Hôm nay,  

Nắng Rút Chiều Thu

01/12/202021:11:00(Xem: 4385)

Đàn Xưa, Sách Cũ

Giữa tháng Mười, 2020. Hay tin Nhà sách-nhạc Tú Quỳnh đóng cửa, tôi buồn. Ở cái thời COVID-19 này, có bao nhiêu điều vui? Tuần trước, Ba Mẹ qua chơi với em út, Mẹ nói cháu gái muốn tìm thêm sách tiếng Việt. Tôi lật đật chạy vô kệ sách Việt Ngữ của mình, chọn sách ngữ pháp, sách sử, tự điển, và một số tập thơ để Mẹ đem về cho cháu. Đây là sách tham khảo của tôi, nhưng thấy cháu ham học thì tôi hết lòng hỗ trợ. Cô giáo Việt ngữ mà! Nghe ai tìm sách là hoan hỉ giúp liền! Mấy chục năm nay là vậy, quen rồi. Hai hôm sau, tôi gọi cho chị gái, báo tin cuối tuần đó, Tú Quỳnh sẽ mở cửa hai ngày cuối. Tôi hỏi chị có muốn đưa cháu đi coi sách không, nếu không thì tôi đưa. Hỏi cháu thích đi với mẹ hay đi với dì, thì con bé trả lời nước đôi. Thế là tôi một mình biểu quyết: đi với dì. Bữa sau qua thăm Mẹ tôi, cháu gái nói sẽ đi với mẹ, vì mẹ nói để mẹ chở cháu đi, dì khỏi chạy vòng vòng mất công. Tôi mới phải bật mí là, “Trước khi đi tiệm sách, mình sẽ đi xem đàn nữa!” Dì muốn có ‘surprise' cho cháu nên không nói trước, nhưng cùng đường, đành phải bật mí. Hồi hè, con bé ngỏ ý nhờ tôi dạy đàn tranh. Tôi đang hoàn tất một dự án nghiên cứu, nên hẹn với cháu, sau khi xong việc, sẽ bắt đầu dạy đàn tranh cho cháu. Nhưng muốn dạy thì phải có hai cây đàn, nên tôi đã hỏi thăm và xin hẹn, rồi hôm đó đưa cháu đi cùng để cháu chọn cho vừa ý.


Nhớ lại chuyện học đàn tranh, tôi chạnh thương cây đàn thân thiết của mình. Một món quà tinh thần vô giá. Ngày xưa, trong hai năm ở Sài Gòn, tôi có theo học đàn tranh với một chị đang học ở nhạc viện. Chị với tôi học chung lớp Anh Văn tại gia của Thầy Khúc Hữu Chấp, Quận Ba. Tôi nghe nói sau này Thầy Chấp định cư ở Texas. Chuyện đã mấy chục năm rồi, nhưng lớp Anh Văn của Thầy là một kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ, chị mang cặp kính thật dày, tóc xoã dài, ít nói, trầm tĩnh, và có nụ cười dè dặt. Sau này thân nhau, chị kể, hồi nhỏ chị bị bệnh, phải nằm nhà một thời gian. Mê đọc sách đến nỗi khi hết bệnh thì phải kè theo cặp kính đến giờ. Chắc tôi lù khù quê mùa nên chị tội nghiệp, và làm quen với tôi. Chị hay đi cùng một chị nữa, cũng học cùng ngành ở nhạc viện. Khi biết hai chị học chuyên đàn tranh, tôi mê liền và tỏ lòng ngưỡng mộ.


