Hôm nay,  

Tình Yêu Muôn Thuở

07/01/202216:25:00(Xem: 4989)

Tản mạn
pcd

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi
-- TCS

Những ngày cuối năm nhiều kỷ niệm quá khứ vui buồn hiện về.  Tuy sức khỏe yếu kém tôi muốn viết để cảm tạ những người đã đi cùng tôi và Anh Phạm Cao Dương trong một đoạn đường đời, những người đã có ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời chúng tôi.


Cảm tạ Anh Lâm Thanh Liêm, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Đôn Phong, Phạm Đình Tiếu bạn học cùng lớp với Nhà Tôi tại Đại Học Sư Phạm Saigon. Anh Liêm, Anh Ngữ, Anh Tiếu, ba Nhà Giáo có công rất lớn với hai môn Sử Địa của Miền Nam Việt Nam đều đã ra đi vào miền viên miễn. Anh Ngữ và Anh Tiếu hai người bạn thuở sinh thời luôn luôn che chở chăm sóc chúng tôi như anh em trong nhà. Viết những dòng này tôi không dằn được nước mắt nghĩ tới hai Anh Tiếu và Anh Ngữ, hai người bạn thân thương của chúng tôi. Định mệnh khắc nghiệt đã khiến hai Anh bỏ chúng tôi ra đi rất sớm, ba thập niên rồi, năm 1992, Anh Tiếu ra đi bên Paris, Pháp, mấy tháng sau Anh Ngữ ra đi ở Montréal, Canada. 

Tôi xin cảm tạ những người đã ngồi chung với Nhà Tôi trong các lớp học, trong các giảng đường của Trường Võ Trường Toản, Trường Đại Học Sư Phạm , Trường Đại Học Văn Khoa, Trường Đại Học Vạn Hạnh Saigon cũng như tại Viện Đại Học Đà Lạt, Đại Học Huế. 


Các bạn của Anh Dương rất thương Anh nên cũng rất thân với tôi. Tôi nhớ những buổi chiều ba mươi Tết, chúng tôi thường tụ họp ở toà báo Trình Bày nơi mà Anh Ngữ, Sử Gia Nguyễn Khắc Ngữ, người đưa Nhà Tôi vào con đường viết lách, thường hay lui tới. 


Trước Biến Cố 30/4/ 1975 hai môn Sử Địa được phát triển mạnh ở Miền Nam Việt Nam do đó Nhà Tôi hằng tháng bay ra thỉnh giảng ở Đại Học Huế. Thường các giáo sư ra Huế thỉnh giảng thường ở lại ít nhất một ngày trước khi bay về lại Saigon nhưng Nhà Tôi thường bay về ngay có lẽ cũng chính vì vậy mà Anh không bị kẹt ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Sau này khi ra Huế dạy lại, Anh kể là chỉ có Anh và Cha Hoàng Quốc Trương ở trong khách sạn rộng lớn Morin, mỗi người một dẫy. Theo thời biểu Cha Trương dạy xong về trước, riêng Nhà Tôi còn lại một mình trong khách sạn cảm thấy rất lạnh lẽo,  ghê rợn với mấy ngôi mộ mới ngoài sân.  


Những đau khổ, oan khiên trong cuộc chiến Ba Mươi Năm 1945-1975 trên đất nước tôi, bao máu và bao nước mắt đã đổ, tiếp theo là cuộc di cư tị nạn đầy chết chóc đau thương sau biến cố 30 Tháng Tư 1975 với hơn nửa triệu bộ nhân, thuyền nhân  vùi thây trong rừng rậm, trong biển cả. Cũng như những cô giáo tị nạn khác tôi bị bứng ra khỏi cuộc đời công chức êm đềm tại miền Nam, bận rộn suốt năm tháng phải tự lập làm lại cuộc đời trên quê hương thứ hai mà cũng sẽ là nơi cuối cùng trước khi vĩnh viễn rời cõi tạm này. Được may mắn trở lại với phấn trắng bảng đen, mấy năm đầu thập niên 80, mỗi thứ Bảy tôi lại xin bà hiệu trưởng  cho mượn một phòng học để dạy tiếng Việt cho các em vì nhớ trước khi rời bỏ Học Khu Thống Nhất Oakland USD dọn xuống miền Nam California tôi từ giã một người supervisor, bà có ngậm ngùi nhắn nhủ tôi là tôi còn có thể may mắn trở về quê xưa vì còn nói được tiếng Việt, chứ bà ấy là người xa lạ nếu về nơi gốc xuất xứ vì không còn nói không hiểu được tiếng gốc của mình nữa!. Các con tôi lúc ấy còn rất nhỏ, nhưng Bố Mẹ thì ngoài thì giờ kiếm sống lại làm những việc gọi nôm na là “vác ngà voi” vì trong lòng, trong tâm tư chỉ nghĩ là tị nạn là tạm cư...  Bây giờ nhìn lại nhớ lại tình yêu thương được Ông Bà Cha Mẹ cho đôi khi tôi thấy mình thật là khiếm khuyết.  


