Hôm nay,  

Du Tử Lê đã về như bụi

15/10/201906:58:00(Xem: 6950)

Du Tử Lê đã về như bụi

 

Trịnh Thanh Thủy

 

Thế là người Du Tử họ Lê đã đi xa và về với bụi, như bụi. Tôi gặp gỡ ông nhiều lần, trong các buổi hội thảo, ra mắt sách, sinh nhật bạn bè, họp mặt thân hữu. Thật quá bất ngờ khi tôi nghe tin ông đột ngột ra đi vì tôi không biết ông đã bị ung thư phổi và tá tràng hàng chục năm rồi. Những cây cổ thụ văn nghệ sĩ miền Nam trước 75 lần lượt ra đi để lại những khoảng trống khó bù đắp khiến tôi thấy thật buồn. Đây cũng là lúc nhiều người đọc thế hệ sau như tôi tìm lại khung trời văn học cũ, xem lại một mảng màu rực rỡ sáng của bức tranh thơ ca một thời. Các vần thơ xuất chúng trong bức tranh ấy thuộc về thế hệ cha anh mà họ đã dày công sáng tạo, chăm sóc và vun sới từ bao năm qua.

 

Những bài thơ hay và xuất sắc của ông được các nhạc sĩ chọn để phổ nhạc có lẽ là những áng thơ ca gây ấn tượng với thính giả và độc giả nhiều nhất. Thơ ông có nhiều nhạc tính nên được rất nhiều các nhạc sĩ phổ và thính giả hâm mộ. Tỷ như các bài thơ được phổ: Trên ngọn tình sầu(Từ Công Phụng) Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (Phạm Đình Chương), Khúc thụy du (Anh Bằng), Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau (Phạm Duy), Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời", "Em hiểu vì đâu chim gọi nhau" (Trần Duy Đức), "Hiến chương yêu" (Nguyên Bích), K khúc của Lê (Đăng Khánh).

 
blank

Từ trái: nhà thơ Du Tử Lê, Trịnh Thanh Thủy, họa sĩ Trịnh Cung, nữ tài tử Kiều Chinh.

 

Các bài thơ được phổ của ông, bài nào tôi cũng thích và ưu ái. Tôi cũng khám phá ra chính mình và nhiều người đến với thơ ông qua con đường tình ca mà các nhạc sĩ phổ thơ của ông hơn là đọc các tập thơ mà ông phát hành. Tôi dự đoán có lẽ ông là người có thơ được phổ nhiều nhất.

 

Riêng bài hát "Người về như bụi" cứ vang vang trong đầu tôi phút tôi nghe tin ông vừa lên đường, khoác áo đi về nơi vô định, không bao giờ trở lại. Bài thơ này của ông được Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc, ca sĩ Kim Tước hát.

 

Nguyên bài này được viết năm 1967. Nhan đề đầu tiên là “Một bài thơ nhỏ.” viết cho Huyền Châu. Nguồn cảm hứng đến với ông khi ông tình cờ đọc lại một truyện ngắn cũ, từ những trang sách đã bụi phủ, ố vàng, mà nhân vật trong chuyện là Huyền Châu, khiến ông liên tưởng tới những hạt bụi thời gian. Từ hạt bụi thời gian, ông liên tưởng tới những bụi của một cuộc tình, những hạt bụi định mệnh một đời người...

 

Nhưng thế nào thì, cuối cùng hạt bụi cũng vẫn là hạt bụi. Nó không thể là gì khác...Và con người không chỉ được làm thành bởi những hạt bụi, mà họ còn cộng-sinh nhiều hạt bụi khác. Trong đó có cả những hạt bụi mưu đồ, hạt bụi lường gạt, hạt bụi tự ái, hạt bụi tà tâm, hạt bụi gian ác, vân vân... Trước khi, con người, cuối cùng, lại trở về hạt bụi.(trích từ trang nhà của Du Tử Lê).