Lúc còn ở quê, tôi đã phải lòng tiếng đàn tranh trong một lần thấy nó trên màn ảnh TV nhà hàng xóm. Hồi đó, Ba tôi là ‘nguỵ quân Võ Bị Đà Lạt’ nên bị đi tù cải tạo và nhà tôi bị chính quyền mới ập vô dọn hết đồ đạc từ bàn ghế tủ kệ song nồi xe cộ đến tủ lạnh, tivi. Chỉ còn lại cái sàn nhà đã bị dở gạch bông, trơ đất chỗ lồi chỗ lõm. Chúng tôi chỉ coi tivi “chớp nhoáng” khi đi bộ ngang nhà hàng xóm. Tối đó, tôi đi mua nước mắm ở đầu xóm cho Mẹ nấu canh. Đang đi, thì nghe tiếng đàn lọt ra từ nhà ông Hùng xe đò. Tiếng đàn tranh là cú sét ái tình, tôi mới nghe đã chịu liền. Khi tôi đi tiếp, tuy không còn thấy màn hình, nhưng vẫn nghe tiếng đàn được một đoạn nữa thì mới ‘ra ngoài vùng phụ sóng,’ hết thấy và hết nghe. Ngay lúc đó, tôi nhủ lòng, nếu được học đàn, thì tôi sẽ chọn đàn tranh. Tiếng đàn trong trẻo, nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhưng muốn học đàn tranh là chuyện viễn vông! Cả vùng quê tôi không ai có cây đàn này. Thời đó nhà ai nấy ở, chỉ có văn nghệ hành quân đoàn đội, không có trình diễn dân nhạc dân nhiếc gì cả. Mà viễn vông nhất là vì chuyện cơm áo. Thời đó, cơm gạo còn không có mà ăn, áo quần không đủ mặc, tiền sổ vàng sổ đỏ còn không đủ đóng cho mái trường xã hội chủ nghĩa. “Con ngụy” như tôi làm gì dám nghĩ tới chuyện học đàn?


Nhưng chắc trời thương kẻ nghèo. Khi lên Sài Gòn, tôi lại quen chị. Thấy tôi thích quá, chị hỏi tôi muốn học đàn tranh không. Tôi dò hỏi học phí. Tôi không nhớ bao nhiêu, hình như 15 ngàn một tháng, chắc chị cho giá “học bổng.” Tôi về xin Mẹ. Mẹ nói để Mẹ lo. Thế là tôi thành học trò của chị. Mỗi tuần tôi ghé nhà chị, leo hai tầng thang gỗ, học đàn trên gác. Ở dưới là tiệm tạp hoá của gia đình chị. Tôi là con bé nhà quê lên tỉnh, lại là con nhà nghèo, nên thấy tôi không có đàn, chị mới tặng cho tôi cây đàn cũ của chị. Chị thích nó lắm, vì tiếng nó trong. Chị được tặng cây đàn đó khi đoạt giải nhất trong một cuộc thi đàn tranh. Không may, trong một lần sửa nhà, người thợ hồ làm rơi đồ xuống, lủng một lỗ trên mặt đàn. Chị thương cây đàn nên vẫn giữ. Thấy tôi không có đàn, chị nói có thể nhờ người ta dán lại, không tốn bao nhiêu tiền, để tôi có đàn mà học. Lúc đó, tôi ở trọ ở Quận Một. Mỗi lần đi học, tôi đèo theo cây đàn, đạp qua Quận Ba. Chị đàn trước, tôi đàn theo. Tôi chép nhạc trong cuốn tập giấy nhám của thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hợi.” Chị thấy tôi hiếu học, nên hễ tôi học xong bài nào là chị dạy tiếp cho tôi bài kế, không đi theo chương trình bình thường. Mỗi lần đến học, tôi đàn lại bài chị đã dạy lần trước. Lần đó, tôi có chuyện buồn, chị hỏi, “Tiếng đàn của em hôm nay hơi gấp gáp. Em có tâm sự hả?” Tôi không là tri âm của chị, vì tiếng đàn tôi non nớt. Nhưng chị là tri kỷ của tôi, vì chị hiểu lòng tôi qua tiếng đàn. Có bữa tôi tới học đàn, chị nhờ tôi xem lại một lá thư bằng tiếng Anh, trước khi chị gởi đi nước ngoài, cám ơn một tổ chức đã trao học bổng cho chị.


blank

“Thời sinh viên có cây đàn tranh xưa"  ở phòng ký túc xá.


