Hôm nay,  

Xóm cũ thương yêu

01/06/202313:43:00(Xem: 4302)
Truyện

IMG_5623


1.

Cuối tuần rảnh, cú phonetalk hai chị em cỡ chừng… hai tiếng chớ nhiêu!
    Chị hơn tôi 8 tuổi, cùng trang lứa với mấy ông anh tôi, nhưng vì hai chị em đã có dịp đi vượt biên (hụt) với nhau một chuyến, có hơn một tuần lễ vi vu Miền Tây, ăn ngủ cùng nhau, tâm sự đủ điều. Nhất là đêm cuối cùng chờ tàu lớn ra khơi, cả hai thao thức suốt đêm, nghe cả tiếng lục bình vật vờ trôi sông, rồi kể nhau nghe “chuyện con tim”…
    Chúng tôi gặp lại nhau tại California năm 2015, vui mừng hết cỡ, và từ đó thỉnh thoảng phone để “tám”. Dù cách xa tuổi tác, nhưng có tình xóm cũ và phát hiện ra những điểm giống nhau, như không biết (và không thích) nấu ăn, không điệu đà thảo mai với áo quần giầy dép túi xách, không mê hột xoàn kim cương (mê dollars thì …có), nên nói chuyện chưa bao giờ cạn đề tài.
    Lần này “tám” chuyện xóm cũ. Chúng tôi lôi từng nhà ra “tám”, bắt đầu từ căn nhà đầu ngõ, lần lượt đến cuối xóm, không tha nhà nào! Rồi đến mục các “cây si” trong xóm của hai chị em, để cùng cười rộn rã “hồn nhiên như ...con điên”. Chúng tôi bảo nhau, sao hồi đó không cưới đại một chàng cây si nào đó trong xóm nhỉ.  Nhiều tiện lợi lắm nhé, nào là khỏi phải tìm hiểu gia đình nhà “hắn”, rồi đám cưới thì khách mời của hai họ đều là hàng xóm, rước dâu khỏi phải mướn dàn xe hơi vì chỉ cần …đi bộ, và đặc biệt là sau khi về nhà “hắn”, nếu có cãi nhau (hay guýnh lộn) thì xách va ly về nhà mình chỉ trong vòng một nốt nhạc!
    Câu chuyện theo tôi vào giấc ngủ mộng mị êm đềm. Không phải mơ thấy… đám cưới với chàng “cây si” hàng xóm, mà mơ thấy trở về xóm cũ, một buổi sáng bước ra chợ (chợ nhỏ xíu, đi ba phút đã về chốn cũ) để ăn quà: nào bún riêu bà Lập, bánh cuốn bà Xinh, bánh cam ngào đường bà Mộc hay chén xôi vò trộn chè bồ cốt của bà Cát … Rồi đến buổi trưa, lại ra chợ tìm nhà bà Bảy Cấn, lấy một bịch chè(táo xọn, hay chè đậu, chè khoai), dốc ngược bịch chè, cắn một lỗ nhỏ ngay góc bịch, rồi nặn món chè ngọt béo vào miệng mà nhâm nhi… Ôi, trên cả tuyệt vời!!!
    Tại sao lại không nhỉ, kiếp sau phải làm dâu… xóm mình thôi!!!
 
