Hôm nay,  

Nghiêng, hăm ba phẩy năm độ

17/01/202311:01:00(Xem: 3298)

Truyện

 

sad woman 

1.

 

Một buổi chiều, chị mệt rã rệu, đến nỗi cứ phải ngồi há miệng thở dốc, bèn gởi lớp cho bạn, lên văn phòng xin  phép về sớm.

 

Cô ta đang nằm tênh hênh trên giường ngủ (chiếc giường đã từ lâu có thể gọi là của riêng chị) chân bắt chéo, tay cầm điếu thuốc, chu môi thổi ra những cụm khói tròn xoe điệu nghệ. Chị chẳng lạ gì cô ta, nhưng cái kiểu nầy thì quá lạ đi chứ! Chuyện cô ta dan díu với chồng chị đã ngấm ngầm được chấp thuận. Nhưng, không phải tại đây, ngay trong ngôi nhà nầy!

 

Cô ta quay lại, thấy chị, không buồn chào hỏi. Chị nhíu mày kinh tởm. Cô ta giương mắt khiêu khích nhìn chị! Chồng chị từ buồng tắm bước ra, chiếc khăn to quấn quanh người, miệng oang oang, thiếu đại từ ngôi nhất lẫn ngôi hai: “Bữa nay nhà trọ sửa sang, cô ấy không có chỗ nghỉ.” Quay lại cô ta, chồng chị nhỏ giọng, âu yếm: “Đi em, chúng mình kiếm cái gì ăn, anh đói lắm rồi.”

 

Chị không còn đủ sức để có thể có bất kì một phản ứng nào, ngoài việc vịn theo vách tường lần sang phòng con, ngả người xuống và rơi vào trạng thái chập chờn giữa tỉnh và mê, giữa thức và ngủ, đầy mộng mị nặng nề. Đầu chị nhức nhối. Chị muốn dậy đi tìm viên thuốc nhưng không thể nào trở mình được. Thân thể chị tê cứng. Cổ họng khô rát. Lát sau, chị thấy rõ ràng mình ngồi dậy, đi ra ngoài lấy ly nước. Chiếc ly chỉ cách bàn tay chị chừng vài phân. Chị nhoài người tới. Kỳ lạ thay, chiếc ly như  đùa cợt với chị, nó cứ lùi dần ra phía sau và luôn giữ khoảng cách cũ. Rồi trong tiềm thức, chị bỗng nhận biết được đây chỉ là giấc mơ! Chị cố vùng vẫy, cố thoát khỏi giấc ngủ chết chóc. Nhưng tất cả đều vô ích! Chị mệt lả, kiệt sức.

 

Thôi thì đành buông xuôi. Chết đi cho nhẹ nhàng. Sẽ không còn vật vã khổ đau, không phải oằn lưng chống đỡ, không phải nghiêng người né tránh… Nhưng chị bỗng nhớ đến con! Không, chị phải sống! Chị không thể đầu hàng! Chị tin nếu vùng dậy được hẳn chị sẽ sống. Chị cố cựa quậy đầu, cố ngọ nguậy đôi tay, cố cử động những ngón chân, cố há miệng ra. Chị biết chắc chắn là chỉ cần làm được một trong những động tác đó là chị thoát được cánh cửa dẫn đến cõi vĩnh viễn. Hình ảnh phân thân của chị trong giấc mơ đã quị xuống, ngồi bệt trên  bờ vực thẳm đen ngòm hun hút đầy gió lạnh và bóng tối, đang vô vọng nhìn cái ly bây giờ vẫn cứ lắc lư trước mặt, đúng khoảng cách như lúc đầu đến giờ. Chị kinh hãi nhận ra cái khủng khiếp của niềm tuyệt vọng đớn đau kia! Giờ thì chị biết mình phải làm gì. Dồn tất cả sức lực còn lại, chị thét to lên và xoay nghiêng người.

 

Ngay lúc đó, một bàn tay kéo chị. Chị thở hắt ra, vùng dậy. “Mẹ làm sao vậy?” Con trai chị vừa đi học về. Chị ngơ ngác giây lát rồi ôm chầm lấy con, nức nở, nước mắt ướt đẫm vai áo nó. Chị chạy ra vườn, sung sướng hít thở cuộc sống! Một thứ hạnh phúc diệu kì tràn ngập trái tim! Một thứ hạnh phúc chị chưa từng gặp trong đời: Được thở! Thở! Thở!

