Hôm nay,  

Biết rồi... khổ lắm...

29/01/202315:07:00(Xem: 4444)
Truyện

IMG_4697
Con gái của tôi, làm Registered Nurse trong một bệnh viện. Bữa đó, nó bước vào phòng thăm một bệnh nhân nam, cỡ tuổi gần 70, đang truyền đạm truyền nước vì gặp vấn đề tiêu hoá, đúng lúc bác ấy đang facetime nói chuyện với người ở nhà bằng Tiếng Việt. Nó sinh ra ở Canada, nhưng có khiếu Tiếng Việt, nghe và nói khá rành rẽ, chỉ có đọc và viết thì nó không biết. Hai bố con ông bệnh nhân nói qua nói lại những gì, nó nghe và hiểu hết. Người con gái hỏi bố:

 

– Ba thấy có gì khó chịu hay thắc mắc thì cứ hỏi “mấy con y tá” ở đó nghen ba, xứ này không phải bên Việt Nam, y tá hay bác sĩ gì đi nữa đều chiều chuộng bệnh nhân hết lòng với trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, ba đừng ngại gì hết á!

 

– Ba biết rồi, nhưng tiếng Anh của ba nửa nạc nửa mỡ, thậm chí mỡ còn nhiều hơn nạc, chả biết họ có hiểu không?

 

– Vậy “con y tá” phòng của ba là người già hay trẻ, người da trắng, da đen hay Châu Á mình?

 

– Ba cũng không biết vì cô ấy đeo khẩu trang kín mít, nhưng có vẻ còn trẻ…

 

– Thôi ba cho con nói chuyện với “con nhỏ y tá” xem sao!

 

Nó cầm phone, tưởng người con nói chuyện thay bố của mình vì ông bố khả năng English yếu kém, ai dè tiếng Anh của chị này cũng chẳng khá hơn là bao, phát âm sai tùm lum tè le, không đầu cũng không đuôi, nói chung là broken English mà nó thường nghe của các bà các bác người Việt lớn tuổi (trong đó có… má nó), nên nó thấy tội và đành để lộ “thân phận”:

 

– Dạ cô cứ nói Tiếng Việt, con hiểu được ạ!

 

– Dữ ác hôn! Sao nãy giờ hổng nói, làm cô mỏi cái miệng quá trời hà!

 

Hỏi han tình hình của bố xong xuôi, cô ấy bắt đầu mục… tám tám, em bao nhiêu tuổi, làm đây lâu chưa… Nó bèn lịch sự đáp rằng, trong giờ làm việc nên không nói nhiều được cô nhé, dạ bye bye, chúc cô một ngày an lành. Vừa dứt phone, nó quay sang bác bệnh nhân đang nhìn nó mỉm cười thân ái:

 

– Con nói Tiếng Việt giỏi ghê! Con có đi học lớp Việt Ngữ hả?

 

– Dạ không, chỉ là ba má con nói tiếng Việt ở nhà, con cũng có đi nhà thờ người Việt, dạy giáo lý, nên con cũng biết chút đỉnh.

 

Thế là bác ấy… có đà, rồi tiếp tục “sứ mệnh tám dang dở” của người con hồi nãy, bắt đầu chương trình điều tra lý lịch ba đời, nào là ba má con bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, hồi ở Việt Nam thì ở đâu, qua đây năm nào, vượt biên hay bảo lãnh… bla… bla… bla. Nó vừa làm việc vừa cố gắng trả lời ngắn gọn tất cả vì nể nang người lớn, chớ nó sanh ra bên Canada, chưa quen với việc “hỏi thăm kỹ càng” từ một người xa lạ, và cuối cùng thì cũng đến cái câu… quen thuộc của người Việt Nam:

 

– Con làm lương bao nhiêu dị?

 

– Dạ, đủ sống!

 

– Đủ sống là sao?

 

– Dạ, là không dư không thiếu!

 

– Nhưng cụ thể là bao nhiêu?

 

– Dạ đây là “bí mật” của con! (lẽ ra nói “riêng tư” nhưng nó không rành lắm, nên dùng chữ “bí mật”).

 

Nghe nó nói “bí mật” rồi mỉm cười tiếp tục làm việc, coi bộ khó điều tra được “số lương” của nó, bác ấy cũng hơi ngại, nên một lát sau, trước khi nó ra khỏi phòng, bác ấy chuộc lỗi bằng một câu chúc:

 

– Thôi, nhân dịp năm mới Quý Mão đã đến, bác theo phong tục của dân tộc mình khi gặp người mới quen, bác chúc con luôn thành công trong công việc, mọi sự như ý nhé!

 

Gì chớ chúc nhau bằng tiếng Việt thì nó rành từ bé (hồi đó mỗi lần Tết đi lễ nhà thờ, nó biết chúc Tết những người lớn tuổi trong giáo xứ bằng Tiếng Việt, ai cũng thích và tặng tiền lì xì), nó liền vui vẻ đáp lễ, chúc bác ấy một lời chúc rất thực tế:

 

– Con cám ơn bác, con chúc bác nhiều sức khoẻ, và mau rời khỏi bệnh viện.

