Hôm nay,  

Xứ Mình Ngộ Hén

14/07/202016:03:00(Xem: 5072)

Út Cọt tợp ly đế quốc lủi nghe kêu cái ót, mắt lim dim, thóp bụng, phồng ngực lấy hơi ca:” …Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Thằng Dĩ nhà kế bên lập tức đấu liền:”…lá rơi đắp mộ cuộc tình…”. Thằng Thuận nhà đối diện cũng “Đắp mộ cuộc tình” theo. Hai đứa hăng máu, thằng Dĩ tăng âm một nấc nữa thì thằng Thuận tăng hết cỡ luôn. Hai đứa thi nhau “đắp mộ cuộc tình”, đắp hoài mà vẫn không xong. Bên này rên rỉ róng riết thì bên kia năm nỉ ỉ ôi, khi thì âm tress chói lói, lúc thì âm bass thì thụp muốn bể cả tim. Hai đứa chơi cái giàn loa karaoke kẹo kéo, suốt ngày tra tấn lỗ nhĩ bà con trong con hẻm này. Thằng nào cũng gầm ghè nhau, người ta nói “ Con gà tức nhau vì tiếng gáy” là vậy. Đứa nào cũng từng tuyên bố:

- Tao đâu có tè thằng nào trong cái hẻm này, muốn là tao chìu, chơi là chơi tới bến!

Cô Hồng hàng xóm ngày ngày chịu trận, nhiều buổi muốn ngủ trưa mà cũng hổng yên thân. Lũ tiểu yêu với cái giàn loa to đùng nó hò hát như giặc dậy. Cô Hồng qua nhà thằng Dĩ năn nỉ:

- Con làm ơn mở nho nhỏ chút, hát to quá cô ngủ hổng được.

 Ban đầu nó dạ dạ, vặn âm thanh nhỏ một chút được vài ngày, những ngày sau nữa thì trở laị như cũ. Út Cọt hay thằng Thuận tăng âm là nó cũng tăng cực đaị luôn, nó biết như thế là làm phiền hàng xóm, nhưng nó không tăng âm thì không được, tuị kia khi dễ nó sao? Cô Liên cũng là người chung hẻm, một hôm cô chịu hổng nổi bèn ra cửa chửi:

- Mồ tổ tụi bay, hát hò như cháy nhà, phá làng phá xóm hổnng ai ngủ nghỉ gì được! 

Thằng Thuận hỗn:

- Nhà tui tui hát, mắc mớ gì bà, bà nhiều chuyện! 

Ông Bảy Thịnh ra cửa kéo cô Liên vô:

- Kệ nó đi, đừng nói nữa, nó say ngà ngà rồi, càng nói nó càng hỗn chứ được gì.

Con hẻm 69/35 Trần Văn Thời giữa trưa ngột ngạt như thở hổng nổi, nắng trút lửa xuống đầu, hơi nóng từ nền đường bê tông bốc ngược lên, hơi nóng từ tường vách mái tôn dội xuống… lúc này có vẻ trầm lắng lạ thường. Ông Tư Đào cởi trần, mặc xà lỏn ngồi dưới bóng râm của hiên nhà hóng gió, mấy ông già trong xóm cũng tụ laị đánh cờ, hút thuốc, uống trà. Ông Tư Đào khề khà:

- Tui sanh ra và lớn lên ở con hẻm này, tính sơ sơ đến nay cũng tròm trèm bảy mươi năm rồi. Tui chưa bao giờ thấy tụi trẻ ở đây hỗn như thế, ăn nhậu hát hò ầm ĩ, không ai ngủ nghỉ gì được cả. Cô Hồng, cô Liên nhắc nhở thì tuị nó còn làm dữ hơn, thà rằng hổng nói, càng nói tụi nó càng làm tới.

 Ông Chín Chút đẩy con tốt sang sông rồi nói:

 - Cái nạn karaoke với loa kẹo kéo nó quậy nát phố phường, xóm giềng mấy năm nay. Tui nghe dưới quê tụi nó cũng ầm ĩ làm cho bà con bực mình than trời như bộng. Cái nạn nầy mới đây thôi, thời tui còn trẻ đâu có cái dzụ này!