 

Tối, chị vừa đóng cửa tắt đèn xong thì có tiếng xe dừng trước nhà. Tiếng xe quen thuộc. Chị lẳng lặng mở khóa, không buồn nhìn. Nhưng rồi chị phải  nhìn, bởi phía sau chồng chị là cô ta. Cả hai đều có hơi men. Cũng may, con chị đã ngủ. Chồng chị lên tiếng: “Tụi nầy nghỉ đỡ đây đêm nay nghe!” Cách thông báo như một mệnh lệnh ngắn gọn nhưng đầy đe dọa mà chỉ có riêng chị mới biết rõ sức công phá tàn bạo dữ dội ngầm chứa trong ấy! Chị lách qua nhường lối cho họ. Họ vào thẳng phòng ngủ của chị.

 

Lặng lẽ và nhẹ nhàng, chị lướt qua phòng con. Thật ra, từ hồi chiều, chị đã không nằm trên cái giường đó. Và tính sẽ đem quẳng nó đi. Còn bây giờ, chị biết mình rất cần vài viên thuốc ngủ nhưng tủ thuốc lại nằm trong phòng kia. Đành vậy! Có lẽ đêm nay chị sẽ thức trắng.

 

Và, dù tất cả đã bão hòa. “Phải, tất cả đã bão hòa.” (Chị nhìn tôi, nhấn mạnh.) Nhưng chị không thể không bịt tai lại khi nghe rất rõ, trong đêm khuya im vắng, tiếng thở của bọn họ vọng sang từ bên kia bức vách ngăn mỏng mảnh.

 

2.

 

Cũng một buổi chiều, chị vừa ra khỏi trường. Bất ngờ mưa to gió lớn. Chị không mang áo mưa. Nấp trong hiên nhà lạ một lát, lòng chị bỗng dưng như có lửa đốt. Không chờ đợi được nữa, chị đạp xe băng vào màn mưa dày đặc, gió thổi buốt lạnh. Chị run lập cập trước căn nhà nhỏ mái tôn vách ván, vá víu xiêu vẹo tối thui im ắng, nhập nhòa trong bóng chiều chập choạng đẫm mưa xám xịt.

 

– Thương ơi Thương à. Thương ơi mở cửa cho mẹ! Thương ơi Thương à!

 

Bên trong hoàn toàn im lặng. Linh cảm chẳng lành đang trở thành sự thật. Cảm giác lo lắng rồi sợ  hãi trào lên. Chị hốt hoảng kêu khóc. Người ta phá cửa ra. Thương nằm trên giường, lạnh ngắt tự  lúc nào. Chị ngất đi. Văng vẳng bên tai chị tiếng người lao xao. Trong tất cả những âm thanh hỗn độn đó, chị lọc được một điều, Thương, đứa con gái yêu quý của chị chết.

 

Chị tỉnh lại khi Thương đã nằm yên trong quan tài. Nét mặt bé thơ  thanh khiết tựa thiên đồng trông thật bình yên trong làn ánh sáng chập chờn của ngọn nến trên đầu. Từ chiều qua tới giờ chị không hề khóc. Và bây giờ  mắt chị cũng vẫn ráo hoảnh. Chị muốn gào thét lên nhưng không còn sức lực. Chị muốn đạp đổ, tung hê một cái gì đó nhưng chân tay chị hoàn toàn bải hoải rã rời. Thương của chị, đứa con gái bé bỏng tội nghiệp mà chị đã nghiêng người né tránh những lời dèm pha cay độc để Thương được làm người. “Cha con đâu hở mẹ?” Có mấy lần nó hỏi chị như vậy. Chị chưa dám thành thật trả lời con. Thương còn quá bé để có thể hiểu và cảm thông cho chị, để có thể đồng ý với số phận. Chị đành nói dối Thương rằng cha đã bỏ mẹ con mình, như chị đã nói thật với anh trai của nó.

