Hôm nay,  

Mùa Xuân Đầu Tiên

11/02/202123:59:00(Xem: 3896)
 
MUA XUAN DAU TIEN_Tran C Tri

Hình tác giả cung cấp.

Tết càng cận kề, từ làng trên xuống xóm dưới, mọi người càng chộn rộn lo đủ thứ, y như cả năm chưa đủ lu bu vậy. Nhà bà hội đồng thì khỏi nói. Song le, năm nay bà hội đồng lại bận bịu một cách khác. Số là giữa bà và cậu Hai Đức đang có chuyện gây cấn. Sẵn dịp xuân về, bà muốn mời cô Tư Nhung qua nhà chơi vào ngày mùng hai Tết. Ngặt một nỗi, để cho đúng bài bản, cậu Hai Đức phải qua nhà cô trước, coi như là để coi mắt, rồi bà hội đồng mới tiện bề mời cô qua chơi nhà bà, không thôi làng xóm dị nghị. Ngặt một nỗi khác, cậu Hai Đức chẳng thiết tha gì chuyện coi mắt coi mũi này, bởi vì trong tim cậu đã có một hình bóng khác, đó là cô Nhàn ở xóm dưới mà cậu đã đem lòng thương yêu ngót một năm nay.
               
Chuyện ngó vậy mà thiệt khó. Cậu Hai Đức không thể ngày một ngày hai thẳng rẳng nói không với bà hội đồng được. Ông hội đồng qua đời lúc cậu Hai Đức còn đỏ hỏn trong tay bà hội đồng. Tình thương bao la của bà mẹ dồn hết cho đứa con sớm mồ côi mồ cút của mình. Đáp lại, cậu Hai Đức cũng thương yêu mẹ khôn xiết kể, cậu thương mẹ một mình đóng cả hai vai phụ mẫu để nuôi cậu khôn lớn, học thành thành tài như ngày hôm nay. Cậu sợ nhất là làm mẹ buồn. Từ nhỏ tới lớn, cậu chưa dám cãi lời mẹ lần nào. Vậy mà bây giờ…
               
Về phần bà hội đồng, bà có nghe phong thanh chuyện con trai mình đi lại với một con nhỏ nào ở xóm dưới. Qua nhiều người méc lại, bà biết con nhỏ đó gia cảnh không có gì làm bề thế cho lắm, còn nghèo là đằng khác. Trái lại, cô Tư Nhung mà bà đang dòm ngó cho con trai mình là con của ông bà đốc Khánh, một gia đình vừa nức danh học rộng vừa lắm tiền nhiều của, không thua gì cơ ngơi của bà hội đồng. Bà chưa biết mặt con nhỏ mà cậu Hai Đức đang dan díu ra sao, nhưng cô Tư Nhung này thì thiệt sắc nước hương trời. Đã vậy, cô còn là người con gái duy nhất trong làng được cha mẹ cho lên tỉnh học, mang về cái bằng tú tài làm ông bà đốc nở mày nở mặt với bao nhiêu người.
               
Ngày bà hội đồng hẹn cùng cậu Hai Đức qua nhà cô Tư Nhung lật bật đã đến gần. Trời còn sớm tinh mơ, bà hội đồng đã gọi cậu Hai Đức ra uống trà sáng, sẵn để nói chuyện dứt khoát về việc đi coi mắt. Cậu Hai Đức mấy hôm rày cũng suy trước tính sau nhiều lắm rồi. Cậu đã có sẵn một kế hoạch, đúng hơn là một cuộc thương lượng mà có thể hai bên đều có lợi.
               
Nhấp một ngụm trà còn nóng hổi, bà hội đồng thong thả mở lời:

- Sao? Con sẽ đi với má qua cho biết mặt cô Tư Nhung chớ?

Cậu Hai Đức cũng thủng thỉnh nói:

- Có phải sau đó má muốn mời cô Tư Nhung qua nhà mình chơi ngày Tết không?