 

Du Tử Lê đã sống, lăn lóc và bám đầy bụi, hoà với chúng để rồi hoá kiếp trở về nguyên thủy là hạt bụi như ông đã viết, đã tiên tri.

 

Người ta bảo thơ ông lãng mạn, đầy thi tính. Tôi theo chân ông về những thưở đầu đời và những mối tình đầy hoa trái thơ mộng tuổi thanh xuân. Để thấy tình yêu trai gái trong những thập niên 60, 70 thấm đẫm triết hiện sinh với những trăn trở, cay đắng, dằn vặt tâm tư con người. Tập thơ "Đời mãi ở phương Đông" ra đời vào năm 74 như cánh cửa tình yêu mở ra cho các sinh viên học sinh ngày ấy bước vào chập chững.

Tập thơ là một thứ rượu nho ngọt ngào đôi lứa với những lời thầm thì gọi em yêu dấu của người con trai xưng ta và đôi lúc gọi người con gái là nhỏ. Viết cho em, cho nhỏ, nghe sao mà dịu êm quá đi. Ai đọc mà tim không rụng xuống bời bời như bụi.

 

"Em yêu dấu

Phải chăng em đã là người đánh thức những bước chân ta ngủ quên, trở về ? Phải chăng cánh cửa cuối cùng, là em đã mở; để tự đó, những rặng núi đứng lên, đi tới. Những giòng suối reo vang. Những giòng sông níu những ngọn cây băng ngàn, tìm đến. Phải chăng tự em, tự nhỏ, thiên nhiên đã có trong thơ ta, trong thơ chúng ta. Tự em, tự nhỏ, thơ ta, thơ chúng ta đã được làm đầy, làm đủ cái phần hụt, cái phần thiếu rất nhiều chục năm qua.....

.............

anh đã hứa em an lòng hỡi nhỏ
ta sẽ về tới chốn của thương yêu
nơi sương sa như sữa suốt buổi chiều
nơi mưa bụi xuống lòng nhau lấm tấm
nơi đêm bước những bàn chân rất chậm
và dãy đèn xấu hổ sẽ quay đi


................"

 

Thế hệ tôi lớn lên sau 1975 ở hải ngoại mấy mươi năm nay, để thấy mình chịu ảnh hưởng lớn lao nguồn văn học thi ca miền Nam trong nước trước 1975. Tôi sinh hoạt trong một nhóm Văn Học Nghệ Thuật có những bạn bè thích sáng tạo, cố gắng tìm tòi cái mới và làm mới. Chúng tôi luôn tránh những thứ gọi là ước lệ, sáo mòn và những ý tưởng, câu thơ hay những từ mà người ta bắt chước, dùng rất nhiều được lập đi lập lại, rập khuôn. Hệt như những từ ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn như "vết chim di, sỏi đá cũng cần có nhau". Hay những chữ, câu lạ và gây ấn tượng trong thơ DTL được người đọc ưa thích và bắt chước dùng lại rất nhiều như "ngực ngải, môi trầm, hương tóc truy tầm vai thất tung ..." chẳng hạn.

 

ơn em ngực ngải môi trầm,
cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan.
ơn em hơi thoáng chỗ nằm,
dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.
tạ ơn em… tạ ơn em…

(Trích bài Tạ ơn em của Du Tử Lê)

 

Có những bài viết về thơ ông, cũng có bài phân tích cách ông làm thơ và cách ông dùng dấu gạch chéo như một sáng tạo. Sự tìm tòi và làm mới bằng dùng nhiều gạch chéo trong một câu thơ đã được giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh gọi là một đao pháp để hoán chuyển chữ. Trong bài thơ cuối cùng trước ngày ông mất, ông làm được để trên trang nhà Du Tử Lê ngày 30 tháng 9 năm 2019.

 

cảm ơn người: bao dung,

che, ủ tôi khánh kiệt

chiều rớt /xanh/ lưỡi dao,

tôi khứng! chờ… mưa tới.

