Hôm nay,  

Thần Núi và Thần Nước

27/11/202013:46:00(Xem: 3328)

Sơn cung hoang tàn và đổ nát, bùn đất ngập ngụa khắp nơi, mái sập tường xiêu, bao nhiêu đồ đạc bị chôn vùi hoặc cuốn theo dòng nước dữ. Sơn Tinh mặt mày buồn thảm nhìn ngọn núi sạt một mảng lớn, rừng cây trơ trụi lởm chởm những gốc cụt, ánh mắt đăm chiêu chẳng nói nên lời.

Thủy Tinh lấy tình đồng môn đến thăm Sơn Tinh, chẳng còn tâm ý nào để nhớ chuyện tình địch ngày xưa. Nhìn thấy cảnh Sơn cung tan nát, lòng cũng đau buồn không kém bạn. Thủy Tinh cất giọng mếu máo.

- Xưa tôi với anh vì Mỵ Nương mà đánh nhau, mỗi năm cũng chỉ dâng nước gây lụt lội một lần, giờ một năm mấy bận lụt lội, thậm chí có nơi nước dâng đến bảy lần trong một tháng. Bọn người xây hồ, đắp đập tràn lan, mùa khô tích nước, mùa mưa xả vô tội vạ. Nước lũ tự nhiên dâng rất chậm, mỗi ngày một ít, có khi cả tuần lễ mưa thì mới có thể gây ngập. Giờ nước xả hồ, xả đập chỉ vài giờ đồng hồ là ngập tới nóc luôn, bao nhiêu người chết, nhà cửa, tài sản, gia súc… bị cuốn trôi theo dòng lũ dữ. Thử hỏi người sao chịu thấu? có xứ nào vô đạo như thế không? 

Sơn Tinh thần khí thiểu não, giọng rền rĩ:

 - Cảm ơn người anh em có lòng lân mẫn, người anh em thấy đó! rừng cạo sạch rồi, thậm chí đến gốc cây cũng đào bới nốt. Núi bị xẻ nát như phanh thây, cả một ngọn đồi đổ ập xuống, quang cảnh như vừa trải qua một cuộc bể dâu. Bọn người tham lam, ngu muội phá rừng huỷ núi, trời mưa xuống thì đất chuồi núi lở là đương nhiên. Bọn mình mà còn xất bấc xang bang như thế này, người dân màn trời chiếu đất, muôn loài động thực vật bị chôn vùi hoặc bị cuốn trôi, lời nào tả cho hết cái thảm cảnh này? 

Sơn Tinh lắc đầu giơ hai tay kêu trời, chợt có âm thanh ngoài sơn cung đồng vọng, cả hai lắng nghe thì nhận ra tiếng gầm gừ của cọp, tiếng rống của voi, tiếng tru của sói, tiếng tác của mang…tất cả như một giàn đồng ca, tấu lên khúc tang thương nghe thật thê luơng. Bọn thú rừng sống sót sau những đợt săn bắt của lũ người và những con vừa ngoi lên sống sót sau trận lũ, lở núi đêm qua. Bọn chúng dùng cái bản năng trời ban để định hướng tìm về chốn sơn cung. Sơn Tinh dùng thẩm âm vi diệu an ủi chúng, đoạn vận thần thông tạm dọn dẹp sơn cung.

Ngoài cửa laị xuất hiện vị thần rừng, quần áo tả tơi, râu tóc bết bùn đất. Ông ta thất thểu bước vào, trông thấy nhị vị thần chủ núi non và sông nước bèn khóc rống lên, sau đó kể lể:

 - Cơ nghiệp của tôi tan nát hết rồi, bọn người nó cạo sạch rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng già, rừng thưa…Bọn họ bắt hết thú rừng, bao nhiêu tài nguyên rừng bị cướp sạch. Những cư dân có tuổi ngàn năm, vài trăm năm giờ biến thành những bộ sofa, những biệt phủ… không còn cây chắn bão, giữ nước nên chỉ một trận mưa, một cơn cuồng phong là tai họa xảy ra ngay. Nhị vị Sơn chủ, Thủy chủ ơi, tình cảnh thảm lắm thay! 

