việt Nam mà cho cả nhân loại.

Rất đáng tiếc là  anh đã vĩnh viễn ra đi khi sự nghiệp cứu giúp cuộc đời của anh chưa thành đạt.

Thật là một vinh dự đặc biệt cho chúng tôi dịp này được nhắc nhở công lao cao đẹp của một nhân vật mà kiến thức bén nhọn, toàn trí toàn tâm phục vụ vô vụ lợi đã triển khai tài năng, tâm trí làm đẹp cuộc đời.

Cầu mong anh sớm đến thế giới ở phương Tây xa thẳm, nơi  Hoa Khai Kiến Phật Ngộ Vô Sinh.

Xin vĩnh biệt anh Võ Nhơn Trí ”
Vĩnh biệt một trí thức lương thiện!

Nhà báo Từ Thức, trong lời “Tiễn đưa Võ Nhơn Trí” viết “Theo Cộng Sản vì yêu nước, bị phản bội, còn đau hơn là những người đã biết thực chất CS từ những ngày đầu. Cuộc đời của anh Trí là một thảm kịch. Như cuộc đời của rất nhiều người VN”. Bỡi trong xã hội ở Việt nam ngày nay, người lương thiện, ái quốc không có chổ đứng.

Một người bạn khác, nhà Toán học BDKhanh, nghe tin Anh Võ Nhơn Trí mất, gởi ngay 2 câu thơ của Bùi Giáng để tưởng niệm người bạn quá cố :

“Bao đêm thao thức thật thà
Tìm tòi chân lý, té ra tầm ruồng !”

Nguyyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.