Hôm nay,  

Thần Núi và Thần Nước

27/11/202013:46:00(Xem: 3273)

Sơn cung hoang tàn và đổ nát, bùn đất ngập ngụa khắp nơi, mái sập tường xiêu, bao nhiêu đồ đạc bị chôn vùi hoặc cuốn theo dòng nước dữ. Sơn Tinh mặt mày buồn thảm nhìn ngọn núi sạt một mảng lớn, rừng cây trơ trụi lởm chởm những gốc cụt, ánh mắt đăm chiêu chẳng nói nên lời.

Thủy Tinh lấy tình đồng môn đến thăm Sơn Tinh, chẳng còn tâm ý nào để nhớ chuyện tình địch ngày xưa. Nhìn thấy cảnh Sơn cung tan nát, lòng cũng đau buồn không kém bạn. Thủy Tinh cất giọng mếu máo.

- Xưa tôi với anh vì Mỵ Nương mà đánh nhau, mỗi năm cũng chỉ dâng nước gây lụt lội một lần, giờ một năm mấy bận lụt lội, thậm chí có nơi nước dâng đến bảy lần trong một tháng. Bọn người xây hồ, đắp đập tràn lan, mùa khô tích nước, mùa mưa xả vô tội vạ. Nước lũ tự nhiên dâng rất chậm, mỗi ngày một ít, có khi cả tuần lễ mưa thì mới có thể gây ngập. Giờ nước xả hồ, xả đập chỉ vài giờ đồng hồ là ngập tới nóc luôn, bao nhiêu người chết, nhà cửa, tài sản, gia súc… bị cuốn trôi theo dòng lũ dữ. Thử hỏi người sao chịu thấu? có xứ nào vô đạo như thế không? 

Sơn Tinh thần khí thiểu não, giọng rền rĩ:

 - Cảm ơn người anh em có lòng lân mẫn, người anh em thấy đó! rừng cạo sạch rồi, thậm chí đến gốc cây cũng đào bới nốt. Núi bị xẻ nát như phanh thây, cả một ngọn đồi đổ ập xuống, quang cảnh như vừa trải qua một cuộc bể dâu. Bọn người tham lam, ngu muội phá rừng huỷ núi, trời mưa xuống thì đất chuồi núi lở là đương nhiên. Bọn mình mà còn xất bấc xang bang như thế này, người dân màn trời chiếu đất, muôn loài động thực vật bị chôn vùi hoặc bị cuốn trôi, lời nào tả cho hết cái thảm cảnh này? 

Sơn Tinh lắc đầu giơ hai tay kêu trời, chợt có âm thanh ngoài sơn cung đồng vọng, cả hai lắng nghe thì nhận ra tiếng gầm gừ của cọp, tiếng rống của voi, tiếng tru của sói, tiếng tác của mang…tất cả như một giàn đồng ca, tấu lên khúc tang thương nghe thật thê luơng. Bọn thú rừng sống sót sau những đợt săn bắt của lũ người và những con vừa ngoi lên sống sót sau trận lũ, lở núi đêm qua. Bọn chúng dùng cái bản năng trời ban để định hướng tìm về chốn sơn cung. Sơn Tinh dùng thẩm âm vi diệu an ủi chúng, đoạn vận thần thông tạm dọn dẹp sơn cung.

Ngoài cửa laị xuất hiện vị thần rừng, quần áo tả tơi, râu tóc bết bùn đất. Ông ta thất thểu bước vào, trông thấy nhị vị thần chủ núi non và sông nước bèn khóc rống lên, sau đó kể lể:

 - Cơ nghiệp của tôi tan nát hết rồi, bọn người nó cạo sạch rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng già, rừng thưa…Bọn họ bắt hết thú rừng, bao nhiêu tài nguyên rừng bị cướp sạch. Những cư dân có tuổi ngàn năm, vài trăm năm giờ biến thành những bộ sofa, những biệt phủ… không còn cây chắn bão, giữ nước nên chỉ một trận mưa, một cơn cuồng phong là tai họa xảy ra ngay. Nhị vị Sơn chủ, Thủy chủ ơi, tình cảnh thảm lắm thay! 