Sơn Tinh mời thần rừng an toạ, phẩy tay hoá hiện một mân cơm chay đạm bạc với nậm cúc hoa. Sơn Tinh rót ba chung, trân trọng:

 - Mời nhị vị huynh đệ, xin cạn một chung “ Nước mắt quê hưong” này! chuyện nhân hoạ rất ghê gớm và còn dài. Chúng ta tạm lót dạ chút cơm rồi hãy tính chuyện. 

Cả ba ăn trong chánh niệm, chẳng ai nói với ai lời nào. Sau khi cơm nước đã xong, Thủy Tinh giải bày:

 - Những con sông của xứ này vốn ngắn, nhỏ và dốc. Bọn người trí nhỏ nhưng lòng tham to cho xây hàng mấy trăm con đập với hồ, nắng thì giữ nước laị, khi mưa về thì vội vàng xả xuống, thử hỏi với lượng nước xả khổng lồ ấy không gây tai họa mới là lạ! Những nhóm lợi ích kết cấu quan quyền để làm ăn trục lợi, bất chấp nhân tình thế thái, chẳng kể quy luật tự nhiên, tất cả chỉ nhằm mục đích tiền vào túi càng nhiều càng tốt, còn hậu quả thế nào thì mặc kệ nhân dân với môi trường sinh thái. Dân chúng kêu oan chẳng thấu trời xanh. Có vài vị học giả, trí thức đã lên tiếng cảnh báo nhưng tiếng nói của họ rơi tõm vào sự im lặng đáng sợ. Quan laị và triều đình ngậm miệng, đa số bọn thức giả thì mũ ni che tai, dũi đầu vào cát như đà điểu, dân chúng thờ ơ bởi vậy mà mối nhân hoạ càng ngày càng trầm trọng. Sau khi lũ chồng lũ xảy ra, người chết nhà trôi, tài sản mất… nhiều tiếng nói phản biện cất lên. Ấy vậy mà có ông tiến sĩ chi đó vốn gộc bự ở triều đình đăng đàn:” Nước xả hồ, xả đập chỉ như vài thau nước hắt vào dòng kêng, không thể gây ra lũ lụt”. Cái lý luận ngu xuẩn ấy đến người vô học cũng không dám nói, thế mà ông ấy nói tỉnh bơ. 

Sơn Tinh nghe thế giận đùng đùng, cả người đỏ phừng phừng như mặt trời đầu núi, giọng rền cả núi đồi:

- Huynh  nhắc tui mới nhớ, sau trận lở đất chôn vùi bao nhiêu người, có ông phó thủ ở triều đình lu loa:” Nắng lắm mưa nhiều nên lở đất sạt núi, chẳng phải do phá rừng xẻ núi!’ gian trá và tán tận lương tâm đến thế là cùng! Xin lỗi nhị vị huynh đệ, tui buộc lòng phải nói lời thô, cái quân ấy ngu như chó lợn, lòng tham không đáy, lương tâm quá nghèo nàn, có thừa gian manh mà thiếu tư cách, với cái ngữ ấy thì chỉ có tiền và quyền là trên hết. 

Dường như cơn giận của Sơn Tinh làm cho Thủy Tinh dậy sóng lòng:

- Này người anh em, anh còn nhớ năm nọ biển đông hải bị bọn ác nhân hạ độc không? cả một vùng biển chết, muôn loài thủy tộc bỏ mạng. Ngay cả ngư dân, thợ lặn cũng nhiễm độc, lòng người bất bình ai oán vô cùng. Vậy mà  ông bộ có trách vụ môi trường sinh thái tráo trở ngụy biện:” Tảo nở hoa chứ chẳng phải biển nhiễm độc bởi chất thải”, năm nay y laị tiếp tục khua môi múa mép, hòng đem cái bàn tay bẩn của y che trời. Y bảo:” Không phải mưa mà là trời đổ nước”. Thật tình Thủy Tinh tôi không còn lời nào để bàn luận nữa. 