Khi tôi đi Mỹ định cư, chị nói tôi đem đàn theo. Tôi cảm động vô cùng. Và cây đàn đó đã cùng tôi mang âm điệu ngũ cung và những bài dân nhạc Việt đi vào những buổi Tết Assembly tại các học khu tại Quận Cam, những chương trình tập huấn (Inclusion Requirement for Title 1) cho các Thầy Cô giáo trường Công lập, những chương trình Tu Nghiệp Hè cho Văn Hoá và Ngôn Ngữ Việt Nam tại các trường đại học, chương trình Trung Thu cho các học sinh tiểu học, vv. Lúc lặn lội từ Quận Cam lên Palo Alto để đi học, tôi đã đưa đàn tranh theo, vì kinh nghiệm xương máu một năm trước, khi tôi qua Thuỵ Điển, không đem theo được, mà nhớ đàn tranh mắc chết, đi tìm khắp chốn cũng không ra. Lúc tôi ở Stanford, có người cũng lấy cớ muốn nghe đàn tranh, đứng rình dưới lầu ngoài cửa sổ ký túc xá của tôi mỗi khi tôi tập đàn. Từ khi được về làm rể của Mẹ tôi, người-rình-nghe-đàn đó không được nghe tiếng đàn tranh nữa, vì tôi mắc sanh con và nựng con rồi. Thôi ráng chờ heng! Mới mười năm thôi, có là bao!


blank

Tác giả đàn đàn tranh, các em học sinh Latinx tại Quận Cam vừa hát vừa múa mừng Trung Thu bằng tiếng Việt do tác giả dạy trong nhiều tuần lễ, 1999.


Sách-Nhạc Thời Cô Vít

Sáng thứ bảy, 17 tháng 10, 2020. Hai dì cháu đi từ 9 giờ rưỡi sáng. 9 giờ là tôi từ thành phố Ho Hem chạy qua thành phố To Ten đón cháu, rồi hai dì cháu thẳng tiến về thành phố Pho Le. Có một tiếng đồng hồ mà tôi chạy vòng vòng hết nửa Quận Cam. Tôi bấm chuông nhà Giáo sư Nguyễn Châu của Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng. Vị Thầy khả kính đã gìn giữ dòng nhạc Dân Tộc cả mấy chục năm qua tại Little Saigon đón chúng tôi ở cửa. Nhà Thầy nằm trong khu dân cư thật khang trang, thanh nhã. Trên cửa có ghi “Face Covering Required.” Thầy đang dạy đàn tranh. Trong phòng khách có đàn piano và nhiều đàn cổ Việt Nam quý hiếm, được truyền lại từ những bậc thầy. Cây đàn tranh cẩn xà cừ thật tinh xảo, Thầy nói từ cung đình Huế. Thầy tâm đắc cho tôi xem cây đàn cò, được làm từ khúc gỗ mun Thầy tìm được. Cây đàn nặng, chắc. Thầy nói nhờ nó mà Thầy được mời đi thu âm ở nhiều nơi. 


Khi Thầy đưa hai cây đàn tranh ra, thì tôi chấm liền cây đàn gỗ cẩm lai, còn mới tinh. Cô cháu gái chọn cây đàn nhỏ, có cẩn xà cừ. Tôi ráng dụ mà không được. Nói hoài, cháu cũng chỉ cây đàn nhỏ. Thầy nói, thôi mới học thì mua đàn nhỏ, vài bữa học quen rồi mua đàn lớn. Nhưng tôi nói, bắt đầu học thì tìm cây đàn cho tốt, vì về lâu về dài, mình có tình cảm với nó, gắn bó với nhau trong tiếng đàn. Nói gì thì nói, cháu cũng một mực mua cây đàn nhỏ. Tôi đưa cháu đi mua, mà mua cho cháu, nên đành để cháu chọn. Tôi ngậm bồ hòn chở cháu về. Thầy có tặng cho tôi quyển sách “Đại Cương Thang Âm Điệu Thức Việt Nam" mà Thầy mới soạn trong thời gian ở nhà vì đại dịch. Hai dì cháu đều chưa ăn sáng, nên ghé Bánh Mì Chè Cali, mua hai ổ mì không gặm cho đỡ đói, vì có thịt thà thì hơi bất tiện. Chúng tôi ra tới Tú Quỳnh thì cả khu thương mại đã đầy xe. May có người ra, chúng tôi mới có chỗ đậu, để ghé thăm Tú Quỳnh lần cuối.


blank

Cô Yến Tú Quỳnh và những người còn thương chữ nghĩa Việt.


