Hôm nay,  

Chánh Pháp Số 103, Tháng 06.2020

01/06/202008:49:00(Xem: 2874)

CHANH PHAP
Hình bìa của Jplenio (Pixabay.com)

NỘI DUNG SỐ NÀY:

¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2

¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 4

¨ BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9

¨ THÔNG ĐIỆP CỦA SỰ HẠNH PHÚC (ĐNT Tín Nghĩa), trang 12

¨ TỬ SINH, TỰ TÌNH KHÚC (thơ Ns. Hạnh Đạt), trang 13

¨ TÀI SẢN SẼ MẤT, TẠO PHƯỚC THÌ CÒN (Quảng Tánh), trang 14

¨ TÂM THƯ CẦU NGUYỆN BỆNH DỊCH CORONA VŨ HÁN CHẤM DỨT (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 15

¨ CHÚC NGUYỆN THƯ PHẬT ĐẢN 2564 (TK. Thích Tuệ Sỹ), trang 16

¨ THỌ GIỚI (HT. Thích Huệ Hưng), trang 18

¨ SAU MÙA GIÓ LOẠN (thơ Mặc Phương Tử), trang 23

¨ CHÙA CỔ THIÊN TỨ... (Tâm Không Vĩnh Hữu), trang 24

¨ QUYẾT ĐỊNH THÀNH PHẦN NHÂN SỰ HĐĐH NHIỆM KỲ 2020-2024 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 27

¨ ĐỨC PHẬT VỚI VẤN ĐỀ CẢI TIẾN XÃ HỘI (HT. Thích Minh Châu), trang 28

¨ ĐỐT ÁO – Câu Chuyện Dưới Cờ (Thị Nguyên Nguyễn Đình Khôi), trang 32

¨ CÔNG CUỘC CHẤN HƯNG Ở BẮC KỲ (Nguyễn Lang), trang 33

¨ DỰNG LẬP, THẠCH TRỤ (thơ Đồng Thiện), trang 27

¨ LÒNG VỊ THA, TỪ BẢN CHẤT ĐẾN HOẠT DỤNG (Huỳnh Kim Quang), trang 38

¨ TĨNH (thơ Tuệ Nha), trang 41

¨ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN TẠI CHÙA BÁT NHÃ (Thanh Huy), trang 44

¨ KHỔ ĐAU VÀ CORONA, VƯỢT QUA KHỔ NẠN (thơ Diệu Viên), trang 47

¨ THƠ SẼ CHỮA LÀNH THẾ GIỚI (Nguyên Giác), trang 47

¨ LONG TUYỀN CẢNH VỊNH (thơ Thích Chúc Hiền), trang 50

¨ CÁI ĐUÔI CHÓ XOẮN RUỘT GÀ (Truyện cổ Phật giáo), trang 51

¨ NHỮNG CON ĐƯỜNG XƯA (thơ Thục Uyên), trang 52

¨ STORY OF THE THERA WHO STAYED ALONE (Daw Tin), trang 53

¨ TU HỌC THEO ĐỨC PHẬT (Thông Đạo), trang 54

¨ MỘT CHỖ CÓ THẬT, NÔN NAO... (thơ Quảng Tánh Trần Cầm), trang 56

¨ TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N.), trang 57

¨ DỨA, PHÈN CHUA, SỎI THẬN (Bs. Nguyễn Ý Đức), trang 59

¨ THÔNG TƯ V/V QUYÊN GÓP VẬT LIỆU Y TẾ ĐỂ TIẾP TRỢ CHỐNG DỊCH COVID-19 (TV Từ Thiện Xã Hội), trang 62

¨ DANH SÁCH ỦNG HỘ VẬT LIỆU Y TẾ TIẾP TRỢ CHỐNG DỊCH COVID-19 (Thư Ký Chánh Pháp), trang 63

¨ HÌNH ẢNH TẶNG VẬT LIỆU Y TẾ CHO CÁC BỆNH VIỆN (TV Từ Thiện Xã Hội), trang 64

¨ THAM, SÂN, SI TRONG KINH PHÁP CÚ (TM. Ngô Tằng Giao) trang 66

¨ HÌNH ẢNH TẶNG VẬT LIỆU Y TẾ CHO CÁC BỆNH VIỆN, t.t. (TV Từ Thiện Xã Hội), trang 72

¨ BẠN RẤT THÂN (thơ TM Ngô Tằng Giao), trang 74

¨ TRỘM HƯƠNG (Tiểu Lục Thần Phong), trang 76

¨ TỨ CÚ LỤC BÁT “TRĂNG” (thơ Mãn Đường Hồng), trang 78

¨ NÚI XANH MÂY HỒNG – chương 5 (Vĩnh Hảo), trang 80

¨ MỒ CÔI BẠN (thơ Thanh Yên), trang 83

¨ NẤU CHAY: NẤM LOA KÈN KHO GỪNG (Thanh Vũ) trang 88

http://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202020/CP%20so%20103%20(06.20).htm


Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.