2.
Sau năm 1975, ngoài ông anh Hai đang đi dạy ngoài Cần Thơ, ba ông anh khác của tôi lần lượt vào Đại Học. Các bạn bè của các anh thường ghé nhà tôi cùng nhau học hành và đôi khi đàn ca trong dịp cuối tuần. Cho nên nhà tôi lúc nào cũng dập dìu “trai tài”, chỉ chờ “gái sắc” nữa là trọn vẹn đôi bề.
    Tôi mới học lớp 6–7, còn bé lắm, tính tình hơi tomboy, chỉ biết học và chơi, không biết điệu đà lại càng không quan tâm chuyện “trai gái”. Trong xóm, nhóm bạn hay chơi với tôi, có Linh là một cô gái đẹp, sớm dậy thì. Khi đa số chúng tôi còn mê mệt chơi nhảy dây, bắn bi, banh đũa, nhảy cò cò, thì Linh cũng có tham gia, nhưng lộ rõ bản tính thiếu nữ, ăn mặc fashion bắt mắt hơn chúng tôi. Gia đình của Linh thuộc loại “đẹp đều”, nó thừa hưởng nét đẹp sắc sảo của má nó, mấy đứa em nó dù trai hay gái cũng rất xinh đẹp, và cả mấy ông cậu bà dì của nó cũng đẹp hơn người thường!
    Trong đám “trai tài” của mấy ông anh tôi, có vài người đẹp trai nổi trội, có thể kể đến anh Tuấn. Anh là người gốc Đà Nẵng nhưng gia đình ở Hốc Môn. Vì đạp xe từ Hóc Môn lên Sài Gòn học khá xa, nên anh Tuấn thường túc trực ăn ngủ ở nhà tôi, thân thương như người trong nhà. Anh có dáng người cao, da hơi ngăm đen, mái tóc mềm, và nụ cười đẹp như tài tử xi nê.
Tối hôm đó, chúng tôi tụ tập chơi với nhau như thường lệ ngoài đầu xóm, Linh kéo tôi ra một góc tâm sự:
    – Nè, tao thích anh Tuấn lắm, không biết làm sao để ảnh để ý tao?
    Tôi nhìn nó cười cười:
    – Mày nhỏ hơn tao một tuổi, mà tao còn bị ảnh ký đầu như đứa con nít, thôi đừng mơ nữa mày ơi!
    Rồi tôi bỏ đi, chẳng buồn để ý cảm xúc của Linh ra sao, vì cứ nghĩ nó cũng ham chơi như mình, còn bao nhiêu cuộc vui với lũ bạn cùng xóm, thời giờ đâu mà quan tâm đến chuyện khác?
Vậy mà cỡ chừng vài tháng sau, một buổi tối Linh lại kéo tôi ra ngoài xóm để thầm thì với đôi mắt long lanh rạng rỡ đầy phấn chấn:
    – Ê, mày thấy tao lúc này có gì khác không?
    Tôi nhìn nó từ đầu đến chân:
    – Mày vẫn… đẹp, có thấy khác gì đâu nà!
    Linh phụng phịu:
    – Mày hãy nhìn kỹ vào phần ngực của tào nè: tao đã bắt đầu mặc áo ngực. Tao đã lớn rồi, là thiếu nữ rồi, và tao sẽ chinh phục anh Tuấn!
    Giờ thì tôi mới để ý cái áo nó mặc hôm đó đẹp hơn, và phần ngực nảy nở hơn vì có đệm cái áo ngực, trong khi lũ chúng tôi chưa hề biết “món trang sức” lạ lẫm đó. Đúng lúc ấy, anh tôi và anh Tuấn cùng vài người bạn đang tản bộ về xóm sau trận đá banh, người nào người nấy ướt đẫm mồ hôi, có người còn cởi cả áo thun chỉ còn chiếc quần đùi mà nhìn vẫn …phong độ. Linh và tôi dõi mắt nhìn theo, dáng anh Tuấn cao nhất nhóm, mái tóc mềm lay động theo bàn tay anh vuốt tóc sao mà dễ thương làm Linh say mê không chớp mắt. Rồi họ dừng lại tại quán chè đầu ngõ, chị chủ quán tên Lan xinh đẹp với đôi mắt đẹp hút hồn niềm nở đón mấy anh. Rồi tiếng cười đùa chọc phá nhau trong quán chè, nhất là chị Lan được ghép đôi với anh Tuấn thì e thẹn mắc cỡ, cười duyên khiến chị càng xinh đẹp hơn.
    Chứng kiến tất cả những điều đó, Linh xịu mặt bỏ đi chẳng thèm chào tôi một câu nào, nên tôi không nhìn được nó có khóc hay không, vì đó là một buổi tối cúp điện, và tôi cũng bước về nhà, bỗng thấy buồn, một nỗi buồn chỉ một mình tôi hiểu. Tôi tuy hơi tomboy, nhưng tôi đâu phải gỗ đá, mà không biết… thương anh Tuấn.
    Mãi sau này, khi cả gia đình và tôi đều rời khỏi Việt Nam, chị Hai tôi bên Texas đã gặp lại anh Tuấn. Khi chị ấy tiết lộ tình cảm thầm kín của tôi thuở ấy thì anh Tuấn thẫn thờ, xuýt xoa xin lỗi: “Trời, em đâu có ngờ, em cũng từng mơ được yêu cô bé nhưng ngại tuổi tác, nên không dám đụng đến em gái thằng bạn thân, và chỉ coi cô bé như cô em bé bỏng.” (Nói vậy mà nói được à, anh có nghe bài hát Tuổi 13 của Ngô Thuỵ Miên không đấy?!)
    Hôm nay ngồi viết lại câu chuyện này, tôi thấy nhớ câu thơ của Cung Trầm Tưởng rất đúng với mối tình si của Linh (và của tôi) dành cho anh Tuấn thuở ấy: “Hỡi anh, người xóm học, Sương thấm hè phố đêm, Trên con đường anh đi, Lệ em buồn vương vấn”.
    Hiện tại, sau những đổ vỡ tình duyên (hồng nhan bạc phận), Linh đang yên phận ở Florida với người chồng Mỹ trắng. Anh Tuấn, sau khi anh tôi đi vượt biên qua Thailand, anh cũng đi theo, sau đó qua Wichita Kansas học Kỹ Sư rồi làm cho Boeing cho đến nay, gia đình hạnh phúc và mới được lên chức “ông nội”. Nếu Linh và anh Tuấn có tình cờ gặp nhau trên xứ Mỹ chắc chắn sẽ không nhận ra nhau, và họ cũng chẳng ngờ, tôi, ở xứ tuyết Canada đang nhớ về họ, một phần kỷ niệm “tình tay ba” của Xóm Cũ yêu thương.
 
