Hôm nay,  

Tâm Tư Hồng Kông

12/10/201900:00:00(Xem: 5887)
Chau Vu at Hong Kong Polytechnic Uniiversity
Châu Vũ tại Hồng Kông.
Sinh vien bieu tinh tai truong dai hoc
Sinh viên biểu tình trong đại học.

 

Vào các năm 1989, 1990, sau khi Chính quyền Hồng Công quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn, tôi đã tình nguyện làm việc với Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tỵ Nạn (UNHCR) trong sáu tháng liền nhằm giúp các thuyền nhân Việt Nam bị kẹt trong trại. Từ đó, tôi vẫn thường quay lại Hồng Công, phần lớn thời gian là để giảng dạy và nghiên cứu trong Đại học Bách khoa Hồng Công (Hong Kong Polytechnic University - HKPU).

Sau nhiều năm tháng như vậy, tôi có thiện cảm với HK, như một nơi thăm viếng, nhưng cũng chẳng gây nhiều xúc động đặc biệt. Lần này, khi tới HK vào giữa Tháng 9 vừa qua, tôi lại thấy mình có cảm tình sâu xa với dân HK và qua những dịp nói chuyện với các sinh viên và giáo chức trong Đại học HKPU, tôi bắt đầu hiểu ra lập trường cốt lõi khi họ biểu tình chống Bắc Kinh.

Trong nhiều thập niên sau 1997, tôi đã để ý thấy những thay đổi chậm rãi nhưng đáng kể cho đặc khu bán tự trị này. Về kinh tế, sự hiện diện của doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng rõ rệt và còn khống chế các doanh nghiệp quốc tế. Về xã hội, sự xuất hiện của di dân – khoảng 50 ngàn người một năm – và các du khách từ Hoa Lục qua mua hàng đem về bán lại đã làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Ngoài đường, tiếng Quan thoại là ngôn ngữ chính tại Hoa Lục, đã át tiếng Quảng Đông của dân bản địa. Một số giáo chức gọi hiện tượng thẩm thấu ấy là đồng hóa, để sẽ xóa mất bản sắc của HK: “Hồng Công sẽ chỉ là một tỉnh của Trung Quốc.” Về chính trị, Bắc Kinh đã rất thô bạo khi bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo HK và còn nhấn mạnh rằng hệ thống tư pháp phải là cánh tay nối dài của nhà nước. Pháp quyền nhà nước chỉ là đảng quyền, xuất phát từ đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hậu quả là sự bất mãn âm ỷ của dân bản địa khi họ thấy Hồng Công mất dần truyền thống sinh động, như quyền dân chủ, tự do cá nhân và sự thịnh vượng khiến HK cũng mất luôn vị trí nổi bật là một trung tâm giao dịch toàn cầu.

Cảm giác thất vọng này được đám đông, cả triệu người, diễn tả qua hành động phản đối của từ bốn tháng qua. Khởi đầu là phản ứng chống lại dự luật dẫn độ, sự đối kháng đã lan rộng và mở ra nhiều đòi hỏi khác, nhưng tâm điểm là người dân Hồng Công phải có quyền quyết định về số phận của mình.

Kiểm lại những trang ghi chép các cuộc phỏng vấn cả sinh viên lẫn giáo chức, tôi thấy có ba lãnh vực mà mọi người cùng đồng ý, dù họ có thể là dân từ Hoa Lục, là người sinh tại Hồng Công hoặc người ngoại quốc đang sống tại đây.

Thứ nhất, mọi người đều đồng ý rằng tình trạng hỗn loạn hiện nay gây thiệt hại cho kinh tế Hồng Công, nhất là trong hai khu vực du lịch và tài chánh. Họ cùng sợ là nếu sự bất ổn chính trị này kéo dài, tổn thất sẽ không thể đảo ngược và các doanh nghiệp lẫn du khách quốc tế sẽ tìm nơi khác, như Singapore hay nước Úc. Vì lẽ đó, kết luận chung của mọi người là “chẳng ai thắng”.

Thứ hai, mọi người cũng đồng ý rằng dân HK có toàn quyền nêu ra chính kiến, qua truyền thông hay qua việc biểu tình. Nhưng thi hành quyền này như thế nào thì quan điểm của những người được phỏng vấn lại có dị biệt. Các sinh viên và giáo chức từ Hoa Lục thì lý luận rằng các quyền đó không đến từ hư vô mà nằm trong khuôn khổ của Đạo luật Căn bản (Hong Kong’s Basic Law), Những người sinh sống tại HK lại có quan điểm khác: chính Bắc Kinh không tôn trọng Đạo luật vì trong quá khứ, các cuộc biểu tình ôn hòa và hợp pháp, như Phong trào Dù vàng năm 2014, đều không làm Bắc Kinh nhượng bộ. Vì vậy, họ cho rằng hành động quyết liệt là chính đáng và cần thiết, nếu không làn sóng đối kháng sẽ mất trớn và cuối cùng phong trào dân chủ sẽ chỉ là một cước chú bi thảm trong lịch sử bành trướng của đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người đối kháng không có gì để mất mà lại có đầy lý do tranh đấu, đa số những người tôi phỏng vấn đều nhận định tình hình như vậy.

