Hôm nay,  

Chủ nghĩa Poutine/ Putin!

30/04/202220:44:00(Xem: 6119)

Bình luận chính trị

putin

 

Muốn thiết lập một «chủ nghĩa» trong tiếng đa âm như tiếng Pháp thì rất đơn giản. Chỉ thêm tiếp vĩ ngữ «isme» sau một chữ hay tên một người thì có ngay thứ chủ nghĩa mà mình muốn. Thí dụ Pháp hiện nay có ông Tổng thống tên là Macron và được cai trị theo đường lối của ông. Cái đường lối chánh trị này được gọi là « chủ nghĩa macron » -- « macronisme ». Còn phe cánh cầm quyền hay dựa hơi Macron mà là ăn là «macronie».

 

Đây là cách nói của người Pháp và báo chí Pháp. Họ nói Staline và stalinisme, Mao và maoisme… Nhưng chưa bao giờ thấy họ nói «hochimin(h)isme» tuy họ vẫn nói Hochiminh. Phải chăng họ biết quá rỏ là ở Hồ Chí Minh không hề có một tư tưởng nào hay một đường lối cai trị nào là của chính Hồ Chí Minh, mà Hồ Chí Minh chỉ biết rặp khuôn làm theo chỉ thị của Mao và Staline mà thôi. Cỏ May tôi dài dòng để nói về Poutine và chủ nghĩa poutine, thứ đặc sản của ông ta, là «poutinisme».

 

Thử tìm hiểu «chủ nghĩa poutine» hay «poutinisme». Phải chăng đó là một thứ chủ nghĩa độc tài được kín đáo che giấu dưới những dàn dựng dân chủ, như có bầu cử qua phổ thông đầu phiếu, có Quốc hội làm luật, có tòa án, có vài tờ báo tự do buổi đầu, v.v… nhưng tiếp nối dòng lịch sử Nga, hoặc « chủ nghĩa poutine » không gì khác hơn là một hệ thống những nhà tài phiệt và những người thấm nhuần ảnh hưởng của KGB trong cách suy nghĩ và hành động. Chế độ chỉ tồn tại nhờ dựa vào một người mạnh.

 

Nhưng nói đơn giản, dễ hiểu, thì «tư tưởng poutine» «chế độ poutine» chỉ là một thứ nhà nước ăn cắp. Họ dựa vào chánh quyền mà ăn cắp tài sản của đất nước mà làm giàu. Như những chương trình giải tư, khai thác tài nguyên… Và chủ nghĩa poutine xuất hiện sau khi Poutine lên cầm quyền.

 

Poutine là ai?

 

Tới nay đã hơn hai mươi năm mà ở Nga vẫn còn nhiều người chưa biết Poutine là ai, từ đâu tới? Cuối tháng giêng 2000, tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, một phái đoàn Nga do Mikhail Kassianov, Thủ tướng tương lai, hướng dẫn tham dự một chương trình hội thảo về tương lai xứ sở Nga. Sau những bài diễn văn chánh thức, ký giả được mời đặt câu hỏi. Một

bà ký giả báo Huê Kỳ xin được đặt một câu hỏi. Và câu hỏi của bà rất đơn giảm: « Ông Poutine là ai?  Chúng tôi hoàn toàn không biết gì về ông ấy. Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết ít nhiều về ông ấy ».

 

Ông Mikhail Kassianov, Trưởng phái đoàn Nga không trả lời, xoay qua những người trong phái đoàn. Nhưng không có ai trả lời được. Một sự im lặng nặng nề. Người điều hành Diễn đàn lặp lại câu hỏi. Vẫn không một tiếng thốt lên. Cả phòng im thin thít, bỗng mọi người cùng bật cười. Câu hỏi của bà ký giả Huê Kỳ vẫn không có câu trả lời. Cũng từ đầu năm 2000, người Nga cũng không ai biết Poutine là ai. Nhưng họ lại không đặt câu hỏi như bà ký giả Huê Kỳ kia.

 

Theo dân chúng Nga thì tên thanh niên vừa lên cầm quyền chỉ là một thứ hình nộm của bộ máy cầm quyền gồm những tay tài phiệt và những người của gia đình Boris Eltsine. Tên nài của họ đóng vai trò Quốc trưởng cho tới khi họ có người thay thế. Nhưng chỉ ít lâu sau đó, ngày 26/03/2000, Vladimir Poutine đắc cử Tổng thống Liên bang Nga. Và ông Tổng thống Poutine cai trị Liên bang Nga theo «chủ nghĩa poutine » hay «poutinisme», (theo tiếng Pháp) cho tới ngày nay.