Sơn Tinh mời thần rừng an toạ, phẩy tay hoá hiện một mân cơm chay đạm bạc với nậm cúc hoa. Sơn Tinh rót ba chung, trân trọng:

 - Mời nhị vị huynh đệ, xin cạn một chung “ Nước mắt quê hưong” này! chuyện nhân hoạ rất ghê gớm và còn dài. Chúng ta tạm lót dạ chút cơm rồi hãy tính chuyện. 

Cả ba ăn trong chánh niệm, chẳng ai nói với ai lời nào. Sau khi cơm nước đã xong, Thủy Tinh giải bày:

 - Những con sông của xứ này vốn ngắn, nhỏ và dốc. Bọn người trí nhỏ nhưng lòng tham to cho xây hàng mấy trăm con đập với hồ, nắng thì giữ nước laị, khi mưa về thì vội vàng xả xuống, thử hỏi với lượng nước xả khổng lồ ấy không gây tai họa mới là lạ! Những nhóm lợi ích kết cấu quan quyền để làm ăn trục lợi, bất chấp nhân tình thế thái, chẳng kể quy luật tự nhiên, tất cả chỉ nhằm mục đích tiền vào túi càng nhiều càng tốt, còn hậu quả thế nào thì mặc kệ nhân dân với môi trường sinh thái. Dân chúng kêu oan chẳng thấu trời xanh. Có vài vị học giả, trí thức đã lên tiếng cảnh báo nhưng tiếng nói của họ rơi tõm vào sự im lặng đáng sợ. Quan laị và triều đình ngậm miệng, đa số bọn thức giả thì mũ ni che tai, dũi đầu vào cát như đà điểu, dân chúng thờ ơ bởi vậy mà mối nhân hoạ càng ngày càng trầm trọng. Sau khi lũ chồng lũ xảy ra, người chết nhà trôi, tài sản mất… nhiều tiếng nói phản biện cất lên. Ấy vậy mà có ông tiến sĩ chi đó vốn gộc bự ở triều đình đăng đàn:” Nước xả hồ, xả đập chỉ như vài thau nước hắt vào dòng kêng, không thể gây ra lũ lụt”. Cái lý luận ngu xuẩn ấy đến người vô học cũng không dám nói, thế mà ông ấy nói tỉnh bơ. 

Sơn Tinh nghe thế giận đùng đùng, cả người đỏ phừng phừng như mặt trời đầu núi, giọng rền cả núi đồi:

- Huynh  nhắc tui mới nhớ, sau trận lở đất chôn vùi bao nhiêu người, có ông phó thủ ở triều đình lu loa:” Nắng lắm mưa nhiều nên lở đất sạt núi, chẳng phải do phá rừng xẻ núi!’ gian trá và tán tận lương tâm đến thế là cùng! Xin lỗi nhị vị huynh đệ, tui buộc lòng phải nói lời thô, cái quân ấy ngu như chó lợn, lòng tham không đáy, lương tâm quá nghèo nàn, có thừa gian manh mà thiếu tư cách, với cái ngữ ấy thì chỉ có tiền và quyền là trên hết. 

Dường như cơn giận của Sơn Tinh làm cho Thủy Tinh dậy sóng lòng:

- Này người anh em, anh còn nhớ năm nọ biển đông hải bị bọn ác nhân hạ độc không? cả một vùng biển chết, muôn loài thủy tộc bỏ mạng. Ngay cả ngư dân, thợ lặn cũng nhiễm độc, lòng người bất bình ai oán vô cùng. Vậy mà  ông bộ có trách vụ môi trường sinh thái tráo trở ngụy biện:” Tảo nở hoa chứ chẳng phải biển nhiễm độc bởi chất thải”, năm nay y laị tiếp tục khua môi múa mép, hòng đem cái bàn tay bẩn của y che trời. Y bảo:” Không phải mưa mà là trời đổ nước”. Thật tình Thủy Tinh tôi không còn lời nào để bàn luận nữa. 