Viết miên man về tình yêu, tình yêu muôn thuở nhưng có lẽ tình yêu quan trọng nhất trong đời người là Tình Cha, Tình Mẹ. Tôi vẫn nhớ mãi tấm thiệp được đọc “Thanks for The Gift of LIFE” mang bao ý nghĩa của ngày Mother’s Day – Ngày Của Mẹ...Ngày mà khi điện thoại viễn liên còn phải trả tiền là ngày các công ty điện thoại kiếm được nhiều tiền nhất trong năm vì ai mà không có MẸ!. Tưởng nhớ lại những lời yêu thương khi nằm trên giường bệnh, Mẹ tôi còn thiết tha thều thào nói với tôi, con gái nhỏ yếu đầu lòng mà Mẹ rất nuông chiều từ thuở mới sinh; “Vân ơi, Mẹ mong chết sớm để con khỏi khổ...”, viết đến đây tôi lại khóc, khóc vì nghĩ đã không làm tròn bổn phận săn sóc Mẹ. 

Ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quý Anh Cựu Hội Trưởng Trần Bình Chánh và cũng là Cựu sinh viên Đại Học Vạn Hạnh  đại diện Trường Trung Học Võ Trường Toản Saigon đến tặng cho Thày Giáo Già Phạm Cao Dương tấm plaque thật nhiều ý nghĩa, 60 năm 1961-2021.  Võ Trường Toản là nhiệm sở toàn thời gian  đầu tiên của Ông Dương và Đại Học Sư Phạm Saigon là nhiệm sở toàn thời gian cuối cùng trước Biến Cố 30/4/1975. Sáu thập niên đã qua nhưng tôi biết trong tâm tư của Nhà Tôi lúc nào cũng hết lòng trân quý các kỷ niệm ở Trường Võ Trường Toản "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy"... bao kỷ niệm khi tóc còn xanh, nghị lực còn tràn đầy... viết đến đây tôi thật xúc động không cầm được nước mắt. Ân tình này chúng tôi xin mãi mãi ghi sâu trong tâm.


blank


Nhìn mái tóc bạc phơ của Nhà Tôi, tôi thương cảm người bạn đời, tuổi chỉ gần thập niên cách biệt nhưng với Anh, Nhà Tôi luôn coi tôi như cô em nhỏ vì có lẽ Anh không có em gái. Khi trẻ Anh hay huýt sáo, hay đọc thơ kim cổ cho tôi nghe vì Anh rất thuộc thơ, có lẽ còn thuộc  hơn nhiều người dạy Việt Văn nữa. Anh thường trầm ngâm kể cho tôi nghe về dĩ vãng về tuổi thơ tuổi trẻ cực nhọc, luôn luôn phải sống còn, phải ngoi lên. Anh kể về thời tản cư, bốn năm thất học, về lần cuối cùng Anh được gặp “Thày” khi đó Anh chưa tới tuổi lên mười. “Thày” Anh, vốn là một nhà giáo, một Đại Biểu Quốc Hội 1946 đã bị Việt Minh bắt và bị thủ tiêu không biết ngày nào và ở đâu. Anh không  bao giờ có một ngày giỗ cha! 


Những ngày mới gặp nhau Anh thường cho tôi đi uống nước dừa tươi bán trên các xe lưu động trên Đại Lộ Thống Nhất, 60 năm đã qua nhưng vị ngọt mát của nước dừa vẫn sống động như mới được uống. Tôi nâng niu các bông hoa  pensée mà Anh đi Đà Lạt du khảo với các sinh viên tặng cho tôi, cũng như những lá thư tình viết bằng mực tím vì người yêu của Anh rất yêu màu tím. Biết tôi rất thích đọc nên Anh thường viết những lá thư rất dài cho vợ dù rằng đã hơn nửa thế kỷ trôi nổi cùng nhau. 