Ông Ba Bình tống nước pháo xong , cười khục khục trong cổ họng:

 - Sao bà con trong hẻm hổng làm đơn đưa lên phường?

Ông Tư Đào nói:

- Tại anh hổng biết đó thôi! Bà con mấy lần kéo ra phương rồi nhưng đâu cũng vào đó. Hôm tháng trước bà Ba Bụng, bà Hai Hương, bà Bốn Bé… ra phường thưa và nhờ giải quyết cái dzụ Karaoke loa kẹo kéo. Ai dè mấy bà thấy bà chủ tịch đang say sưa với :” … Giờ này anh ở đâu”, đợi một lát thì thấy ông bí thư nhảy vô rên rỉ:”… Anh còn nợ em, công viên ghế đá, anh còn nợ em, dòng xưa bến cũ…”. Chờ hát xong, mấy bà mời thưa trình nổi khổ bị tra tấn lỗ nhĩ. Ông bí thư tỏ vẻ thông cảm:

- Tôi hiểu nỗi khổ của bà con, bà con an tâm về đi, tôi sẽ nhắc nhở và yêu cầu mọi người giảm bớt tiếng ồn

 Hình như tiếng nói của ông bí thư cũng có hiệu nghiệm, những ngày sau đó tiếng karaoke trong con hẻm giảm bớt rất nhiều, tiếc rằng hiệu nghiệm không lâu, chỉ một thời gian ngắn là mọi việc laị y như cũ. Ông Sáu Sự ca cẩm:

- Ra đường thì kẹt xe, dừng ở đèn đỏ thì xa tải húc từ sau lưng, nắng thì hít buị khờ luôn, mưa thì ngập tới háng, còi xe inh ỏi, cướp giật như rươi. Vô trong hẻm thì karaoke ầm ĩ muốn nổ tung cái đầu, vậy mà có tay nhà báo cà chớn viết:” thành phố này là nơi đáng sống nhất”.

 Ông Hai Hội cười móm mén:

 - Nhằm nhò gì anh Sáu, cái tay nhà báo đó còn hiền đấy, bộ anh hổng xem ti vi hả? có thằng cha nào đó làm lớn trên bộ phát biểu:” Thế nước đang lên”. Rồi ông gì đó chức to chà bá lửa luôn, ổng tuyên bố:” Có bao giờ được như thế này chăng?”

Mấy ông già cười tưởng chừng sút cả hàm răng giả. Bàn cờ bên ông Tư Đào cũng có thế cờ giống như bên bàn cờ của ông Chín Chút, ngộ thiệt hén! Ông Tư Đào gõ con tốt cái cộp trên bàn cờ cười sung sướng:

 - Tốt qua sông là thành đại tướng, đừng có mà coi thường à nha! 

Ông Hai Hội chịu thua ván cờ:

- Con tốt lợi haị thật! xe, pháo tranh chuyện lớn mà sơ ý để con tốt lòn sang sông, dú dí vô cung.

Ông Tư Đào chiêu ngụm trà rồi chuyển chuyện.

- Bọn trẻ giờ lạ quá anh hai, hổng giống như hồi tụi mình. Hổng biết mê cái gì mà sẵn sàng xếp hàng cả ngày để mua đôi giày mấy triệu bạc? 

Ông Sáu Sự cười khục khục:

- Nhằm nhò gì anh Tư, tụi nó còn quỳ xuống hôn cái ghế mà cô ca sỹ Hàn Quốc vừa ngồi, tuị nó khóc như cha chết mẹ chết khi chia tay một anh diễn viên Đài Loan, thắng một trận đá banh là “đặt cả châu Á dưới gót giày”, rần rần lên khi cô người mẫu mặc quần lót hiệu này hiệu kia, thậm chí biết cả trên người cô ấy có vết sẹo chỗ kín… Ấy vậy mà bọn Tàu khựa vào ra nước mình, quậy tưng như chỗ không người thì chúng chẳng biết. Biển, đảo nước mình mất chúng chẳng quan tâm, ngư dân bị bắn chết chúng làm lơ…Bọn trẻ thời nay lạ quá anh Tư ơi!