Thủy Tinh chưa dứt lời, vị thần rừng vội vã tiếp lời:

- Nhị vị huynh đệ ơi, tôi ngán cái bọn này tới cổ! Có một khứa lão cũng hàm ông bộ ngang với cái tay tráo trở ấy, y ngỡ thiên hạ ai cũng ngu như y sao ấy! Y tuyên bố:” Rừng không có bị cào phá mà là do bọn bạch bì bỏ bom năm xưa”. Bọn đàn em của y nghe thế cũng không thể nào đỡ lời nổi cho y, thiên hạ thì cứ ngỡ y là thằng cuồng ban khỉ. Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ rồi, bom đạn nào phá rừng? Chính bọn quyền thế, lâm tặc phá rừng. Mạng rừng đổi thành biệt phủ, đaị dinh, những tài khoản khổng lồ trong nhà băng, những cuộc ăn chơi trác táng với cái giá mà một người lao động làm ba đời cũng không dám mơ.

Cả ba vị nói đến đây thì cảm cảnh khôn cùng, Sơn Tinh ngồi trầm ngâm, lòng dạ sầu não, tinh thần mỏi mệt vì suy nghĩ mông lung mà không biết hành xử ra sao, cầm chung rượu xoay xoay trong lòng bàn tay. Thần rừng nhem nhuốc bùn đất, mặt mày hốc hác bơ phờ, dấu ấn đất lở nguyên trên người. Thủy Tinh sau năm bảy bận chới với vì nước xả hồ, mặt mày trắng bệch, nay uống mấy chung rượu cúc hoa laị bị kích thích vì những lời giận dữ vừa rồi nên có chút nhuận sắc. Lòng Thủy Tinh cũng nhiều đau buồn ngán ngẩm, bất giác một dòng lệ chảy xuống rơi vào chung rượu đang cầm trên tay. Cơn giận qua đi, giọng Thủy Tinh thì thào

- Chỉ tội cho lương dân và những nạn nhân xấu số, người chết đã đành, người sống thậm cơ cực. Ấy vậy mà khi có những đoàn từ thiện đến, quan quyền laị cản trở, thậm chí thu hồi hết tiền cứu trợ của những người hảo tâm. Thiên tai, nhân tai, nhân hoạ cùng lúc hoành hành, không biết nghiệp gì mà người dân nơi đây phải chịu khổ nạn tàn nhẫn như thế? 

Thần rừng tỏ vẻ bất bình:

- Đành rằng cộng nghiệp của họ nhưng họ cũng có phần nào chịu trách nhiệm, lẽ ra đụng việc ác, việc bất bình thì họ phải la lên, đằng này họ câm nín mà chịu đựng. Thậm chí có kẻ bị đè đầu cỡi cổ còn cảm ơn kẻ chẹt cổ mình. Nếu có ai đó lên tiếng cho họ thì chính họ laị hùa theo kẻ chẹt cổ mình, chửi người lên tiếng cho mình là rảnh háng, dư hơi, gây rối… Tôi nghĩ việc cứu trợ là cấp thiết nhất thời, còn về lâu dài thì phải giúp họ tỉnh ra để họ biết cái quyền đương nhiên của họ. Vấn đề không phải con sói ác độc mà là ở chỗ đàn cừu ngu muội cam chịu.

Bất thần mặt đất rung nhẹ, những mảng tường của sơn cung rung lắc. Ba vị tưởng có động đất bèn vận công thoát ra ngoài và nhìn quanh quất thì thấy thổ địa xuất hiện. Thổ địa xưa nay vốn phốp pháp phì nhiêu lắm, ấy vậy mà hôm nay trông gầy sộp, quần áo te tua, mặt mày nhàu nhĩ. Thổ địa chắp tay chào, cất giọng ồm ồm:

- Xin chào các vị huynh đệ, cơn gió nào đưa các huynh đệ gặp nhau ở đây? 

Sơn Tinh tánh bộc trực, quở:

- Sự thể thế này mà huynh còn khách sáo nói lời hoa mỹ để làm gì?

 Thổ Địa rối rít xin lỗi, bốn người quay laị sơn cung. Sơn Tinh rót một chung cúc hoa mời, Thổ Địa ngửa cổ làm cái ót ngọt xớt. Y vén tay áo chùi mép:

- Cúc hoa tửu này ngon, dư vị ngọt, thơm lâu quả thật không hổ danh “ Nước mắt quê hương.” 