 

« Chủ nghĩa poutine » hay « chế độ poutine »

 

Khi đề cập tới «chủ nghĩa poutine» hay «chế độ poutine», ký giả Patrick Meney dùng tiếng « cleptocratie» để gọi. Định danh chế độ. Từ «cleptocratie» có nguồn gốc ở tiếng Hi Lạp, ghép lại bởi « cleptos » có nghĩa là « ăn cắp » và « kratos » có nghĩa là « quyền lực ». Vậy từ « cleptocratie » có nghĩa rỏ ràng là « chánh phủ của những người ăn cắp ». Ký giả Parick Meney nói rõ thêm về tiếng « cleptocratie ». Đó là chánh quyền Nga, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, giải tư các xí nghiệp nhà nước, và giai đoạn Boris Eltsine cầm quyền. Từ « cleptocratie » cũng bị biến chất khi nó được dùng để nói tới nạn tham nhũng phổ quát của chánh phủ.

 

Ông Karen Dawisha năm 2014 có viết một quyển sách nói về chế độ ăn cắp của Poutine ở Nga, nhan đề là « Chánh phủ của những người ăn cắp của Poutine ». Ông thuật lại nhờ đâu Poutine lên cầm quyền được, nhơn lúc ông ở Saint-Petersbourg trong những năm 1990. Ông cũng viết lại làm thế nào mà những người bạn thời học làm KGB của Poutine lại thủ đắc được những khối tài sản kếch xù và họ chia nhau nắm quyền. Mặc dầu lúc đó Poutine cam kết khi được bầu làm ông Tổng thống thì ông sẽ dẹp hết phe cánh tài phiệt xuất hiện vào những năm 1990.

 

Nhưng thực tế, Poutine đã xây dựng một thế lực cầm quyền gồm những người bạn thời KGB của ông và những người này có lối chừng hơn một trăm người đã chia nhau hết 35% tài sản quốc gia. Nay phần mỗi người bỏ túi đã vọt lên hằng chục, hàng trăm tỷ đô-la. Và ngày nay, những nhà tài phiệt này, dĩ nhiên đông hơn, đang nắm giữ số tài sản của họ bằng lợi tức nước Nga.

 

Thường những người này khi hốt được tiền, họ lo tìm cách bạch hóa ngay, để giấu đi nguồn gốc của tài sản có được, số lượng là bao nhiêu, nhờ những tài khoản ngân hàng ở các nơi không bị thuế (thiên đường khỏi thuế -- paradis fiscal).

 

Cũng nói về chế độ « cleptocratie », hay chế độ Poutine, học giả Jared Diamond lại cho một định nghĩa khác hơn. Nó đúng ra là một hệ thống chánh trị xuất hiện nhờ ở một nhóm người ưu tú cướp được chánh quyền mà không cần ở dân chúng. Một khi nắm được chánh quyền thì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn.

 

Riêng ở Nga, từ « cleptocratie » thường được dùng để chỉ những nguồn lợi rút tỉa từ tài nguyên. Đặc biệt là dầu hỏa, khí đốt. Và cả khi đề cập đến các cách kinh tài ở những xứ thuộc Liên-Xô cũ.

 

Chủ nghĩa Poutine hay giấc mơ Poutine

 

Lúc sau này, Poutine tăng cường củng cố hệ thống đàn áp, nhờ đó mà sự tuyên truyền của ông ta có hiệu quả trong dân chúng Nga vì dân chúng vẫn tin là Nga thật sự có « sứ mạng đặc biệt ». Poutine đánh chiếm Ukraine là thi hành sứ mạng đặc biệt. Là thánh chiến, theo Giáo chủ Kiril ở nhà thờ Chúa Cúu Thế ở Moscou.  Poutine đánh Ukraine hoàn toàn không vì NATO / OTAN bành trướng qua sát biên giới Nga (*), như nhiều người bình luận, mà vì Nga có một « sứ mạng đặc biệt » đối với thế giới. Và « Nga mới là nước đại diện cho nền văn minh thế giới ».