Nói đoạn cậu đằng hắng một cái, thu hết can đảm nói với mẹ:
               
- Con tính như vầy. Con sẽ cùng đi với má qua nhà cô Tư Nhung. Nhưng má cho phép con cũng mời cô Nhàn bữa sau nữa tới nhà thăm má nghen!
Bà hội đồng giật thót người một cái. Thiên địa ơi, có phải thằng con mình nó vừa công khai nói ra tên của con nhỏ mà lâu nay nó vẫn thậm thụt tới lui đó không? Bà hội đồng nén xúc cảm xuống, cố lấy giọng bình tĩnh:

- Con Nhàn là con nào? Sao hồi giờ má không nghe con nói tới?

Cậu Hai Đức đã trấn tĩnh đôi chút, mạnh dạn trả lời:

- Dạ, tại chưa phải lúc thôi má ơi. Má cho phép cô Nhàn tới thăm má, rồi má sẽ thấy mến cổ liền. Cổ ở xóm dưới của làng mình đó má.

Bà hội đồng cố tình lần lữa:

- Nhưng mà bên mình chưa qua chơi nhà bên đó, nó là con gái tới nhà mình trước coi sao đặng?

Cậu Hai Đức xua tay:

- Má ơi, thời buổi văn minh này mà má còn câu nệ chi đàng trai đàng gái, ai tới trước ai tới sau làm chi cho mệt vậy. Má ờ một tiếng đi thì mình vui vẻ cả làng mà.

Bà hội đồng hứ một tiếng dài, nhưng cậu Hai Đức biết mẹ mình đã bằng lòng. Bà hội đồng vốn thương con, không muốn làm nó buồn. Gia dĩ, nó cũng đã chiều mình chịu qua nhà cô Tư Nhung chơi. Bà tin chắc rằng cậu Hai Đức sẽ mê cô Tư Nhung ngay khi được diện kiến cô ta. Lúc đó thì có mười con Nhàn cũng chẳng ăn thua gì. Nghĩ vậy, bà hội đồng đắc chí, tự cho mình đã thắng keo đầu, vui vẻ đứng lên bắt đầu một ngày mới.

Sau ngày hai mẹ con qua nhà cô Tư Nhung về, bà hội đồng thấp thỏm chờ Tết đến. Không phải bà tha thiết gì tết nhứt, mà chính là bà trông tới ngày mùng hai đặng tiếp đón cô Tư Nhung. Cậu Hai Đức cũng lóng ngóng chờ ngày mùng hai mau tới, mau qua, đặng cậu có dịp khoe cô Nhàn với mẹ. Tuy nhiên, cậu cũng hết sức hồi hộp, chỉ sợ cô Nhàn tranh đua không lại cô con gái con nhà giàu, đầy học thức kia. Hôm qua nhà ông bà đốc Khánh, lần đầu tiên cậu Hai Đức mới biết mặt mũi cô Tư Nhung ngày nay ra sao. Thiệt là thiên hạ nói không sai, cô Tư Nhung đẹp lắm. Tuy nhiên, cậu Hai Đức chỉ thấy cô đẹp một cách kiêu sa như một bức tượng nữ thần Hy Lạp, ai cũng thấy hay hay mà không dám chạm vào.

Còn cô Nhàn của cậu Hai Đức, học thức chỉ tới hết trung học đệ nhứt cấp, nhan sắc trung bình nhưng dễ mến. Có những người thoạt ngó vào không thấy có gì đáng để ý, nhưng khi họ nở một nụ cười thiệt khả ái thì người đối diện bỗng thấy bồi hồi rung động. Cô Nhàn chính là mẫu người đó. Cậu Hai Đức quen cô Nhàn cũng rất tình cờ. Một bữa ra tỉnh về, ngồi trên chuyến xe đò đông đúc, cô Nhàn ngồi kế bên cậu Hai Đức. Xe chạy một hồi, cậu mới để ý ngó qua cô gái ngồi bên cạnh, tay cầm một quyển sách. Thiệt tình là lúc đó cậu để ý tới cuốn sách hơn là người đang cầm nó, vì cậu vốn rất mê sách vở. Cậu Hai Đức liếc coi tựa đề cuốn sách là gì. Té ra đó là cuốn “Đắc Nhân Tâm” do nhà văn Nguyễn Lê dịch từ tác giả Dale Carnegie mà cậu cũng rất thích đọc. Từ cuốn sách, cậu Hai Đức len lén ngước lên nhìn sở hữu chủ. Cậu ngẩn người nhìn gương mặt thật phúc hậu, dễ thương của một thiếu nữ mang đậm chất thôn quê. Hắng giọng nhẹ một tiếng, cậu Hai Đức khẽ khàng nói với cô gái:

- Thưa cô, tôi hỏi cái này có hơi đường đột, cô đọc hết cuốn sách này chưa? Cuốn này tôi thích lắm.

Hình như cô gái có hơi giựt mình một chút. Vài giây sau cô mới nhẹ nhàng đáp:

- Dạ, tôi đọc lần này là lần thứ mấy cũng không nhớ, vì tôi đọc đi đọc lại cuốn này hoài mà vẫn thấy muốn đọc.

Thấy người đẹp khá niềm nở với mình, cậu Hai Đức tươi cười nói:

- Ủa, lạ quá, tôi cũng vậy đó cô. Cuốn sách này dạy mình những điều hay lẽ phải mà lâu lâu mình lại quên đi. Phải ôn lại thời mới nhớ mà thực hành, phải không cô?

Vậy là đoạn đường xe chạy về quê hôm đó dường như ngắn lại vì cả hai bắt đầu trò chuyện khá tương đắc, hết chuyện này qua chuyện khác. Cậu Hai Đức tự giới thiệu với cô gái mình là thầy giáo bực tiểu học, còn cô gái, tên là Nhàn, cho cậu biết cô không được học cao, nhưng hết sức mê sách vở. Hai cô cậu cứ vậy mà nói tới hết cuốn sách này tới cuốn tiểu thuyết khác, coi bộ tâm đầu ý hợp lắm. Từ bữa đó về sau, cậu Hai Đức và cô Nhàn thường tìm tới nhau, mối thâm tình càng ngày càng đậm đà tới nỗi biến thành tình yêu hồi nào mà cả hai đều không hay biết. Có điều là cậu Hai Đức chưa dám nói ra chuyện này với mẹ vì cậu biết bà hội đồng thích môn đăng hộ đối, mà nhà cô Nhàn lại chỉ là một gia đình nông dân bình thường ở xóm dưới.

Buổi sáng mùng hai Tết, bà hội đồng dậy thiệt sớm, hối cậu Hai Đức dậy theo bà để sửa soạn nghênh đón cô Tư Nhung. Vì cô và mẹ cô ghé qua lúc chín giờ sáng, bà hội đồng định thết đãi bánh tét nhưn mặn do chính tay bà gói cùng một ít mứt bà làm. Đúng giờ hẹn, hai mẹ con cô Tư Nhung tới. Hôm nay cô Tư Nhung còn đỏm dáng hơn bữa hai mẹ con cậu Hai Đức qua chơi bên nhà. Cô vận một bộ đồ màu hồng phấn, tóc cô bới cao, để lộ cái ót trắng nõn nà. Cậu Hai Đức kín đáo quan sát khuôn mặt trái xoan của cô, thấy đôi chưn mày của cô được tỉa tót sắc lẻm. Hai má cô dồi một lớp phấn mỏng, và in hình như cô có tô môi son nữa thì phải. Cô đeo một cặp bông tai vàng, đu đưa qua lại mỗi khi cô gật đầu hay lắc đầu. Móng tay cô cũng sơn màu hồng như bộ đồ cô đang mặc, và nhọn hoắc, khiến cậu Hai Đức hơi rờn rợn sợ. Cô yểu điệu thục nữ hết chỗ nói. Đi, đứng, nói, cười gì cô cũng làm ra vẻ thiệt cẩn trọng, tuồng như cô đã tập trước nhiều lần rồi vậy.