 

Câu chúc này là thật lòng, nó sinh ra lớn lên xứ này, không biết móc mỉa gì đâu nhé!

 

Nhỏ em xóm cũ bên Việt Nam nghe tôi kể lại mẩu chuyện trên, nó góp chuyện:

 

– Té ra, dân Việt mình ở đâu cũng giống nhau chị hén? Không tò mò không… ăn cơm được hay sao á! Để em kể chị nghe, con gái em cũng mới lấy chồng, đi làm, mà bà hàng xóm bên cạnh cứ theo hỏi suốt: lương vợ chồng mày nhiêu? Dạ đủ sống! Đủ sống là sao? Dạ là đủ ăn, khi nào tăng ca thì mới dư chút đỉnh. Vậy tăng ca được nhiêu tiền? Dạ tuỳ tăng ca ngày thường hay cuối tuần! Ngày thường bao nhiêu cuối tuần bao nhiêu! Con gái em đành phải nói ra cho xong nợ: cuối tuần thì 500, ngày thường thì 200 (ngàn), vậy mà chưa thoát nghen chị. Vậy có thường xuyên tăng ca không? Dạ tuỳ mùa. Mùa này tăng ca nhiều không, tuần mấy lần …Con gái em mất hết kiên nhẫn, nổi đoá, tóm lại là bác muốn biết gì nói thẳng ra luôn đi !? Thì tại mày bảo “đủ sống” không rõ ràng nên tao phải hỏi tới, làm gì dữ vậy, quan tâm thôi mà, nếu mày nói ngay từ đầu thì đỡ mất thời giờ cả đôi bên!

 

– Trời đất! Vậy là bà tám đó dí con em vào đường hẻm cụt luôn hả?

 

– Thì đó! Bên nước ngoài thì người Việt cũng tò mò nhưng còn biết dừng lại như cái bác bệnh nhân của con gái chị, còn bên đây thì khỏi nói chị ơi, tò mò mới là cuộc sống! Không tò mò… hổng phải Dziệt Nam!

 

Hỏi thăm nhau, quan tâm lẫn nhau là phép lịch sự, là một nét đẹp truyền thống của người Việt chúng ta. Nhưng đôi khi, sự quan tâm quá mức cần thiết, không hợp người hợp cảnh, thì sự quan tâm sẽ trở nên …tò mò, làm cho người đối diện khó chịu, không tự nhiên.

 

Không biết người Mỹ người Canada thì sao, chớ dân Việt mình hễ biết ai là muốn biết đầy đủ ngọn ngành, gia đình bao nhiêu người, chồng con ra sao, mấy đứa con học hành như nào, lấy chồng lấy vợ ra sao, bên sui gia làm gì, bên đó có mấy người con, học hành tới đâu… Nói chung là bất tận cái vòng câu hỏi muôn đời không dứt.

 

Ngoài câu hỏi “phổ biến”: lương bao nhiêu, còn có vài câu hỏi khác, cũng rất ư là “quan tâm sâu sa” vào đời tư người khác. Đó là câu hỏi: “Có người yêu chưa, bao giờ cưới”. Chu choa ơi, gặp nhau một lần cũng hỏi, năm sau gặp lại nhau cũng hỏi lại y chang câu hỏi cũ, năm sau nữa cũng lại hỏi nữa, cứ làm như đời này không còn gì để hỏi.

 

Người ta lấy nhau rồi, thì có ngay câu hỏi tiếp theo: “bao giờ có baby”, năm nay hỏi, năm sau hỏi tiếp, năm sau nữa hỏi nữa, quẩn quanh mấy điệp khúc “quan tâm sâu sắc” quen thuộc ấy.

 

Thời đại ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau, nhiều người chọn lựa cuộc sống độc thân vui vẻ, và nhiều cặp vợ chồng, cũng vì nhiều lý do khác nhau, chọn lựa đời sống hôn nhân không con cái (no kidding). Do vậy, nếu không là những người ruột rà trong gia đình, thì đừng nên có những câu hỏi làm khó nhau như thế.

 

Giờ đây khi mùa dịch phai tàn, chúng ta trở lại cuộc sống bình thường như trước đây, được tụ tập tiệc tùng ăn uống. Nếu gặp ai đó (lâu quá chưa găp từ mùa dịch), tay mắt mặt mừng, bốn mắt nhìn nhau không có gì để nói, thì xin nói về thời tiết, nói về thức ăn, bâng quơ chuyện đó đây, rồi rủ nhau chạy ra dàn karaoke ngân nga vài bản nhạc, chớ đừng tỏ ra quan tâm bằng những câu hỏi “nhạy cảm” như vừa kể ở trên, vì có thể sẽ làm người khác không thoải mái, và biết đâu, lại chạm vào vết thương đau của người ta …

 

Yêu nhau như thế bằng mười ghét nhau!

 

– Kim Loan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.