Tú Quỳnh là một tiệm sách nhỏ, hôm đó càng thấy nhỏ hơn vì đầy cả người. Thật cảm động khi thấy tiệm sách đông người, không còn chỗ để vào. Đây là những tấm lòng còn muốn gìn vàng giữ ngọc cho đời sau. Hai dì cháu tôi đứng chờ ở cửa để khi có người ra thì chúng tôi mới vào được. Nhà báo, diễn viên Nguyễn Ngọc Chấn đang phỏng vấn một số người. Cô Yến đứng ở phía ngoài quày tính tiền, hàn huyên cùng thân chủ. Nhiều người bê cả thùng sách lớn, nào sách nhạc, nào báo văn nghệ. Tôi thấy Nhà báo Trịnh Thanh Thủy ở hàng sách bên trong, liền chào chị. Chị cũng chạy qua vui vẻ ôm tôi. Tôi thấy chị đang cầm máy thu âm. Đã lâu rồi, tôi không gặp thi văn hữu, nên rất vui được gặp chị ở đó, và càng vui hơn khi biết chị đang làm phóng sự. Xin cám ơn chị và bao tấm lòng khác vẫn luôn miệt mài tận tụy với sinh hoạt chữ nghĩa Việt ở xứ người. Nhìn quanh, thấy toàn những người tha thiết với chữ nghĩa, văn hóa, văn nghệ Việt Nam, tôi cũng bớt chạnh lòng. Từ tháng Ba tới giờ, bao nhiêu thương vụ nhỏ tại Mỹ đã đóng cửa vì đại dịch. Nhiều công ty lớn cũng phải cắt giảm. Vậy thì Tú Quỳnh phải đóng cửa cũng nằm trong tình trạng chung đó, nhưng đối với thủ đô tỵ nạn Little Saigon và người Việt ở nhiều nơi, thì Tú Quỳnh là một trong những trụ điểm của sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Cho nên chắc chắn đây là nỗi buồn chung. 


blank

Tác giả nói về Tết Việt Nam và trình diễn đàn tranh tại Trường Martin Luther King, 

Santa Ana, Orange County, tháng Giêng 2000.


Vì tôi đã tham gia dạy tiếng Việt với tư cách thiện nguyện ngay tại thành phố Westminster từ ngày đầu tiên đến Mỹ hơn 26 năm nay, nên đối với tôi, tiếng Việt rất quan trọng và là linh hồn của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, cái dây nối cho tất cả chúng ta ở khắp nơi trên thế giới. Tuy các nhà sách tiếng Việt đều tập trung tại Quận Cam, nhưng vẫn đếm trên đầu ngón tay. Nay một nhà sách đóng cửa, thì cũng là nỗi lo chung, liệu các nhà sách còn lại có còn cầm cự được không, và cầm cự được bao lâu nữa? Sáng đó, tôi có chia sẻ với Thầy Châu ưu tư và nhận xét của tôi đối với tình trạng giảm sút trong việc đầu tư văn hóa cho các em hiện nay, so với hai mươi mấy năm trước. Thầy Châu có nói đó là tình trạng chung, nhất là vì bây giờ có nhiều tài liệu trên internet. Tuy nhiên, dù có phải đóng cửa tiệm sách, hay có giảm sút trong sinh hoạt văn hóa, thì tôi vẫn tin là văn hóa Việt Nam tại hải ngoại sẽ không mai một. Nếu Tú Quỳnh phải đóng cửa vì COVID-19, thì mai này, ắt cũng sẽ có những nổ lực mới, những 'Cô Yến' mới, triển khai những hình thức sinh hoạt mới cho văn hóa, văn nghệ. Ngày xưa, thế hệ thuyền nhân đến tỵ nạn, gặp nhiều khó khăn, ngỡ ngàng, mà đã gầy dựng được nên Thủ Đô Tỵ Nạn tại Quận Cam như ngày hôm nay, thì tôi vẫn có niềm tin mãnh liệt vào một sự tiếp nối và bừng nở của sinh hoạt văn hóa sau khi đại dịch qua đi. Tôi tin vào những tấm lòng của các thế hệ đang lớn, những trái tim hướng về cội nguồn, những bạn trẻ sinh ở hải ngoại, mà tự trao dồi tiếng Việt, muốn học nhạc cụ dân tộc, muốn thấm nhuần văn hóa Việt Nam. Tuy tôi có hơi 'bi quan' khi thấy sự giảm sút trong việc duy trì văn hóa trong thời gian gần đây, nhưng khi nhìn vào chặng đường 45 năm của cộng đồng Việt tỵ nạn tại hải ngoại và tại Quận Cam nói chung, tôi dám đặt niềm tin vào một tương lai vẫn đậm đà bản sắc dân tộc ở xứ người.