3. EM VỀ XÓM CŨ
 
Hôm nay em về thăm xóm cũ
Cho chị gửi theo chút kỷ niệm thôi
Dù biết hành lý em đã nặng rồi
(Thâm tình, ân nghĩa với người thân, bè bạn)
 
Chùa Vĩnh Quang nằm ở đầu ngõ hẹp
Sư cô Huyền giờ cũng đã già hơn?
Cây hoa Ngọc Lan còn toả mùi thơm
Như những chiều xưa chị dừng chân bước?
 
Còn đêm giao thừa vườn Chùa náo nức?
Nhộn nhịp khói nhang, người hái lộc đầu năm?
Tuổi đôi mươi, chị đứng đó bâng khuâng
Nghe xao xuyến cả trời xuân rực rỡ
 
Giáo xứ Đức Tin, ngôi giáo đường bé nhỏ
Xóm đạo hiền hoà ghi dấu tuổi mộng mơ
Thánh lễ cuối tuần, tiếng chuông nhà thờ
Bài thánh ca rót vào hồn êm ái
 
Giờ tan lễ, áo dài khoe sắc mới
Xóm mình có bao nhiêu chị đẹp xinh
Là bấy nhiêu gã trai trẻ …vô tình
“Phố vắng em rồi” mới ngẩn ngơ, tiếc nuối
 
Căn nhà của chị, đã thay mấy chủ mới?
Hàng rào trước sân, giàn hoa giấy còn không?
Thuở nao bốn mùa xuân hạ thu đông
Là mái ấm gia đình, là một thời tuổi trẻ
 
Nắng có vàng trên con đường Đất Đỏ
Dẫn đến Mộng Thành, Xóm Thuốc, Xóm Mô?
Nơi ấy chị có một lũ học trò
Giờ chúng đã là những chàng trai, thiếu nữ
 
Chợ Đồng Tâm còn rộn ràng khắp ngõ
Bánh cuốn, bún riêu, (và nhiều món chị đã quen)
Nếu mưa có rơi, bong bóng bập bềnh
Em hãy chờ tiếng rao bánh mì quen thuộc
 
Chị nhớ lắm, xóm lên đèn, chiều vào tối
Là một ngày bận rộn vừa đi qua
Chị ngôi bên cửa số trước hiên nhà
Tìm những vần thơ viễn vông, lãng mạn
 
Cho chàng sinh viên miền Trung siêng học
Vào Sài Gòn tìm tươi sáng ngày sau
Trang giáo án chị dở dang (vì câu thơ đến mau!)
Đêm yên bình, vấn vương nụ cười răng khểnh
 
Còn nhiều em ơi, nhưng chị không nhắc nữa
Dòng đời bể dâu, cảnh vật cũng đổi thay
“Người muôn năm cũ” phiêu bạt đó đây
Kỷ niệm xưa chỉ còn là quá khứ
 
Chị em mình trôi theo dòng viễn xứ
Một chốn quê nhà vẫn giữ trong tim
Dẫu không về, chị cũng vẫn đi tìm
Trong giấc mộng, Xóm Cũ một đời yêu dấu!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Tháng 5/2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.