(Trích chiều rớt /xanh/ lưỡi dao)

 

Tôi nhận ra ông không những thích dùng dấu gạch chéo (slash) mà ông còn dùng nhiều dấu khác như hai chấm: , dấu phẩy , chấm than?, và chấm chấm .... trong những câu thơ.

Đã vậy trong lối dùng từ, ông cũng đem những từ ít khi hay không bao giờ được dùng trong thơ ra, để làm thơ. Tỷ như từ "quy hoạch". Bài thơ "em quy hoạch tôi: rừng lãng quên" viết tặng thi sĩ Thành Tôn ngày 10 tháng 7, 2019, gây cho tôi nhiều ấn tượng khi đọc.

 

em quy hoạch tôi: rừng lãng quên
và, th. tôn

 

gió quy hoạch nắng, mưa cho phố.

em quy hoạch tôi: rừng lãng quên.

ngày quy hoạch tháng cho khô, héo.

thần chết quy hoạch tôi: đáy sông.

 

 

 Chữ Quy hoạch (theo Wiki) nếu là động từ, có nghĩa là nghiên cứu một cách có hệ thống việc áp dụng chương trình, phương phápcác biện pháp thực hiện một công trình lớn. Tỷ như : Quy hoạch thành phố,  Quy hoạch trị thủy sông.

 

Nếu là danh từ thì Quy hoạch là quá trình sắp xếp, bố trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra.

 

Ngày trước năm 1975 từ Quy hoạch cũng được dùng cùng một nghĩa với bây giờ mà khi người dân nghe được chẳng ai sợ sệt bàng hoàng vì nó có nghĩa tích cực. Ngày nay khi nhà nước dùng chữ Quy hoạch người dân nghe tới ai cũng sợ vì một khi đất đai hay một  tài sản người dân thuộc về Quy hoạch của nhà nước thì người dân coi như trắng tay. Do đó nó mang nghĩa tiêu cực nhiều hơn.

 

Du Tử Lê đã đem Quy hoạch vào thơ trong cách dùng tiêu cực nghe thật lạ lẫm. "gió quy hoạch nắng, mưa cho phố, Em quy hoạch tôi: rừng lãng quên". Mưa và rừng lãng quên là những nỗi buồn thê thiết ướt sũng nước, những khoảnh lặng, trống rỗng khi một người bị bỏ quên trong trí nhớ một người. "ngày quy hoạch tháng cho khô, héo. thần chết quy hoạch tôi: đáy sông." Hai câu cuối là hai câu tiên tri cho một hồi kết cuộc đời mà ông đã viết ra trong bài thơ này vào một ngày tháng 7 trước ngày ông mất 3 tháng. Có phải ông đã đi dần vào khô héo và thần chết đã chờ ông ở đáy sông?

 

Hình như ông đã chờ điều này tới từ rất lâu. Trong những bài thơ ông làm gần đây, tôi nhận thấy ông dùng những từ như "Chờ ...mưa" rất nhiều điển hình là bài thơ cuối ngày 30 tháng 9 "Chiều rớt/xanh/lưỡi dao. Tôi khứng! chờ ...mưa tới". Ông như cái cây khô, đợi mưa tới. Và rồi cơn mưa cũng tới đưa ông đi với những bạn bè mà ông gọi là "sẹo cây" đã bị xóa từ từ không còn dấu vết.

 

 

cuối đời / tôi ngồi đây /

bằng hữu như sẹo cây:

bị xóa dần dấu vết.

 

Cuối đời ông làm thơ tặng bạn, hết người này đến người khác như một lời chia tay. Giờ ông đã an nhiên không cần chờ mưa cho tươi mát, đợi nắng về bầu bạn, sợ chập trùng đêm: ám độc. Ông đã hoà vào mưa vào nắng vào đêm để thảnh thơi về một cõi không phải là nhân gian.

 

Trịnh Thanh Thủy



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.