Khi bà hội đồng mời hai mẹ con ngồi xuống trước mặt mình và con trai, cô Tư Nhung khẽ gật đầu rồi đặt xuống mặt bàn gỗ cẩm lai một cái dĩa có đựng một món tráng miệng ngó thiệt màu mè, thỏ thẻ nói:

- Thưa bác, cháu có làm món đông sương này gọi là chút quà Tết nhỏ đặng bác và anh Hai thưởng thức.

Bà hội đồng ngắm nghía dĩa đông sương làm thiệt khéo, có năm lớp màu sắc khác nhau. Trên mặt có tỉa hình đôi uyên ương lả lướt, hết sức sắc sảo. Chẳng là ngoài lúc đi học chữ ở tỉnh, cô Tư Nhung còn học thêm lớp nữ công gia chánh nên làm ra những món bắt mắt này là nghề của cô. Bà hội đồng tấm tắc khen món đông sương, trong khi cậu Hai Đức cũng cố gắng cười phụ hoạ cho cô vui lòng. Thiệt tình lúc đó cậu chỉ chạnh nghĩ đến cô Nhàn, thấy thương người yêu bị thua thiệt, làm gì có thể phô bày ra những thứ hào nhoáng như vầy.

Bà hội đồng gọi người làm dọn cơm Tết ra đãi khách. Bữa ăn ngon mà sao cậu Hai Đức thấy vô cùng lạt lẽo. Những mẩu chuyện trao qua đổi lại tuồng như cho có, làm không khí bữa họp mặt thiệt lạnh lùng. Hai bà mẹ nói những chuyện bâng quơ, còn cậu Hai Đức và cô Tư Nhung cũng đối thoại hết sức rời rạc, nói những lời không hồn không vía. Cô Tư Nhung đâm ra mất hứng, chỉ mong sao cho mau hết buổi để ra về. Còn cậu Hai Đức cũng đang mắc nghĩ tới ngày mùng bốn cho lẹ, đặng mẹ con cậu được đón cô Nhàn qua chơi. Bốn người trong bữa ăn, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ khác nhau, cuối cùng chào và đưa tiễn nhau khá gượng gạo trong tiếng pháo nổ lẹt đẹt đâu đó trong làng.

Rồi ngày mùng bốn đã tới. Bây giờ là tới phiên cậu Hai Đức quýnh quáng chuẩn bị chờ cô Nhàn qua chơi. Cậu hồi hộp không biết cô Nhàn có nghĩ đến lễ nghĩa mà mang qua biếu bà hội đồng món gì hay không mà không tiện nhắc nhở. Về phần bà hội đồng, bà đang như mất hứng về bữa ăn hôm mùng hai vừa rồi nên cũng chẳng thiết tha gì tới chuyện gặp cô Nhàn, người mà bà vốn coi thường khi nghe qua những người khác méc lại.

Gần chín giờ sáng, cậu Hai Đức thấp tha thấp thỏm đứng trong nhà ngó ra cổng coi cô Nhàn tới chưa. Cái gan cậu là chạy ra ngoài để đón cô vô nhà nhưng cậu không dám. May làm sao, bóng cô Nhàn đã thấp thoáng ngoài cổng. Cô khoan thai bước vào, hai tay bưng một cái nồi nhỏ. Cậu Hai Đức khấp khởi mừng thầm, quay vô phòng báo với bà hội đồng là cô Nhàn đã tới. Tự nhiên, cậu Hai Đức thấy buổi gặp gỡ hôm nay sao giống như một hồi kịch đã diễn hai hôm trước rồi, chỉ khác là cô đào thương lần trước là cô Tư Nhung, còn hồi này là do cô Nhàn đóng vai chánh.

Cô Nhàn kính cẩn chào hỏi bà hội đồng rồi thưa:

- Nhân dịp lần đầu tiên được phép gặp bác, con có kho một nồi thịt heo kho nước dừa để đặng và anh Hai dùng thử.