 

Thỉnh thoảng, chị cho phép cha của Thương  đến thăm con, thời gian tối đa là mười lăm phút, vừa đủ để anh kịp vuốt mái tóc bom-bê đen nhánh dày mượt của con. Lần đầu tiên chứng kiến cảnh đó, chị xuýt khóc. Những lần sau, chị ra ngồi trước hiên nhà. Có những vết thương nhức nhối mà ta không nên chạm đến, có những cung bậc tình cảm nhói lòng mà ta  chỉ nên nhắm mắt, đưa tay chặn ngang lồng ngực. Phần chị chịu thiệt thòi đã quá đủ rồi. Một gia đình nữa tan vỡ mà làm chi?

 

Hôm đưa con ra nghĩa trang, chị hoàn toàn không còn chút ý thức nào của cõi thực. Mọi việc xong xuôi. Tất cả đều đã ra về. Chỉ còn mỗi mình chị ở lại với Thương. Khi trời sẫm tối, chị đứng dậy, thoáng thấy cha Thương từ xa, khuất sau gốc sứ tím.

 

Chuyện chị mang thai Thương là đề tài khá hấp dẫn cho một số người. Thương là con của ai? Một thời người ta xôn xao bàn tán, đoán non đoán già, cong môi nhọn mỏ. Chị đã li dị chồng. Chồng chị hoàn toàn không hề một lần ghé thăm mẹ con chị nữa. Vậy Thương là con của ai? Chị, một cô giáo tiểu học, không thể dạy lễ nghĩa đạo đức khi bị nghi vấn về đứa con đang mang trong bụng. Cô hiệu trưởng, cô trưởng phòng giáo dục, vừa trách móc vừa cảm thông, đành đưa quyết định chuyển chị đi xa. Tưởng được yên thân ở ngôi trường mới, nhưng chị vẫn bị miệng lưỡi thế gian bủa vây. Họ có vẻ khoái trá khi to nhỏ với nhau về chị. Họ thêm mắm muối hành tiêu ớt tỏi vào đời chị cho tăng phần khoái khẩu. Mấy ông nhậu xin xỉn còn vui miệng, con Thương giống tao cái mũi, giống mầy cặp mắt…

 

Con gái đã ra đi, mãi mãi. Con trai vào Sài Gòn học. Nhà chị vắng lạnh. Chị lấp khoảng trống bằng cách chăm chút bản thân mình. Đứng trước gương, thấy mình hãy còn xuân sắc, chị vui lên, tự tin hơn và quên đi phần nào những bất hạnh nhọc nhằn cùng cực. Vơi dần nỗi ám ảnh về sự cô đơn, sợ hãi.  Rồi dần dần chị lấy lại phong độ cũ, xinh xắn trong điều kiện tài chính cho phép, khiến nhiều  kẻ phát ghen. Không sao cả, ngoài một buổi lên lớp, chị đã nhận giữ trẻ. Chị đã làm tất cả những gì làm được để con trai vào đại học. Cứ mỗi chiều thứ Bảy, chị chờ đợi niềm vui ấm áp. Con trai từ ngoài chạy như bay vào. Mẹ con ôm nhau, rối rít như thể xa nhau hàng mấy năm dài! Ai bảo con trai ít biểu lộ tình cảm? Thế là đủ. Phải, quá đủ để chị quay đều, quay đều theo nhịp sống và luôn giữ một độ nghiêng cần thiết.

 

3.

 

Và cũng một buổi chiều, chiều 27 Tết, thằng con reo to ngoài ngõ:

 

– Mẹ ơi, con về đây này!

 

Chị chạy vù ra. Miên, chủ nhà trọ của con chị, nghiêng nghiêng mái tóc đã lấm tấm muối tiêu, cười hiền queo chào chị, ánh mắt hơi ngượng nghịu.  Con chị tươi roi rói, hớn hở:

 

– Mẹ ơi, con mời bác Miên về nhà mình ăn Tết cho vui, mẹ nhen! Bác ấy chỉ có một mình, tội nghiệp lắm.

 

Đặt túi xách xuống sàn, Miên nói nhỏ đủ chị nghe:

 

– Tôi sợ làm phiền cô nhưng cháu nhất định kéo tôi về. Nếu bất tiện, sáng mai tôi quay lại Sài gòn.

