Hôm nay,  

Tiếng Gọi Của Lịch Sử

06/06/202016:43:00(Xem: 6056)

                                                  

 

            Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020.

            Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống.

            Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi.

            Ngày 6 tháng 6 năm 1944.

            Ngày có tên lịch sử là D-Day.

           
Hue Tran
Ngày lực lượng quân đội đồng minh đổ bộ lên bãi biển Omaha, tỉnh Normandie Pháp Quốc để ngăn chặn âm mưu thống trị toàn cầu của Đức Quốc Xã.

            Ngày D-Day lịch sử đó, tới nay vừa đúng 76 năm, hơn ¾ thế kỷ.

            Và với tôi, kẻ lang thang đặt chân tới địa danh lịch sử đó vào mùa hè năm 2000, tới nay vừa đúng 20 năm.

            20 năm trước, con dế mèn như tôi làm sao có thể phiêu lưu ký tới một nơi chốn lịch sử mà dù có nằm mơ cũng không mơ tới được.

            Số là, thời đó tôi còn quẩn quanh chốn bụi hồng, đi làm kiếm cơm nuôi thân và nuôi gia đình. Công việc kế toán trong văn phòng không khó nhọc chi, nên buổi tối, tôi ghi danh học thêm ngoại ngữ tại Cerritos College. Một, trong những môn học đó là Pháp ngữ vì tôi từng được phụ thân chỉ dạy những nét đặc thù phong phú của nền văn học này.

            Lớp Pháp ngữ tôi theo học do giáo sư Roland Bellugue hướng dẫn. Với quá “ngũ thập cổ lai hy”, có lẽ tôi là học sinh già nhất so với các bạn đồng học. Biết thế, tôi luôn cố gắng, siêng năng, không bỏ một buổi nào trong suốt 3 khóa học. Trước khi bế giảng khóa thứ ba, đó là mùa hè năm 2000, giáo sư Roland Bellugue báo tin mừng là hè năm nay sẽ có chương trình gặp gỡ, trao đổi kiến thức giữa các sinh viên từ khắp nơi, quy tụ về đại học xá tại Paris, trọn một tháng ăn, ở, tại Cité Universitaire. Thầy cho biết, ai muốn tham dự phải ghi danh sớm, và lệ phí không đến nỗi “hết hồn” như tôi tưởng!

            Đúng thời gian đó, tôi vừa đủ tuổi để có thể “về hưu non” dù bạn bè đều cản là còn sức khỏe, làm tiếp đi, sau này tiền hưu nhiều hơn. Ấy thế mà tôi can đảm “Nhiều để làm gì?”

            Ôi, còn đợi gì nữa! Nộp đơn về hưu ngay. Và ghi danh để có mặt trong nhóm 42 sinh viên mọi quốc tịch mà thầy Roland Bellugue sẽ hướng dẫn qua Pháp.

            Chương trình sẽ học văn học sử buổi sáng, ở đại học Sorbonne với các giáo sư của đại học này; buổi chiều giáo sư phụ trách nhóm nào sẽ hướng dẫn nhóm đó tham quan Paris và những vùng phụ cận. Riêng 3 ngày cuối tuần, mỗi nhóm sẽ tự chọn, tham quan xa hơn, tùy quan điểm của giáo sư hướng dẫn và sinh viên trong nhóm.

            Một, trong những cuối tuần rời Paris 3 ngày, chúng tôi đã được thầy Roland Bellugue cho cơ hội ngàn năm một thuở, là hướng về Normandie, thăm bãi biển Omaha mà ngày D-Day lịch sử năm 1944 hàng trăm ngàn quân đội đồng minh đã đổ bộ cho nền Tự Do Nhân Bản của thế giới.

       Hôm đó, trời bất ngờ đổ mưa tầm tã. Đa số chúng tôi không chuẩn bị đủ áo ấm. Tới Caen, cách bãi biển Omaha không xa, trời ngớt mưa nhưng gió và mây xám vẫn vần vũ. Chúng tôi được ghé vào bảo tàng viện ở Caen để chờ trời quang đãng hơn, và cũng là dịp thăm nơi trưng bày và lưu giữ những hình ảnh về cuộc đổ bộ vĩ đại của quân đội đồng minh ngày 6 tháng 6 năm 1944.

            Tại đây, tôi và các bạn cùng nhóm đều mua nhiều loại postcard về ngày lịch sử đó.

            Chúng tôi chỉ dừng ở Caen khoảng 2 tiếng đồng hồ, rồi lại lên xe bus để tới thăm nghĩa trang quân đội Mỹ ở bãi biển Omaha. Chính nơi đây, hơn nửa thế kỷ trước, rạng sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944, khoảng 120 ngàn quân nhân đồng minh và hơn 20 ngàn chiến xa đã đồng loạt đổ bộ tại 5 địa điểm đã chọn sẵn.