Đặt chung rượu không xuống bàn, Thổ Địa tâm sự:

- Sự thể như thế nào thì các huynh đệ đã biết rồi, xưa kia thiên tai vốn ghê gớm, ấy vậy mà nay nhân tai còn dễ sợ hơn. Rừng cạo sạch, núi xẻ nát rồi, thân xác rừng biến thành những sập, gụ, tủ chè, bình phong, sofa, biệt phủ. Thân xác cư dân thú rừng trở thành món trang sức cho quan quyền, nhà giàu: thú nhồi bông, ngà voi, da hổ. Có những cư dân rừng trở thành món ăn, rươu thuốc của nhà giàu: pín cọp, cửu xà, tay gấu, bao tử nhím, bìm bịp… Xác rừng, máu rừng, sinh mệnh rừng đã trở thành oán trong những biệt phủ, village, dinh thự. Núi rừng thì thế, còn sông ngòi, đầm hồ, biển cả thì tràn ngập rác thải và hoá chất từ những công xưởng, nhà máy tuôn ra. Khí thải làm cho không khí ô nhiễm nặng nề. Thực phẩm ngậm hoá chất…Những năm gần đây thì nạn xả hồ mùa lũ càng ngày càng ngjiêm trọng. Người chết, người bệnh, môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, môi trường xã hội thì bại hoại, có bao giờ xứ này được như thế này không? Tôi coi sóc cuộc đất này từ thuở tạo lập đến giờ, chưa bao giờ thấy như thế này cả! Ấy là chưa kể nạn bán đất, hễ mảnh đất nào có mùi tiền thì sẽ bị quy hoạch thu hồi, sẽ bị san ủi cho dù trên mảnh đất có nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, thậm chí nhà chùa, nhà thờ cũng không tha. Phá núi, phá rừng, lấp sông, lấp biển, lấp kênh rạch… Long mạch, sư mạch, hổ mạch bị hủy hoại, đây là cơ hội choc ho khuyển mạch, thử mạch, trùng mạch nảy nở như kiến, như sâu. Bọn người quyền thế không kiêng nể thánh thần, coi thường nhân mạng, khinh rẻ người và vật, đồng tiền làm cho bọn họ tối tăm mê muội. 

Thổ địa nói mà nước mắt nước mũi chảy dài trên mặt, lời vừa dứt thì trong lòng đất có âm thanh ùng ục, ì ầm như sấm động, ấy là dấu hiệu núi laị sắp lở lớn. Ánh sáng từ những ngọn đuốc cứ lung lay lập loè dường như bão laị sắp nổi lên. Ngoài trời mưa như trút nước. Hàng loạt hồ thủy lợi, đập thủy điện xả nước hết công suất vì e vỡ đập. Nước laị dâng lên lênh láng như biển cả. Tiếng muông thú gào thét đòi trả mạng rền rĩ trong gió mưa. Thấp thoáng đây đó bóng những hình nhân lóp ngóp trồi hụp trong dòng nước dữ đục ngầu chảy xiết. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 11/2020

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Vuốt lại tấm khăn trải giường cho thẳng. Xoay chiếc gối cho ngay ngắn. Xong xuôi, hắn đứng thẳng người, nhìn chiếc giường kê sát vách tường. Có cái gì đó thật mảnh, như sợi chỉ, xuyên qua trái tim. Hắn vuốt nhẹ bàn tay lên mặt nệm. Cảm giác tê tê bám lên những đầu ngón tay. Nệm giường thẳng thớm, nhưng vết trũng chỗ nằm của một thân thể mềm mại vẫn hiện rõ trong trí. Hắn nuốt nước bọt, nhìn qua cái bàn nhỏ phía đầu giường. Một cuốn sách nằm ngay ngắn trên mặt bàn. Một tờ giấy cài phía trong đánh dấu chỗ đang đọc. Hắn xoay cuốn sách xem cái tựa. Tác phẩm dịch sang tiếng Việt của một nhà văn Pháp. Cái va li màu hồng nằm sát vách tường, phía chân giường. Hắn hít không khí căn phòng vào đầy lồng ngực. Thoáng hương lạ dịu dàng lan man khứu giác. Mùi hương rất quen, như mùi hương của tóc.
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.