Hôm nay,  

Ước Hẹn Ngày Mới

26/12/202109:30:00(Xem: 2896)

vinh hao

 

Bắt đầu một năm mới tinh khôi, nghĩa là phải có một tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút, một giây hoàn toàn mới, từ tương lai bước vào hiện tại. Nhưng một cái gì hoàn toàn mới, xuất hiện một cách mơ hồ trên lịch, chỉ là một ý niệm, một quan điểm. Do người ta đặt để, đo lường, tạo một qui ước về thời gian — căn bản dựa trên sự chuyển dịch của địa cầu qua hai vầng nhật nguyệt (1) — để ổn định sinh hoạt xã hội, mà từ hàng ngàn năm trước đến nay, ngày-tháng-năm được xuất hiện trên những tấm lịch, những cái đồng hồ (mặt trời, cát, nước, đeo tay, treo tường), máy vi tính và điện thoại.

Ý niệm về thời gian, qui định về thời hạn, thời khắc, bao trùm toàn bộ đời sống nhân loại. Ngày nay, bỏ đi lịch và đồng hồ, xã hội sẽ loạn. Không ai sống trên đời mà không cần đến thời hạn, thời khắc. Ngay cả những kẻ ẩn dật trên núi cao, không tiếp xúc với người, vẫn để ý mặt trời mọc và lặn, trăng tròn hay trăng khuyết. Phải có một mốc thời gian nào đó trong ngày-tháng-năm, và trong đời. Con người khi sinh ra là sinh ở một kỳ hạn, và từ đó, sống theo vô số kỳ hạn khác cho đến hạn kỳ cuối cùng là giã từ cuộc chơi trong cõi mộng hư phù. Mỗi sớm mai thức dậy là bắt đầu với những cuộc hẹn tiếp nối không ngừng trong ngày. Càng đa sự càng nhiều cuộc hẹn. Giữ cho đúng những cuộc hẹn thì được xem là người uy tín, đáng tin cậy. Dù muốn dù không, người ta không thể nào rời bỏ được những cuộc hẹn trong đời.

Nói theo ngôn ngữ thơ, đời là cuộc ước hẹn. “Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc” (2). Ước hẹn với người. Ước hẹn với tự thân. Ước hẹn với số đông, như một lời nguyền, một ước nguyện, một chí nguyện. Chúng ta sống ở đây, bây giờ, nhưng bước tới với những ước hẹn trước mắt, ở tương lai.

Có những ước hẹn có thể giữ được, đạt được. Có những ước hẹn đạt được, nhưng sau đó không giữ được. Trễ hẹn, thất hứa, vẫn thường xảy ra trong cuộc sống, từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn. Không phải có hẹn là có thành; không phải đã thành là sẽ tồn tại mãi. Bởi vì hẹn ước thời gian là hẹn ước với tương lai, là cái chưa xảy ra, và chỉ có thể thực sự xảy ra ngay nơi chính ngày-tháng-năm hay giờ phút nó vừa đến. Không có gì chắc chắn ở tương lai. Cho nên không thực sự có một ngày mới hay năm mới. Cái mới không thể hiện hữu nếu không liên kết nó với cũ. Vì có cái cũ nên mới có cái mới, mà cái cũ đã qua rồi, cái mới lấy gì mà liên kết? Nếu nói cái cũ làm nhân để sinh cái quả mới tương lai thì tương lai đã có sẵn trong quá khứ; có sẵn trong quá khứ rồi thì đâu cần được sinh ra nữa (3). Ngay cả cái hiện tại, cũng không thể là cái mới nhất, hay là cái trung gian giữa quá khứ và tương lai được, vì vừa khi nó chạm đến cái tương lai kề cận, chính nó đã trở thành quá khứ. Thời gian quá khứ không có thật; thời gian hiện tại không thật; nên thời gian tương lai cũng không thật (4). Ba thời gian này tương tác đối đãi nhau mà huyễn hiện như là có thật; mà kỳ thực, chúng chỉ được nhận thức từ sự chuyển động, biến dịch của vật thể trong không gian. Căn cứ nơi vật thể sinh-diệt vô thường mà có cái ý niệm về thời gian. Vật thể vô thường không thật thì thời gian cũng không thật. Ngày mới, năm mới không có thật.

 

Quán sát bản chất của thời gian là để giải thoát tri kiến, vượt khỏi những buộc ràng của vọng chấp si mê, đạt được niềm an vui tĩnh tại nội tâm giữa một thế giới biến động, bất an, bất toàn. Quán sát như thế không phải để lìa xa cuộc đời, mà chính là để có thể sống thật và an nhiên với cuộc đời không thật. Và như vậy, vẫn như hàng tỷ người trên hành tinh, lật đến tờ lịch cuối cùng của năm để thấy một ngày mới, năm mới, với tình thương và những nguyện ước thâm sâu, hướng về nhân loại và sinh chúng, mong tất cả đều được an lành, phúc lạc.

 

California, trước thềm năm mới dương lịch 2022

Vĩnh Hảo

www.vinhhao.info

 

______________

 

1)   Địa cầu tự xoay một vòng là một ngày một đêm; quay quanh mặt trời một vòng là một năm; quay quanh mặt trăng một vòng là một tháng.

2)   Thơ Tuệ Sỹ, bài Cánh Chim Trời, mở đầu với câu: “Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc / Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu…”

3)   Xem Trung Luận, phẩm Quán Thời thứ 19.

4)   Nghiệm từ câu “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc” (Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba-la-mật).

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.