Chúng tôi có một cháu ngoại mà Nhà Tôi gọi là “cục cưng của Ông Ngoại”. Cháu rất thương Nhà Tôi vì Nhà Tôi rất thân với cháu. Ba Mẹ sinh cháu ở nhà thương đại học Yale, miền Đông nước Mỹ, không có người trông nom nên từ nhỏ mới hơn tháng tuổi cháu ở với chúng tôi cho tới khi một tuổi mới về nhà. Ông Ngoại mua cho cháu con gấu nhỏ ở chợ Nhật có một đồng đô la mà bao năm cháu vẫn luôn giữ trong ví sách của cháu. Tuần trước cháu bay về California thăm nhà sau hơn một năm không được về vì Covid.  Khi về cháu mang biếu Ông Ngoại cuốn kỷ yếu của trường y khoa mà cháu là Literary Arts Chair có bài thơ cháu viết về những kỷ niệm với Ông Ngoại khi còn rất nhỏ:  


Dear You (you know who you are),


This is a chance for me to thank you.

Perhaps one day, you'll open this book

and find these words addressed to you 

Perhaps you'll know, perhaps you won't. 

But somehow, you always know.

Here, I celebrate you.

Who you are, what you're made of, 

your pride, your shame,

your regret, your laughter. 

Your life just being you.

You, who taught me what life was

at the beach, with all those shells. 

With seagulls and storks and fish around 

you pointed to the water and I ran 

laughing loud, proud, and bright.

You, who taught me what death was. 

When you whispered about saying goodbye 

to your friends, your youth, your heart 

yet still you held me

with joy.

You, who taught me what love was 

over a bowl of steaming phở. 

It's an open book, a tiny door, 

and a trip to the wetlands at sunset.

You, who taught me what medicine is. 

It is life and death and love.

It is holding on and letting go 

and

You, who I celebrate.

For your love, your touch, your mind. 

For what you've done, and what you gave 

and all you're giving still.

You, who rose on painted wings

and carved your path with history. 

When my wings came, you opened your arms 

and taught me how to fly.

With all my love, 

-- Cục cưng của Ông Ngoại

         

Nhà cháu ở xa nhưng ngày nào cũng lái xe xuống thăm Ông Ngoại mỗi khi ra về đều khóc nức nở vì thấy Ông Ngoại già yếu mà đường đi học của cháu còn rất dài.. Hôm kia, trước khi về, cháu nói với Ông Ngoại : “ Ông Ngoại chờ baby của cháu nhé”... Cháu muốn ông Ngoại cũng sẽ bế ẵm baby của cháu như Ông Ngoại đã bế cháu!


Che giấu Nhà Tôi, nước mắt tôi bao lần đã nhạt nhòe khi nghĩ tới những lời của Dược Sĩ Bùi Khiết viết trên Diễn Đàn Thế Kỷ,  bình luận tác phẩm
Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới, Bảo Đại Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam của Phạm Cao Dương: “Tác giả Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, đã mất năm 1953. Tác phẩm lịch sử của Ông ra đời từ năm 1920 mà vẫn được tồn tại và tồn tại mãi mãi. Vì tính minh bạch, khoa học, tác phẩm của Phạm Cao Dương cũng sẽ được tồn tại. Trong Thế Kỷ 21 này sẽ có nhiều sử gia Việt Nam chân chính chiêm nghiệm về công trình của Phạm Cao Dương. Đó là một may mắn quý giá. Nhìn cuốn khảo cứu quá dầy, nghĩ tới tuổi đời quá cao, đã trên 80 tưổi của tác giả. Nghĩ tới căn bệnh tim hiểm nghèo vẫn còn lơ lửng treo trên sinh mệnh của Giáo Sư Phạm Cao Dương. Nghĩ tới và nghĩ tới. Vừa cảm phục vừa thương mến một con người đã chấp nhận định mệnh trên con đường tìm sự thực lịch sử mà ông đã lựa chọn và trung thành với nó".

Bao giờ Phạm Cao Dương mới trả hết nợ ân tình!            


-- Khánh Vân

(Tháng Giêng 2022)


blank

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.