Hôm nay,  

Giấc mơ trại gà

03/05/202220:17:00(Xem: 3947)


poultry-farm 

(Kỷ niệm đi thăm trại gà của anh NP).

 

Chúng tôi đến trại gà sau 2 tiếng lái xe từ thành phố Dallas đến thành phố nhỏ Palestine. Từ lâu tôi đã cả gan mơ làm chủ một trại gà và mê cách nuôi gà công nghiệp tại Mỹ với những chuồng trại hàng trăm ngàn con gà mà không tốn nhiều công sức lao động. Một nghề gặt hái ra tiền nếu chịu đầu tư tiền bạc và chăm chỉ làm việc.

 

Tôi tò mò và yêu thích những cảnh thiên nhiên hoang vắng, vài hình ảnh trại gà tôi xem trên Net chỉ là một góc cạnh, tôi tưởng tượng ra một trang trại rộng lớn với những khu rừng và những cánh đồng cỏ xanh mướt, vừa nuôi gà vừa có cảnh để ngắm và rong chơi thơ thẩn bướm hoa.

 

Thế nên tôi luôn mong muốn được đến thăm một trại gà.

 

Trại gà này thuộc gia đình họ hàng người em dâu. Tôi theo chân hai vợ chồng đứa em đến đây một buổi sáng chủ nhật nhiều nắng nóng của mùa hè Texas. Đường vào trại gà càng lúc càng hoang sơ, dân cư thưa thớt, xe chạy trên những con đường nhỏ dẫn vào trang trại bốn bề lặng thinh như chốn không người.

 

– Trại gà đây rồi!

 

Tôi reo lên khi xe rẽ vào trang trại và đậu lại trước căn mobile home, nhưng chúng tôi khựng lại không dám xuống xe vì thấy 3 con chó mặt dữ như bà chằng lửa đang nhổm dậy từ gầm chiếc xe tải đậu trước nhà và gầm gừ chui ra nghinh đón chúng tôi. Tôi ngó nhìn xung quanh, trước mặt căn mobile home xéo về phía bên phải là một nhà kho hoang phế, mái lợp tôn, vách tôn đa phần hoen rỉ nắng mưa và xập xệ, chắc chủ nhân chưa rảnh để gỡ bỏ. Phía bên trái chúng tôi là một khu đất thấp mấy con bò đen đang thong thả gặm cỏ.

 

Những con chó và những con bò để tôi biết chắc nơi này đang có cuộc sống.

 

Chủ nhân đã từ những bậc thang căn mobile home bước xuống đón khách, có chủ nhân nên 3 con chó ngoan ngoãn để yên chúng tôi trèo lên thang vào nhà. Căn nhà có máy lạnh và thêm cái quạt máy đang quay cho tôi cảm giác thoải mái tạm quên nắng ngoài sân hôm nay hơn 90 độ F.

 

Cô em dâu của tôi lôi từ những túi quà mang theo, nào heo quay, vịt quay, rau trái, bún, bánh, đồ khô… y như đi tiếp tế cho tù nhân. Nơi đây xa phố, càng xa chợ búa Việt Nam nên cô em đã mang tặng ông anh họ của cô nhiều thứ. Muốn đi chợ Việt Nam phải mất 2 giờ xe về Dallas hay Houston.

 

Chủ nhân mới xây dựng trại gà được 1 năm, chỉ tính riêng 8 chuồng gà mới tinh là 2 triệu 7 trên khu đất rộng mênh mông hơn 250 acres, trị giá đất là 600 ngàn đồng. Họ không mua được miếng đất nhỏ hơn nên đành bỏ phí đất vì công ty gà Sanderson chỉ cho xây 8 chuồng gà trong khu vực này. Đất rộng rãi dư thừa, ráng chịu. Ngoài xây chuồng gà chủ nhân phải thuê người đổ đất làm nền nhà cho cao ráo bằng phẳng, nơi đặt chiếc mobile home quay ra mặt ngõ, đổ đất làm con đường từ nhà đến những chuồng gà phía đằng sau nhà, khoảng cách không xa là bao. Tất cả đều là con đường đất, màu đất cày xới đã cả năm nhưng dường như vẫn còn tươi vì xe cộ và bàn chân con người chưa giẫm đạp lên bao nhiêu. Rồi mắc điện câu nước để dùng trong gia đình, chưa kể đào 3 cái giếng bơm nước dùng cho lũ gà cưng uống, v.v…