Thủy Tinh chưa dứt lời, vị thần rừng vội vã tiếp lời:

- Nhị vị huynh đệ ơi, tôi ngán cái bọn này tới cổ! Có một khứa lão cũng hàm ông bộ ngang với cái tay tráo trở ấy, y ngỡ thiên hạ ai cũng ngu như y sao ấy! Y tuyên bố:” Rừng không có bị cào phá mà là do bọn bạch bì bỏ bom năm xưa”. Bọn đàn em của y nghe thế cũng không thể nào đỡ lời nổi cho y, thiên hạ thì cứ ngỡ y là thằng cuồng ban khỉ. Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ rồi, bom đạn nào phá rừng? Chính bọn quyền thế, lâm tặc phá rừng. Mạng rừng đổi thành biệt phủ, đaị dinh, những tài khoản khổng lồ trong nhà băng, những cuộc ăn chơi trác táng với cái giá mà một người lao động làm ba đời cũng không dám mơ.

Cả ba vị nói đến đây thì cảm cảnh khôn cùng, Sơn Tinh ngồi trầm ngâm, lòng dạ sầu não, tinh thần mỏi mệt vì suy nghĩ mông lung mà không biết hành xử ra sao, cầm chung rượu xoay xoay trong lòng bàn tay. Thần rừng nhem nhuốc bùn đất, mặt mày hốc hác bơ phờ, dấu ấn đất lở nguyên trên người. Thủy Tinh sau năm bảy bận chới với vì nước xả hồ, mặt mày trắng bệch, nay uống mấy chung rượu cúc hoa laị bị kích thích vì những lời giận dữ vừa rồi nên có chút nhuận sắc. Lòng Thủy Tinh cũng nhiều đau buồn ngán ngẩm, bất giác một dòng lệ chảy xuống rơi vào chung rượu đang cầm trên tay. Cơn giận qua đi, giọng Thủy Tinh thì thào

- Chỉ tội cho lương dân và những nạn nhân xấu số, người chết đã đành, người sống thậm cơ cực. Ấy vậy mà khi có những đoàn từ thiện đến, quan quyền laị cản trở, thậm chí thu hồi hết tiền cứu trợ của những người hảo tâm. Thiên tai, nhân tai, nhân hoạ cùng lúc hoành hành, không biết nghiệp gì mà người dân nơi đây phải chịu khổ nạn tàn nhẫn như thế? 

Thần rừng tỏ vẻ bất bình:

- Đành rằng cộng nghiệp của họ nhưng họ cũng có phần nào chịu trách nhiệm, lẽ ra đụng việc ác, việc bất bình thì họ phải la lên, đằng này họ câm nín mà chịu đựng. Thậm chí có kẻ bị đè đầu cỡi cổ còn cảm ơn kẻ chẹt cổ mình. Nếu có ai đó lên tiếng cho họ thì chính họ laị hùa theo kẻ chẹt cổ mình, chửi người lên tiếng cho mình là rảnh háng, dư hơi, gây rối… Tôi nghĩ việc cứu trợ là cấp thiết nhất thời, còn về lâu dài thì phải giúp họ tỉnh ra để họ biết cái quyền đương nhiên của họ. Vấn đề không phải con sói ác độc mà là ở chỗ đàn cừu ngu muội cam chịu.