Về bản chất của con người Poutine, theo sử gia Stephen Kotkin ở Đại học Stanford, thì Poutine chịu ảnh hưởng của một nhóm nhỏ những người độc tài sát nhơn bên cạnh Hitler và Mao trước kia như Staline. Ông ta ước ao sau này, khi chết sẽ có được một chỗ trong Văn miếu Nga (như Panthéon của Pháp), nằm bên cạnh Staline, hay Alexandre 1er và Pierre le Grand vì Pierre le Grand đánh bại vua Charles XII và Thụy Điển, đem lại cho Nga đường vào biển Baltique và làm cho Nga trở thành trọng tài của những vấn đề Âu châu. Còn Alexandre 1er đánh thắng Napoléon và chiếm Paris. Staline thắng Đức Quốc xã và chiếm Berlin.

Nhưng thực tế thì Poutine đánh chiếm Ukraine mà thất bại. Chỉ được thành tích giết hại thường dân, đàn bà, trẻ con, phá hủy những di tích văn hóa và tôn giáo của Ukraine, bị thế giới buộc tội: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống nhơn loại. Có thể sẽ bị đưa ra Tòa án Hình sự Quốc tế.

 

Thật rất tiếc, Nga vẫn là một nước có một nền văn hóa lớn, phi thường, là một phần không thể tách rời khỏi nền văn hóa thế giới. Như vũ ballet, opéra, văn học, khoa học… Thế mà trong lúc đó, Nga lại có một thứ chánh quyền luôn luôn gây hận thù, đau khổ cho thế giới và cả cho dân Nga, từ thời Nga hoàng cho tới thời cộng sản, và ngày nay là Poutine. Phải chăng vì nhiều người Nga vẫn hằng tin mình là một « cường quốc bảo hộ và văn minh » với một « sứ mạng đặc biệt » cho thế giới. Nhưng tầm vóc lại quá hạn chế.

 

Poutine có phải là ông Tổng thống hay không?

 

Không. Nhà đối kháng Alexey Minyaylo quả quyết Poutine không phải là ông Tổng thống mà chỉ là một tên lừa gạt. Như Poutine vẫn tuyên bố là toàn dân Nga đều ủng hộ việc ông đưa quân đánh Ukraine. Nhưng theo ông Alexey Minoyaylo, được dân ủng hộ mà tại sao Poutine lại cứ thay đổi chỗ ở luôn?  Ông ta ở một nơi mà chỉ có ông biết địa chỉ, tự giới hạn những hoạt động và những xuất hiện công cộng. Ông còn tăng cường sự canh phòng an ninh, cả trên hệ thống thông tin.

 

Để phản tuyên truyền, Alexey Minyaylo tổ chức cuộc thăm dò nghiêm chỉnh, nhờ sự giúp đỡ của một nhóm những nhà xã hội học, kết quả phổ biến cho dân chúng biết sự thật. Cũng về chuyện này, cả nhà tài phiệt Oleg Tinkov xác nhận hôm 19/4/2022 dân chúng Nga có tới 90% không ủng hộ Poutine đánh chiếm Ukraine mà còn cho đó là thứ « chiến tranh điên rồ». Theo kết quả những cuộc thăm dò độc lập, dân chúng thấy đánh chiếm Ukraine là một thứ tội lỗi. Họ lo âu và sợ hãi.

 

Từ đầu tháng ba, nhà cầm quyền cấm dân chúng nói « chiến tranh » hay « xăm lăng » mà phải nói đó là cuộc « chiến dịch quân sự đặc biệt ». Nhưng trên mạng thông tin, người ta vẫn nói chiến tranh với Ukraine, Poutine đánh Ukraine. Tuy nhiên những người Nga lớn tuổi lại có khuynh hướng ủng hộ Poutine chỉ vì Poutine là lãnh tụ nên họ ủng hộ. Lớp người này được giáo dục bởi bộ máy tuyên truyền thời cộng sản, lúc mà truyền thông chỉ có cái TV nên dân chúng chỉ được biết điều gì do chánh phủ muốn. Dân chúng nằm lòng câu « Đừng khác hơn », hãy giữ « giống y như mọi người ». Luôn luôn theo tập thể.