 

Chủ nhân nói tổng số giá trị toàn thể đất đai, trại gà, nhà ở cũng như xe cộ và những công trình phụ thuộc để phục vụ cho trại gà nói tròn số là 4 triệu đô la Mỹ. Nếu mua trại gà cũ 8 chuồng vẫn còn tốt để yên chí tiếp tục nuôi gà kiếm tiền thì khoảng 2 triệu. Nhưng nếu ít vốn mua trại gà quá cũ, giá rẻ hơn, nay hư chỗ này mai hư thứ khác, gặp thời tiết mưa gió bão bùng hay tuyết rơi nhiều, vách hở mái nhà đổ sập sẽ là cơn ác mộng nơi chốn “lưu đày”.

 

Nhiều người Việt Nam với bản tính chịu khó dành dụm tiền bạc và chịu khó làm ăn đã làm chủ trại gà khắp nơi trên đất Mỹ. Chuyện vui buồn trại gà thì đủ kiểu, hoàn cảnh ai thích hợp hay quyết tâm muốn làm giàu thì yêu nghề và bám trụ lâu dài, gia đình  nào “phân ly”, kẻ ở  quê người ở phố cho con cái học hành là một sự hi sinh lớn. Những trại gà được rao bán thường xuyên, có thể sau nhiều năm miệt mài với gà, chủ nhân đã kiếm đủ mớ vốn ước mơ nên bỏ rừng về phố hoặc có thể chủ nhân thất vọng nửa đường bỏ cuộc. Mỗi người một cảnh, một tâm trạng.

 

Chúng tôi nói chuyện xong là háo hức đòi đi xem trại gà rồi ăn cơm sau dù rằng bụng đang đói. Lần đầu tiên trong đời tôi được ngồi lên một chiếc xe nông nghiệp, loại xe dùng để chạy trong farm do chủ nhân lái dẫn đường và xe người em theo sau. Chiếc xe chạy trên con đường đất tung bụi mù, 3 con chó chắc ngày tháng buồn tênh vì vắng người nay có đám khách nhộn nhịp chúng hớn hở như phát cuồng chạy băng mình trong bụi cát và nắng nóng theo sau xe chúng tôi.

 

Ngoài khu nhà ở và khu chuồng trại được phát quang, phía xa mênh mông là cây hoang bụi rậm có lẽ chủ nhân cũng chẳng mấy khi có thì giờ đến đó, để mặc chúng tự vươn lên tồn tại hay lụi tàn với nắng mưa bốn mùa. Con đường đất tương đối bằng phẳng dẫn đến gần những chuồng gà thì bỗng lổm chổm đá, những cục đá trắng to như quả trứng vịt, như những nắm đấm tay, chắc để tiết kiệm tiền nếu đổ bê tông hay trải nhựa. Bà nào cô nào mà đi giày cao gót đến đây sẽ không thể nào bước nổi, mà nếu cố bước thì sẽ ngã giập mặt u đầu.

 

Chủ nhân gõ cửa chuồng gà như thông báo với chúng là có khách đến thăm nè rồi mới mở cửa, mùi phân gà xông ra và trong ánh đèn mờ cả lũ gà nhốn nháo xoè cánh chạy xô vào nhau thấy mà thương.