Bất thần mặt đất rung nhẹ, những mảng tường của sơn cung rung lắc. Ba vị tưởng có động đất bèn vận công thoát ra ngoài và nhìn quanh quất thì thấy thổ địa xuất hiện. Thổ địa xưa nay vốn phốp pháp phì nhiêu lắm, ấy vậy mà hôm nay trông gầy sộp, quần áo te tua, mặt mày nhàu nhĩ. Thổ địa chắp tay chào, cất giọng ồm ồm:

- Xin chào các vị huynh đệ, cơn gió nào đưa các huynh đệ gặp nhau ở đây? 

Sơn Tinh tánh bộc trực, quở:

- Sự thể thế này mà huynh còn khách sáo nói lời hoa mỹ để làm gì?

 Thổ Địa rối rít xin lỗi, bốn người quay laị sơn cung. Sơn Tinh rót một chung cúc hoa mời, Thổ Địa ngửa cổ làm cái ót ngọt xớt. Y vén tay áo chùi mép:

- Cúc hoa tửu này ngon, dư vị ngọt, thơm lâu quả thật không hổ danh “ Nước mắt quê hương.” 

Đặt chung rượu không xuống bàn, Thổ Địa tâm sự:

- Sự thể như thế nào thì các huynh đệ đã biết rồi, xưa kia thiên tai vốn ghê gớm, ấy vậy mà nay nhân tai còn dễ sợ hơn. Rừng cạo sạch, núi xẻ nát rồi, thân xác rừng biến thành những sập, gụ, tủ chè, bình phong, sofa, biệt phủ. Thân xác cư dân thú rừng trở thành món trang sức cho quan quyền, nhà giàu: thú nhồi bông, ngà voi, da hổ. Có những cư dân rừng trở thành món ăn, rươu thuốc của nhà giàu: pín cọp, cửu xà, tay gấu, bao tử nhím, bìm bịp… Xác rừng, máu rừng, sinh mệnh rừng đã trở thành oán trong những biệt phủ, village, dinh thự. Núi rừng thì thế, còn sông ngòi, đầm hồ, biển cả thì tràn ngập rác thải và hoá chất từ những công xưởng, nhà máy tuôn ra. Khí thải làm cho không khí ô nhiễm nặng nề. Thực phẩm ngậm hoá chất…Những năm gần đây thì nạn xả hồ mùa lũ càng ngày càng ngjiêm trọng. Người chết, người bệnh, môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, môi trường xã hội thì bại hoại, có bao giờ xứ này được như thế này không? Tôi coi sóc cuộc đất này từ thuở tạo lập đến giờ, chưa bao giờ thấy như thế này cả! Ấy là chưa kể nạn bán đất, hễ mảnh đất nào có mùi tiền thì sẽ bị quy hoạch thu hồi, sẽ bị san ủi cho dù trên mảnh đất có nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, thậm chí nhà chùa, nhà thờ cũng không tha. Phá núi, phá rừng, lấp sông, lấp biển, lấp kênh rạch… Long mạch, sư mạch, hổ mạch bị hủy hoại, đây là cơ hội choc ho khuyển mạch, thử mạch, trùng mạch nảy nở như kiến, như sâu. Bọn người quyền thế không kiêng nể thánh thần, coi thường nhân mạng, khinh rẻ người và vật, đồng tiền làm cho bọn họ tối tăm mê muội. 

Thổ địa nói mà nước mắt nước mũi chảy dài trên mặt, lời vừa dứt thì trong lòng đất có âm thanh ùng ục, ì ầm như sấm động, ấy là dấu hiệu núi laị sắp lở lớn. Ánh sáng từ những ngọn đuốc cứ lung lay lập loè dường như bão laị sắp nổi lên. Ngoài trời mưa như trút nước. Hàng loạt hồ thủy lợi, đập thủy điện xả nước hết công suất vì e vỡ đập. Nước laị dâng lên lênh láng như biển cả. Tiếng muông thú gào thét đòi trả mạng rền rĩ trong gió mưa. Thấp thoáng đây đó bóng những hình nhân lóp ngóp trồi hụp trong dòng nước dữ đục ngầu chảy xiết. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 11/2020

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.