 

Poutine chẳng những chịu ảnh hưởng của Staline mà còn coi Staline là thần tượng, khi chết mong được nằm bên cạnh Staline. Năm 1953, sau khi Staline chết, có 4% dân chúng Nga bị Staline bỏ tù. Ngày nay, dưới sự cai trị của Poutine dân Nga có bao nhiêu người bị tù, bao nhiêu người bị sát hại vì chống đối?

 

Bao giờ chiến tranh Ukraine kết thúc?


Theo nhà đối kháng Alexey Minyaylo thì không phải trong vài tháng, trong nửa năm, mà chỉ hết chiến tranh khi không còn Poutine. Nhưng có vài nhà báo Nga lại có nhận xét khác hơn. Theo họ, lúc đầu dân chúng Nga, phần lớn đều chống chiến tranh ở Ukraine do Poutine gây ra nhưng tới khi Huê Kỳ và Âu châu áp dụng những biện pháp trừng phạt Poutine về kinh tế làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống dân chúng thì họ thấy Poutine có lý khi chống Tây phương nên họ đoàn kết lại và ủng hộ Poutine.

 

Nhưng thử nghĩ trong tình hình này, việc chiến thắng ở Ukraine còn nhiều khó khăn, liệu Poutine có thể nắm chánh quyền trong bao lâu nữa? Trong lịch sử Nga, Nga Hoàng Đệ I bị sĩ quan của mình ám sát. Còn Krouchtchev bị loại khỏi bộ máy cầm quyền. Chỉ có Staline cầm quyền lâu hơn hết. Ông vẫn là khuôn mặt thống trị nước Nga. Poutine là người phản bội tất cả những ai đã ủng hộ ông ta từ lúc ban đầu. Vừa rồi, đã có 4 nhà tài phiệt lớn về dầu hỏa và khí đốt, từng sát cánh với Poutine (các ông Leonid Schulman, Sergei Protosenya, Vladislav Avayev và Mozhem Obyesnit) bỗng ngã ra chết với cả gia đình vì tự tử. Poutine đã từng nói « Đừng để cho con chuột nào chạy thoát. Chúng nó chạy được ra nước ngoài, sẽ nói những điều không hay».

 

Ngày giao chánh quyền cho Poutine, Boris Eltsine căn dặn «Anh hãy chăm lo cho nước Nga». Nhưng những thành phần ưu tú đứng phía sau Poutine không bao giờ được biết ông ta đã tự ý biến nước Nga trở thành một thứ Bắc Triều Tiên khổng lồ. Bỗng họ bị cắt những liên hệ với thị trường quốc tế, không còn những cuộc nghỉ hè ở ngoại quốc, con em của họ không được theo học những trường quốc tế. Những người này cũng không hề được biết Poutine tự ý biến nước Nga làm chư hầu Trung quốc để đổi lấy hiệp ước đối tác chiến lược.

 

Nhưng nên nhớ Poutine đang nắm trong tay cơ quan mật vụ FSB lo tập trung bảo vệ an ninh cho ông bằng một mạng lưới dày đặc, từ những người võ trang tới anh bếp, chị bồi, tài xế. Mỗi khi có ai tới gần ông đều bị FSB kiểm soát kỹ lưởng nên mọi toan tính ám hại ông đều khó thực hiện. Chỉ có dân chúng bất mãn vì đời sống khó khăn do lạm phát mà nổi loạn.

 

Nhưng ở đời vẫn thường xảy ra những chuyện không ai ngờ. Bỗng một hôm có một người Nga nào đó xuất hiện tuyên bố thay thế Poutine, được một bộ phận lớn những người ưu tú ủng hộ. Ông chủ trương đưa nước Nga hội nhập vào thế giới dân chủ tự do để phát triển, sống hài hòa thay vì đối nghịch và gây hấn thường xuyên với Tây phương như trước giờ. Đức và Nhựt đã chọn con đường này sau Đệ II Thế chiến và nhờ đó đã trở thành cường quốc.

 

-- Nguyễn thị Cỏ May

 

(*) Năm 1997, Bill Clinton và Boris Eltsine đã ký Hiệp ước thiết lập quan hệ giữa NATO và Nga, qui định không có giới hạn NATO mở rộng qua những nước cựu thành viên Hiệp ước Varsovie hoặc những nước thuộc Liên-Xô cũ. Eltsine đã phản đối qui định này nhưng đã thất bại, mặc dầu ông vẫn nhắc lại ý của ông chống lại trong một cuộc họp báo.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.