           
Hue Tran 02
Con đường dẫn tới địa danh lịch sử đó là làng Vierville, ngôi làng nhỏ với những cánh đồng cỏ thả bò, cừu, những mái nhà thấp, những đền thờ rêu phong, nhưng trên tinh thần thì đây chính là linh hồn Normandie vì làng Vierville đã đi vào lịch sử thế giới cùng với bãi biển máu Omaha.

            Khi xuống xe bus ở trước nghĩa trang, trời lại mưa nhẹ hạt nên tôi chưa vội chụp hình, chỉ kiểm lại xem máy còn bao nhiêu phim. Nhìn thấy con số 26, tôi yên trí đây là cuộn phim 36 tấm.

            Rồi mưa cũng ngưng và trời đã sáng sủa hơn.

            Đứng trước tượng đài, nơi vinh danh những người đã chết cho Tự Do, tôi giơ máy lên, bấm một tấm. Đối diện tượng đài là một cái hồ lớn, với các loại hoa đang nở. Cuối hồ là nghĩa trang quân nhân Hoa Kỳ với 172 mẫu trải cỏ xanh ngắt mênh mông, trên đó 9,386 cây Thánh Giá trắng toát khắc tên những người đã được an táng và 307 mộ bia vô danh.

Tôi lại giơ máy lên, bấm một tấm, với lòng trân trọng người xưa.

            Dọc theo nghĩa trang này là bãi biển Omaha nơi bao người đã ngã gục trước những họng đại bác của Đức Quốc Xã!

            Tôi bỗng cảm thấy cực kỳ rung động khi nhận biết mình đang đứng trên nền đất lịch sử thế giới. Để cảm nhận đầy đủ, tôi đã cúi xuống, tháo giầy.

Khi đôi chân trần vừa chạm trên nền đất lạnh thì trời bỗng nổi gió lớn. Gió lộng ào ào như cơn lốc bất chợt từ đâu tới. Mọi người vội vã chạt rạt vào trong. Tôi nghe các bạn gọi tôi cùng chạy nhưng tôi không bước nổi! Hình như có ai đang giữ tôi lại. Không những không chạy vào, tôi còn bình tĩnh nhắm mắt lại, chờ đợi.

            Lúc đó, tôi chỉ cảm thấy mình nên đứng yên, chờ đợi, mà không biết là chờ đợi cái gì!

            Gió vẫn hú từng cơn, nhưng tôi không sợ hãi. Hình như có nhiều người xung quanh đang xô đẩy nhau. Nhiều ngôn ngữ trộn lẫn trong tiếng gió hú. Gió càng lớn, người càng đông, ngôn ngữ càng đầy … Tới một lúc, tôi nghe được tiếng thúc giục rộn rã, rất rõ ràng, lại như có ai đang phiên dịch trực tiếp cho tôi: “Tiến lên! Tiến lên đi! Tự Do ở trước mặt kia! Hãy tiến lên! Hãy tiến lên đi! …”

            Một vòng tay ôm lấy tôi.

            Tôi mở choàng mắt ra.

            Đó là một người bạn cùng nhóm. Bạn vừa lắc mạnh vai tôi, vừa hỏi:

-         Are you OK?

-         Yes, I am

Nhưng không thể kìm giữ cảm xúc, tôi ôm mặt, òa khóc.

-         Are you sure you OK?

-         Yes,

-         Why are you crying?

-         I am really moved by their courage.

Người bạn gật gù, lẩm bẩm “It is sad!”

Tôi biết chắc rằng, cái cảm giác “sad” của bạn mình không thể nào so sánh  với cơn lốc mà tôi vừa trải qua. Cái cảm giác “sad” nhẹ nhàng quá, mà cơn lốc thì mãnh liệt vô cùng. Cơn lốc đó là tim óc, là máu xương của bất cứ ai còn biết khát khao Tự Do và Nhân Quyền khi hai thứ đó bị tước đoạt.

Trước khi rời bãi biển Omaha, trời đã chạng vạng tối. Tôi giơ máy, bấm một tấm. Không thấy ánh flash!  Nhìn vào máy thì hỡi ơi, phim vẫn nằm ở số 26, có nghĩa, đây là cuộn phim 24 tấm, số tăng tới 26 chỉ là 2 tấm phụ trội thông thường mà tôi đã xử dụng rồi!

Trời hỡi, trong chuyến đi, tôi đã chụp biết bao cuộn phim, sao lại có thể sơ sót đến thế! Sao lại có thể không có một tấm nào ở nơi đầy di tích lịch sử như thế này!