 

Bất tiện lắm chứ, xóm chị khối kẻ chân tay nhàn hạ, ưa ngồi lê đôi mách. Chị thở dài nhè nhẹ. Định nói, Anh chỉ nên ở chơi một lát rồi ra đón xe về Sài Gòn. Nhưng chị lại cười hiền lành:

 

– Đâu có sao anh. Cũng chỗ thân quen mà. Mời anh ở lại ăn Tết cùng chúng tôi cho vui.

 

Đành vậy, chứ nỡ lòng nào…

 

Miên cùng mẹ con chị dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa đón xuân. Hai bác cháu ra vườn chặt nhánh mai to nhất đẹp nhất cắm vào bình, chưng trước cửa.  Nàng xuân đang nhón gót hài bước vào căn nhà nhỏ mái tôn vách ván khó nghèo nhưng ấm cúng và rộn rã tiếng cười. Chị bỗng cảm thấy mình trẻ đẹp hơn, thêm yêu cuộc đời hơn. Gánh nặng lo toan dường nhẹ thênh. Chị đi chợ mua nếp, đậu xanh, thịt heo để gói bánh tét. Những đòn bánh Miên cột, chặt tay nhất, đẹp nhất.

 

4.

    

Đêm ba mươi êm đềm tĩnh lặng, bóng tối mịn mượt như nhung. Chị và Miên ngồi canh nồi bánh tét sau hiên nhà. Con chị đã ngủ từ lâu. (Thật ra trước đó nó đã thập thò chỗ cửa bếp, lỏn lẻn cười rồi vào giường đánh giấc.) Bếp lửa đỏ hồng tí tách reo vui. Miên say sưa nhìn sâu vào đôi mắt long lanh e thẹn mà anh biết vì ai.

 

Họ đã nói với nhau những chuyện gì? Có lẽ tôi không đủ hơi sức kể lể chi tiết ra, bởi những kẻ đang tìm hiểu nhau có biết bao chuyện để nói, nói mãi nói hoài cũng không chán: Chuyện mây bay trên trời, chuyện cỏ mọc dưới chân… Nào con kiến leo cành đa. Nào những những kỉ niệm của họ từ thời tám hoánh, những trò chơi trẻ thơ như trốn ngủ trưa để tạt lon trong cái nắng chang chang, hay trần truồng rượt bắt nhau dưới mưa… Thậm chí họ còn ngửa mặt đếm sao nữa kìa! Ối dào, hơi đâu mà để ý ba cái chuyện vớ va vớ vẩn của họ. Nghe họ nói thì chán chết đi được. Nhưng lúc kể tôi nghe, giọng chị say sưa trong hạnh phúc khiến tôi không nỡ lòng đứng dậy, thôi thì đành cho chị mượn lỗ tai.

 

Điều đáng kể là sáng hôm sau, đầu mày cuối mắt của họ đều bừng sáng. Chị cứ hát thầm thì: La la lá la. La la lá la. Nghe xuân sang thấy trong lòng mình chứa chan… Đôi uyên ương sánh vai nhịp nhàng thắm duyên… Dưới nắng xuân trông bướm hoa đang tỏ tình… Những bước chân của Miên thì hình như cứ nhịp nhàng theo nhịp điệu bài ca.

 

Người ta bảo rằng, đã hàng tỉ năm nay, Mẹ Đất không những sớm hôm tảo tần mưa nắng, can trường quay quanh mặt trời trên mặt phẳng Hoàng đạo, mà Mẹ còn phải vất vả nhọc nhằn nhẫn nại tự quay theo một trục nằm nghiêng khoảng hăm ba phẩy năm độ, để đem về cho bầy con yêu thương của mẹ bốn mùa xuân hạ thu đông, để sự sống đơm hoa kết trái. Và hôm nay, Mẹ Đất vừa biểu diễn xong một vũ khúc quay vòng, quay vòng. Dịu dàng uyển chuyển. Vũ khúc đẹp mê hồn trên cái sân khấu khổng lồ của vũ trụ bao la vô cùng vô tận, với thời gian 365 ngày vời vợi, cho các con của Mẹ được tận hưởng mùa xuân mơn mởn chồi non lộc biếc, nồng nàn tươi thắm sắc hoa, chim hót líu lo và bướm ong rập rờn.

 

– Trương thị Kim Chi

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.