Ông Tư Đào trầm ngâm:

- Thời thế nó zậy, thời thế nó tạo ra con người như thế. Anh Sáu quên câu “ Thời thế tạo anh hùng” rồi sao? thời thế nào thì con người nấy, cây nào thì trái ấy.

Ông Bảy Màu góp lời:

- Sao giờ càng ngày càng nhiều cái chết vô duyên, chết lãng xẹt: Bị rọi đèn pha, đâm chết người; nhìn đểu, đâm chết liền; mời rượu hổng uống, đâm gục tại chỗ; nhậu hổng mời, đâm chở đi nhà thương; nhắc nhở gạt chân chống, đâm ngã ra ra đường; phàn nàn không xếp hàng, đâm thấu tim; nẹt bô, đâm lòi ruột…kể cả ngày cũng hổng hết, đó là những vụ mà báo chí đăng đó, còn những vụ hổng ai biết thì còn nhiều nữa.

Ông Hai Hội phụ họa:

- Hổng biết ở nước ngoài sao chứ xứ mình ngộ hén! Tui thấy nhiều cái chết hay tai nạn lạ lùng hết sức, cứ tưởng như quỡn zậy! Nấu cơm canh sơ ý, để con trẻ phỏng nước sôi; nước rửa cầu tiêu, thuốc chuột đựng trong chai trà xanh, con nít uống lầm; đốt thuốc gần can xăng thế là cháy; đào đường hổng lấp thế là xe sụp hố ga; xe chạy lùi trên cao tốc gây tai nạn, quan toà xử tội thằng đi sau không né thằng đi lùi; chủ nhà đuổi đánh  thằng ăm trộm, quan xử chủ nhà ở tù, tha bổng kẻ trộm; để kết án tử, quan cho mua dao, thớt ở chợ đem về làm tang chứng; quan phạm tội, cách chức cũ cho lên làm cao hơn; học sinh trong trường bị cây ngã đè, trần nhà sập bị thương…ôi thôi ngàn lẻ một kiểu.

Mấy ông già ngao ngán lắc đầu, ông Sáu Sự bực mình:

- Bởi zậy tuị nhà giàu, con quan chức tìm đường du học, di cư hết rồi. Chúng lót ổ nước ngoài, mua nhà, mở tài khoản nhóc luôn. Giờ thì tuị con gái đẹp một chút đi lấy chồng Đài, Hàn, Tàu… con trai thì đi xuất khẩu lao động. Tuị bình dân, tuị nghèo như bọn mình chịu trận thôi, chẳng có đường nào lựa chọn cả! 

Cuộc cờ chưa tàn, bình trà nóng chưa nguội, mấy ly trà đá cũng chưa tan hết, tiếng bàn tán còn xôm tụ lắm. Chợt dòng âm bass bùng lên từ nhà Út Cọt:”… Đêm đông.. lê gót phong trần tha phương, đêm đông thấu tình cô lữ…”. Ông Tư Đào cười như mếu:

- Con bà nó, nắng muốn chảy mỡ mà đêm đông với thu sang mờ heo may!

Những ông bạn già cười chưa dứt thì nhà thằng Thuận đáp ứng Út Cọt ngay:” …Thành phố mười mùa hoa, cây mười mùa thay lá, rộn ràng tiếng chim ca…”. Ông Hai Hội nhăn nhó:

- Chim đâu nữa mà ca? chỉ có mấy thằng say rượu ca. Xứ mình ngộ thiệt mấy ông ơi! 

Tiếng khọt khẹt chỉnh âm từ nhà thằng Dĩ vọng laị, âm tress cứ rú như xé màng nhĩ bà con trong hẻm, giọng nhựa nhựa của gã ngà ngà men rượu rên rỉ:”… Đường thương đau đày ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người…”

Ông Tư Đào chép miệng:

- Nhân gian này đày ải thật thương đau phải không mấy anh? 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 072020


 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.