Thứ ba, quan trọng nhất, mọi người đều đồng ý rằng tự do là điều kiện thiết yếu cho sự vận hành tốt đẹp của mọi xã hội dân sự. Nhưng điểm khác biệt là sắc thái và kích thước của quyền tự do ấy. Đọc lại những gì đã ghi, tôi thấy khái niệm tự do này quá phức tạp cho từng người được mình phỏng vấn. Một số thì coi tự do là quyền có cuộc sống riêng tư và có những quan hệ xã hội không thể bị ai ràng buộc hay giới hạn. Ngược lại, có người lý luận rằng mọi xã hội chỉ vận hành hoàn hảo và hài hòa nếu các quốc gia có quyền tự do thực thi chính sách cuả nhà nước, dù có thể thu hẹp quyền tự do cá nhân hay tự do xã hội của công dân. Khác biệt trong nhận thức về quyền tự do là điều quan trọng nhất khả dĩ giải thích cường độ và sự quyết liệt của phong trào phản kháng hiện nay.

Sau khi phỏng vấn và còn trực tiếp quan sát các cuộc biểu tình tại Hồng Công, tôi nghĩ rằng phong trào phản đối đã biến dạng thành một chiến dịch bất tuân xã hội: có tổ chức, có kỷ luật với các mục tiêu mạch lạc và thuần nhất. Điểm cốt tủy của chiến dịch là “người dân muốn xã hội ứng phó thế nào với những áp đặt từ Bắc Kinh đang được các chính trị gia của họ thi hành tại Hồng Công?”

Trong lời Dẫn Nhập vào bộ sách kinh điển của nhà xã hội học Karl Mannheim, “Ideology and Utopia” (Ý thức hệ và Ảo tưởng, xuất bản năm 1929), nhà xã hội học Louis Wirth có ghi: “rốt cuộc thì một xã hội chỉ có thể tồn tại nhờ các cá nhân giữ trong đầu một hình ảnh về xã hội này, và về vai trò của họ trong đó”. Hình ảnh cần thiết về xã hội ấy có thể là do chủ trương của nhà nước, được thương thảo qua sự đồng thuận về chính trị, hoặc qua xung đột, nhưng thường là kết quả của một quá khứ chung và niềm ước mơ chia sẻ cùng một tương lai.

Bây giờ, chủ trương của Bắc Kinh là điều mà người dân Hồng Công không thế chấp nhận được, một đồng thuận chính trị là điều bất khả và những xung đột công khai đang là thực tế của đời sống. Nó rất giống với hoàn cảnh của một sức mạnh không thể cưỡng chống lại lao vào một vật bất di bất dịch: thể nào cũng có gì đó phải nhượng bộ. Chủ trương của Bắc Kinh là bất di bất dịch vì hệ thống toàn trị đang cai quản hơn một tỷ người không thể nhường cho tiếng nói của hơn bảy triệu dân Hồng Công.

Quyền lực của Bắc Kinh quả là đáng sợ. Võ khí trong tay họ gồm có bộ máy tuyên truyền rất nhuần nhuyễn, có bộ máy nhân sự do họ bổ nhiệm tại HK, có khả năng thăng thưởng hay trừng phạt kinh tế, chưa nói tới lực lượng quân đội và cảnh sát võ trang họ có thể tung ra để tiêu diệt mọi sự đối kháng. So với hoàn cảnh của vụ tàn sát tại Thiên An Môn vào năm 1989, Bắc Kinh ngày nay đã mạnh hơn trước.

Đối diện, ước mơ được sống tự do và hạnh phúc của người dân Hồng Công cũng là bất di bất dịch, không thể lay chuyển. Họ biết cái giá phải trả nên sát cánh với nhau trong một nỗi lo sợ chung: nếu nhượng bộ là họ không có tương lai. Người dân Đài Loan cũng theo sát tình hình Hồng Công vì đấy có thể là tương lai của họ.

Dù chẳng ai biết sự thể sẽ ra sao, với trực giác người ta có thể mường tượng ra một kịch bản xấu nhất: Bắc Kinh quyết định dùng bạo lực dập tắt phong trào dân chủ. Hậu quả là sự tàn khốc, là những thiệt hại về nhân mạng và những khổ đau vô bờ bến so với vụ Thiên An Môn 1989.

Kịch bản tốt nhất là sự dung hoà, nếu Bắc Kinh tìm ra giải pháp thỏa mãn yêu cầu của người dân Hồng Công mà không bị mất sĩ diện. Đây là điều khó, nhưng vẫn còn hy vọng khả thể nếu Bắc Kinh thực thi nguyên tắc “Nhất quốc, Lưỡng chế”, một quốc gia hai chế độ chính trị, tức là cho người dân Hồng Công được bầu lên lãnh đạo của mình. Nếu được như vậy, uy tín của Bắc Kinh sẽ gia tăng trên trường quốc tế, là điều lãnh đạo xứ nay cũng mong muốn sau khi chào mừng 70 năm thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc vào năm 1949.

Chẳng ai muốn mừng Quốc khánh bằng những tang lễ trên màn ảnh truyền hình quốc tế!

 

Tác giả Châu Vũ là Giáo sư Tiến sĩ toán tại Melbourne-Uc Chau, đang giảng dạy sinh viên cấp tiến sĩ về Quản trị Rủi ro Tài chánh (Financial Risk Management) tai Đại học Victoria. Do lời mời của Đại học Hong Kong Polytechnic University, trung tuần tháng 9, cô tới Hồng Công sinh hoạt với các giáo sư và sinh viên, thảo luận về tình hình kinh tế HK và phỏng vấn nhiều người ở tại chỗ để hiểu ra tâm tư của họ. Sau đó, cô từ Đại học đi xuống phố trực tiếp quan sát các cuộc biểu tình ở nhiều nơi. Trở về Úc, cô viết riêng bài này cho độc giả của Việt Báo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.