Rời Normandie, mọi người đều nao nức vì điểm tới là St. Malo, một thành phố cổ kính ven biển mà chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại một khách sạn trong tỉnh.

Lấy phòng xong, ai cũng vội vã ra phố chơi. Chỉ có tôi ngồi lại, buồn bã giở xấp card postal mua ở Caen ra xem. Ngay tấm đầu tiên, trong một xấp lộn xộn đủ loại, là tấm card ghi lại 2 phần, phần trên, cảnh tượng đài trước hồ và phần dưới là cảnh nghĩa trang với những cột Thánh Giá trắng toát, lạnh lẽo.


Hue Tran 03
Đây chính là hai nơi tôi muốn lưu lại hình ảnh trong máy của mình trước khi lên xe bus, mà máy đã hết phim!

Một tấm cart postal, ghi đúng 2 cảnh này, không thêm, không bớt, không gì khác nữa!

Tôi buông cả xấp cart còn lại xuống mặt giường, không xem gì nữa! Đã quá đủ! Đã quá đủ rồi!

Có phải đây là tín hiệu cho tôi? Có phải những người năm xưa, trong một phút giây thiêng liêng mãnh liệt đã bắt gặp tấm lòng trân trọng nơi tôi?

Sự trùng hợp quá lạ lùng khiến tôi càng nhìn tấm card, càng tin như thế. Chính tấm carte postal này là thông điệp thầm lặng cho tôi biết rằng, cơn lốc bất chợt trên bãi biển Omaha và những tiếng thúc giục huyền bí không phải là ảo tưởng…

Khi đi qua cửa phòng tôi, thấy còn ánh đèn, giáo sư Roland Bellugue đã gõ nhẹ. Thầy luôn quan tâm tới những gì thấy hơi bất thường ở đám học sinh.

Tôi mở cửa, mời thầy vào, đưa thầy xem tấm postcard và nói với thầy về những xúc động đầy ắp trong tôi.

Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thầy cho rằng tôi quá nhạy cảm mà tưởng như thế. Nhưng tôi đã sửng sốt khi thầy dịu dàng nhìn tôi, nói rằng, có thể, tôi đã vừa được “gặp” họ.

Tôi mở lớn mắt, khiến thầy phải bổ túc thêm điều thầy muốn chia sẻ, là những người năm xưa đó, cũng như vạn hữu này, không có sinh, cũng chẳng có diệt. Nếu nhìn bằng sự trong suốt của tâm linh, ta có thể thấy được sự sinh diệt, còn mất chỉ là chuyển hóa, Sự chuyển hóa không ngừng nên đủ duyên gặp đồng tâm thì giao cảm, qua sát na đó, lại nhẹ như mây, hòa vào vạn hữu, theo giòng chuyển hóa.

Ngay khi đó, tôi không hiểu rõ lời giáo sư Roland Bellugue vì tôi đã để cái lăng kính phân biệt của mình bận rộn với những ngạc nhiên và thắc mắc, rằng giáo sư là người Tây Phương, sao cũng mang những tư tưởng sâu sắc về Đông Phương như vậy? Nếu tôi không quá nông cạn và khờ khạo thì cơ duyên hôm đó, có thể tôi còn được giáo sư chia sẻ bao điều thâm thúy hơn là những đề tài giới hạn trong bài học ở trường lớp!

Từ Pháp Quốc dẫn đám học trò về lại Hoa Kỳ, giáo sư Roland Bellugue không còn đứng lớp nữa. Thầy bị ho nhiều và được chẩn bệnh là ung thư phổi, thời kỳ chót!

Tang lễ thầy có mặt hầu hết những học sinh đã được thầy tận tụy giảng dạy. Trước linh cữu thầy, tôi nghe đáy lòng mình thầm thổn thức “Thầy đang chuyển hóa! Thầy đang chuyển hóa thôi mà!”

Và một buổi chiều, ngồi dưới gốc bưởi trong vườn sau, tôi đã chợt mỉm cười với một bóng mây bay qua.

Vì đó có thể không chỉ là bóng mây.

Vì đó có thể là giáo sư Roland Bellugue.

Thầy sẽ ôm tập bài soạn bìa xanh quen thuộc, bước vào lớp, vui vẻ bắt đầu buổi học bằng câu “Bonjour tout le monde”.

76 năm lịch sử đã qua.

20 năm tình cờ lưu dấu.

Nhìn lại thì dường như:

“Không năm, không tháng, không ngày

Thời gian là hạt bụi bay vô thường”

 

Huệ Trân

(dăm sát na tưởng niệm)

 

 

Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.