Khi hai dì cháu về tới nhà, tôi méc với Mẹ tôi là tôi chấm cây đàn kia mà cháu không chịu. Mẹ vừa nghe tôi nói “đàn gỗ cẩm lai không cẩn” thì theo phe tôi liền. Mẹ nói, sáng đó, trước khi tôi qua đón, cháu đã nói với Mẹ tôi là sẽ chọn cây đàn ít tiền nhất, vì sợ tốn tiền của dì. Tôi hứ một cái thiệt lớn cho đỡ tức. Tôi liền gọi cho Thầy, và xin phép đổi đàn. Thầy nói không sao hết. Cháu cũng muốn đi với tôi, nên hai dì cháu lên đường lần hai. Tôi nói dỗi, “Làm khổ tui nè! Hồi nãy hổng chịu nghe, bây giờ tui phải đi lần nữa nè! Hun cái bù lỗ đi!” Cháu cười mỉm chi, hôn tôi một cái. Mẹ tôi ghen tỵ, “Nó hun dì nó thì tươi rói, chứ đâu phải như lúc hun Ngoại!” Tôi chọc, “Con hun Ngoại đi, để Ngoại khỏi kêu ca nữa!” Đổi đàn xong rồi, tôi đưa cháu về, rồi gọi cho chồng. Đã một giờ chiều. Tôi báo cho chồng tôi là tôi đang trên đường về. Con đã ăn trưa chưa? Chưa! Sao tới giờ này mà chưa ăn trưa? Chờ mẹ! Trời, cơm nước đã soạn sẵn, chờ cái gì nữa! Tụi con không đói. Chờ mẹ về ăn chung. Ba cái loa oang oang tranh nói vô một cái phone. Tôi chào tạm biệt, cúp máy. Nhiều chuyện! Cơm không lo ăn! Nói nói cái gì? Thiệt tình!


nắng rút chiều thu

Năm 2020 nhiều biến động. Nổi trội nhất là Cô Vít tung hoành, gieo rắt tai ương, tung mầm chết chóc. Nhưng có nhiều điều mà Cô Vít ‘rút' đi nhưng không hiển hiện.


Giữa đại hoạ chung của thế giới, thì còn thiên tai lớn cho dân nghèo ở miền Trung. Lũ ngập trời. Khi nước đi rồi, người dân nghèo miền Trung còn lại gì? Những đứa bé ngơ ngác đẫm đất cát như một pho tượng còn chưa khô đang bước đi. Người dân mất trắng. Mà chính quyền lại ‘độc quyền' quyên góp những đóp góp cứu trợ. Rồi lại cũng trò cũ giở giói, nhận mười, giao chưa được một. Trên thế giới này, có bao nhiêu nơi mà con dân phải gánh chịu thiên tai và cường quyền bóc lột như thế này?


Mùa thu ở Quận Cam nắng. Nắng như nung. Thằng bé con hỏi, “Mẹ ơi, đã tháng mười mà sao còn nóng quá?” Cháy rừng triền miên. Thời tiết bấp bênh. Út Út mới năm tuổi mà tối không chịu ngủ. Nó thủ thỉ, “Mẹ ơi, trốt lửa có tràn về thành phố của mình không? Con không ngủ, vì con sợ lửa về.”


blank

Thương sao thằng bé con đẫm bùn đất sau cơn lũ.


Nhưng hôm nay, mặt trời trốn mất. Nắng rút. Thu về. 


Chỗ thì nước nhiều. Chỗ thì lửa khắp. Mẹ Đất mệt rồi! Đời vẫn vạn người lầm than!

 

Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.