Nhìn cô Nhàn ăn vận giản dị, mặt mũi không son phấn, tóc thả dài xuống vai, ăn nói mộc mạc, tự nhiên bà hội đồng thấy trong lòng dịu lại. Bà xởi lởi mời cô ngồi xuống khiến cậu Hai Đức vừa ngạc nhiên, vừa mừng thầm. Bà kêu người nhà dọn cơm trắng và dưa giá lên để ba người cùng ăn với món thịt kho hột vịt của cô Nhàn. Thịt heo cô kho thiệt nhừ, phần mỡ vừa đủ để hoà vào cái béo của nước dừa. Hột vịt cô kho vừa mềm, nước thịt kho trong và phơn phớt mỡ. Cậu Hai Đức vừa ăn vừa kín đáo quan sát mẹ, thấy bà đang tận tình thưởng thức tài bếp núc của cô Nhàn. Vừa ăn, bà hội đồng vừa hỏi:

- Cháu ăn học tới đâu rồi?

Cô Nhàn vừa liếc nhìn cậu Hai Đức, vừa dè dặt trả lời:

- Thưa bác, nhà cháu không được thong thả nên cháu chỉ học xong lớp đệ tứ, nhưng sau đó cháu vẫn đọc sách để học hỏi thêm kiến thức và những điều hay lẽ phải.

Bà hội đồng coi bộ hài lòng với câu trả lời của cô Nhàn lắm. Bà vừa nói chuyện, vừa để ý tới những chi tiết khác của cô Nhàn. Bà thấy đôi tay của cô không được thuôn thả như bàn tay búp măng của cô Tư Nhung, nhưng được cái là cô Nhàn không để móng tay dài hay sơn phết gì hết, ngó hết sức giản dị. Khuôn mặt cô nhìn phúc hậu, cô ăn nói từ tốn, dịu dàng. Cậu Hai Đức càng quan sát mẹ càng thấy là bà đã ưng cô Nhàn lắm rồi. Ăn xong, cô Nhàn còn bưng hết chén dĩa xuống bếp, phụ người nhà bưng trà lên uống tráng miệng. Bữa ăn hôm nay khác hẳn với bữa ăn hôm mùng hai với mẹ con cô Tư Nhung. Không khí vừa ấm cúng, vừa thân mật. Ăn uống, trò chuyện xong xuôi, cô Nhàn xin phép về. Cậu Hai Đức ân cần đưa cô ra tới cổng.

Nhìn theo cô Nhàn từ từ khuất bóng sau rặng tre, cậu Hai Đức hân hoan trở vào nhà, hồi hộp ngồi xuống trước mặt mẹ. Bà hội đồng thong thả hớp một ngụm trà sen, nói với con trai:

- Má thấy con ưa cô Nhàn này cũng phải. Nó ăn nói, cư xử đúng là con nhà tử tế, có giáo dục. Cô Tư Nhung đẹp thiệt, nhưng má thấy cô Nhàn mới là người biết quán xuyến việc nhà cho gia đình con sau này.

Cậu Hai Đức xúc động thiệt tình, nhưng chỉ biết ấp úng mấy lời cám ơn mẹ rồi xin phép mẹ được ra ngoài sân một chút cho thoáng. Cậu bước ra trước hiên nhà. Tiếng pháo ngày mùng bốn đã thưa thớt lắm rồi, nhưng sao cậu lại nghe nó vui hơn hôm mùng hai. Không gian thơm thoang thoảng mùi khói pháo, gợi lại cho cậu những ngày tết tươi vui thuở ấu thời. Tết năm nay, cậu Hai Đức được một niềm vui mới, thiệt bất ngờ, thiệt viên mãn. Cậu đã ăn hai mươi cái Tết rồi, nhưng năm nay cậu mới thấy là mình đang hưởng một mùa xuân đầu tiên đầy ý nghĩa.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.