 

Mỗi chuồng gà dài 600 feet, rộng 50 feet, chứa 28 ngàn con. Chủ nhân chỉ thuê một anh Mễ làm full-time, hằng ngày chủ cùng người làm đi rảo qua các chuồng trại kiểm tra nhiệt độ, đồ ăn thức uống và nhặt gà chết để thiêu hủy chúng. Ngoài công việc làm liên quan đến gà anh Mễ thỉnh thoảng cắt cỏ xung quanh 8 trại gà. Anh Mễ sáng đến làm chiều về dù chủ nhân đã hậu hĩ mua một căn mobile home đặt sau căn mobile home chủ nhân để anh ta có thể sinh sống hẳn trong trại gà, nhưng anh thà lái xe đi về mỗi lần hơn nửa tiếng để thấy phố thấy nhà còn hơn thuận tiện nhưng phải sống trong cảnh hoang vắng đìu hiu. Ông chủ vì của cải sự nghiệp của ông thì ráng ở lại chứ anh Mễ mắc mớ chi.

 

Xe lại đưa chúng tôi trở về căn mobile home, những con chó vẫn hớn hở băng mình chạy theo trong đám bụi và nắng hè. Khi xuống xe, tôi bất chợt thấy ngoài xa một chiếc xe chở những cuộn cỏ đang chạy ra phía cổng trang trại và được chủ nhân giải thích:

 

–  Mỗi cuộn cỏ trị giá ít nhất 50 đồng, mỗi lần họ cắt được khoảng 200 cuộn, 250 acres đất của tôi được cắt cỏ miễn phí và họ thì được cỏ miễn phí.

 

Tôi tính toán và tiếc rẻ:

 

–  Những 10 ngàn đồng cho 200 cuộn cỏ kia chứ ít gì. Sao anh không tự làm và bán cỏ kiếm thêm tiền?

 

–  Chị ơi tôi chẳng ba đầu sáu tay mà làm hết mọi thứ, với lại phải sắm sửa máy móc, máy cắt cỏ và máy cuộn cỏ lại.

 

Tôi lại tính toán giùm nhà giàu:

 

–  Sao anh không tận dụng nuôi nhiều bò trên cánh rừng bao la này khỏi phải cắt cỏ lại ra huê lợi?

 

–  Chị ơi, nuôi bò kiểu kinh tế thì phải có bài bản chứ không phải cứ thả rong chúng rồi tới ngày bán lấy tiền. Tôi chỉ nuôi chơi dăm bảy con bò đen Angus như chị thấy trước sân kia cho vui thôi. Cũng như nuôi gà, trông giàn thực phẩm cho ăn cho uống tự động tưởng là nhàn hạ nhưng lúc nào chúng tôi cũng phải để mắt tới chúng, xem gà chết nhiều hay ít, hệ thống đồ ăn nước uống có gì trục trặc không, nửa đêm hay lúc trời mưa to gió lớn sấm sét đùng đùng được báo động thì giá nào cũng phải mò ra chuồng gà lo bảo vệ chúng.

 

Những lúc mưa gió thế tôi cuộn mình trong chăn nghe tiếng mưa rơi bên ngoài mà mơ mộng, thì những chủ trại gà như anh ta lo âu và vất vả quá chừng. Tôi hơi run:

 

–  Nửa đêm anh cũng phải ra chuồng gà hả? Không… sợ ma hả? Đường đi không có lấy một cột đèn, xa xa là rừng đen kịt dày đặc bóng tối.

 

–  Chứ còn gì nữa, đèn xe mình chiếu lên soi đường mà đi, lúc đó sợ gà gặp nạn chứ không thì giờ đâu mà sợ ma.

 

Chủ nhân khoe thêm:

 

–  Có khuya tôi không ngủ được thức dậy pha trà uống và mang đèn pin ra ngoài hàng hiên thấy những đôi mắt xanh lè của những chú nai tơ nhìn tôi, chúng ghé vào hiên nhà ngủ qua đêm.

 

Tôi rùng mình:

 

– Tôi mà gặp những đôi mắt xanh lè trong bóng đêm là ngã bất tỉnh rồi trước khi kịp nhận ra đó là mắt con nai tơ.

 

–  Chỉ có tôi và nai trong đêm khuya, chúng tôi như bạn hiền, bạn tri kỷ.

 

Tôi chưa hết lo sợ:

 

– Thế anh có nhìn ra phía nhà kho hoang phế trước sân nhà anh không? Lỡ… có ai núp trong đó và… bước ra vẫy tay chào anh. Còn căn mobile home anh Mễ không chịu ở, bỏ trống phía sau nhà anh nữa, lỡ có… hồn ma bóng quế nào vào đấy tá túc và trong những đêm khuya canh vắng mưa gió chập chùng hồn ma đến gõ cửa nhà anh cho đỡ đơn lạnh, lẻ loi?

 

Chủ nhân kêu lên:

 

– Trời, đầu óc chị giàu tưởng tượng quá chừng. Tôi chưa bao giờ nghĩ ra điều này.

 

Tôi chưa buông tha:

 

– Thôi thì anh không sợ ma chết nhưng anh biết sợ ma sống chứ? Nếu như có kẻ lạ vào đây anh tính sao?

 

Thấy tôi vẽ ra bao cảnh hãi hùng, chủ nhân không thèm trả lời cho mỏi miệng, anh ta dẫn chúng tôi đi đến từng góc nhà góc bếp, nơi nào cũng có dựng sẵn hai cây súng trường, súng để khơi khơi như que củi và trong phòng ngủ thì anh thủ sẵn khẩu súng lục, anh giơ cao túi đựng những viên đạn và khẩu súng lục lên khoe, vô tình một vài viên đạn rơi xuống sàn làm tôi hoảng hốt nhảy ra xa và hét lên:

 

–  Ối giời ôi! Đạn!!!

 

Chủ nhân bật cười:

 

–  Chị nhát gan nên tưởng ai cũng nhát gan. Ha ha… Này nhé từ ngoài ngõ vào đến sân nhà khoảng nửa dặm đường, kẻ lạ bước vào là sai trái rồi, 3 con chó dữ của tôi sẽ xông ra cho tôi đủ thời gian lên đạn phòng vệ.

 

Chúng tôi ăn uống và chuyện trò đến chiều thì chuẩn bị ra về, chủ nhân bưng ra vỉ trứng gà và hũ trứng muối to tổ bố, giới thiệu:

 

– Trứng gà của farm người Việt Nam bên cạnh biếu tặng, farm tôi nuôi gà thịt, farm kia nuôi gà đẻ trứng. Tuy gọi là “bên cạnh” nhưng vẫn “ngàn trùng xa cách”, cả tháng dễ gì thấy mặt nhau. Đây là trứng gà hai tròng không ấp được nên chủ trại tha hồ ăn hay cho hàng xóm thay vì vứt bỏ, tôi ăn trứng không hết nên làm trứng muối khô, nhúng trứng vào rượu mai quế lộ rồi lăn trứng vào muối, xếp vào hũ đậy lại 4 tuần là ăn được. Thơm ngon lắm, tặng khách ăn lấy thảo.

 

Tôi thích thú:

 

– Trứng gà hai tròng hèn gì to quá, cứ tưởng trứng ngỗng hay trứng gà tây, tôi thích trứng muối khô không cần nước này lắm.

 

Tiễn chúng tôi ra xe ba con chó cũng xôn xao cùng chủ nhân, chúng luẩn quẩn bên chúng tôi như lưu luyến phút chia tay. Chủ nhân giơ tay chào chúng tôi và nói:

 

– Chốc nữa tôi lại rảo qua 8 chuồng gà để xem lần cuối có con nào chết không rồi mới yên tâm cho buổi tối đi ngủ.

 

Thì mỗi con gà là tiền của anh ta mà, bao nhiêu gà bao nhiêu trọng lượng là bấy nhiêu tiền, nếu để gà chết nhiều thì income cũng hao theo. Công việc nào cũng có những vất vả khó khăn của nó, đồng tiền chân chính nào cũng có tâm huyết và mồ hôi của con người.

 

Xe chạy ra khỏi cổng trang trại, chiều đang xuống dần. Trại gà nơi hoang vắng theo tôi trên đường về. Tôi đang nghĩ đến chốc nữa chủ nhân trại gà lái chiếc xe nông nghiệp chạy trên con đường đất đầy bụi, chân anh đi đôi giày ủng cao, tay anh đeo găng và anh sẽ gõ cửa vào trại gà, căng mắt nhìn trong đám gà xớn xác chạy quẩn vào nhau ấy để tìm con nào nằm lật ngửa thì cứu chúng, đỡ chúng dậy, con nào nằm chết bất động hay yếu ớt loạng choạng thì mang chúng ra khỏi tập thể gà đông đảo khỏe mạnh kia.

 

Rảo qua 8 chuồng gà có nghĩa là kiểm tra hơn 200 ngàn con gà là công việc không nhẹ nhàng nhanh chóng. Vậy mà anh ta nói “rảo qua” cứ tưởng như một cuộc đi dạo chơi thú vị. Mong rằng xong việc tối nay anh sẽ có giấc ngủ bình yên, đừng có tin báo động nào vào trong cell phone của anh để dựng anh thức dậy giữa đêm khuya canh vắng.

 

Tôi về đến nhà lúc 8 giờ tối, đứng trước cửa nhà mình, nhìn xung quanh nhà cửa san sát liền nhau, này bên phải là nhà anh Mỹ đen, bên trái nhà bác Mễ, đối diện là nhà chị Mễ và phía sau lưng nhà tôi là khu apartment đông đúc. Tôi cảm thấy ấm áp làm sao, những hàng xóm thân quen của tôi bỗng dễ thương làm sao. Thế mà có lắm lúc cao hứng tôi ước mơ bán quách căn nhà này đi, tom góp tiền để “pay-down” sang một trại gà, để được làm giàu mau chóng và để được sống trong cảnh yên ả nên thơ của trang trại mà tôi từng vẽ ra trong đầu.

 

Đó chỉ là một giấc mơ hoang đường. Vì tôi chẳng có tiền triệu để nhảy vào kinh doanh một trại gà và vì tôi là một kẻ nhát gan, sợ đủ thứ. Sợ thất bại, người ta làm ăn thành công tới phiên mình thì thua lỗ. Sợ trộm cướp ban ngày và sợ ma ban đêm nơi trại gà mênh mông vắng vẻ chẳng thấy mặt mũi hay bóng dáng người láng giềng nào.

 

Hôm nay được tận mắt thấy trại gà chẳng thơ mộng như tôi tưởng, được tận tai nghe chủ nhân trại gà kể những thuận lợi và vất vả khó khăn. Giấc mơ của tôi bay mất.

 

Vào nhà thay đồ xong tôi cảm thấy đói bụng, lục cơm nguội ra ăn với chút đồ ăn còn trong tủ lạnh tôi thấy bình yên và thoải mái trong căn nhà đèn sáng choang, ngoài kia có nhà cửa hàng xóm đông vui, thỉnh thoảng có tiếng xe chạy qua chạy lại. Còn giờ này nơi trang trại hẻo lánh xa phố xa nhà, nơi không có lấy một cột đèn đường trên 250 acres đất, chỉ có rừng cây và bóng tối, anh chủ nhân trại gà đã lái chiếc xe nông nghiệp từ nhà đến chuồng trại, mò mẫm đi qua từng sân trại lổn nhổn đá cục để rảo hết lượt 8 chuồng gà chưa nhỉ?

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.