Hôm nay,  

Hoàng hôn còn sót lại

26/09/202308:45:00(Xem: 3900)
Truyện

altar
Ông ta dí một xấp bạc trước mặt mẹ, hai hàm răng nghiến chặt, lăm lăm con dao nhọn hoắc:
    – Đếm xem có đủ cho cô xài không… Nếu thấy đủ rồi thì từ đây hãy ở nhà đi, tôi không muốn tôi bị truy ra tung tích từ cô! Cô thật là cái nợ lớn cho tôi đó, biến đi! Bỏ tất cả mọi công việc ba xu đi! Còn không hiểu nữa sao mà ngước cặp mắt giả nai lên nhìn nữa! Từ giờ trở đi nếu chúng nó lùng ra tôi, cô và con bé sẽ đừng trách tôi! Thật phiền quá!
    – Khoan!... Anh à… Anh...
    Ông ta hất mẹ té xuống đất, phóng người ra khỏi nhà bằng ngả sau, nhìn trước nhìn sau rồi biến mất. Mẹ không sao thốt nổi nửa lời, hàng nước mắt long lanh, quẹt nhanh. Vội vàng run rẩy quơ hết đống bạc trên bàn cho vào một cái túi nhỏ giấu dưới đáy tủ, sợ lỡ có ai nhìn thấy thì lại mắc họa vào thân. Tôi ghì cái mền vào lòng, cắn chặt đôi môi cho khỏi bật khóc thành tiếng, hi hí mắt giả ngủ, nằm yên, thầm khẩn cầu Trời Phật cho ông ta biến mất khỏi cuộc đời khốn khổ của mẹ con tôi.
    Tôi thù ông ta! Phải! Chỉ mới gần 8 tuổi thôi, mà tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung, là ông ấy! Đặc biệt vết sẹo dài vắt ngang chân mày trái làm ông ta giống như phù thủy, chiếc miệng không ngớt mắng chửi, đánh đập tôi khi ông về thăm nhà.
    Tôi không hiểu sao ông ta có thể là cha ruột của tôi!
    Ông đưa tiền cho mẹ một mà nạo tiền mẹ đến mười, nếu mẹ không cất giấu những đồng tiền ấy đi thì sau này ông ta hỏi mà không có thì mẹ sẽ phải bị hành hạ đến chết. Mẹ một mình nuôi tôi bằng đồng lương kham khổ, làm cô giáo cấp một, và may thêm buổi tối ở nhà. Những người đến đặt hàng may của mẹ, ai cũng hỏi tôi về cha, tại sao cha không bao giờ có mặt ở nhà. Những lúc như thế tôi lại úp mặt vào lòng mẹ, cảm thấy vừa tủi thân, vừa thù hận người đã mang danh hiệu CHA mà không tròn bổn phận với mẹ và tôi.
    Mặc dù tuổi còn bé tôi vẫn biết mẹ phải chịu đựng biết bao khổ sở cực nhọc vì miệng đời, xã hội còn lạc hậu, nề nếp phong kiến xưa, và vì sự tồn tại của tôi, đứa con không mong muốn. Tôi không khóc như mẹ, nhưng lì và thù hận ăn sâu trong tim óc non nớt của tôi, tôi nhất quyết phải làm một điều gì đó để cứu cuộc đời cực nhọc của mẹ ra khỏi cái hang hùm ấy.
    Một hôm ông ta về nhà trong lúc tôi đang ngồi trước cửa chơi con búp bê bùn xình bẩn thỉu mà mẹ đã lượm từ đống rác cách nhà mấy mươi bước khi đi dậy học về, ông kéo tôi xềnh xệch vào nhà:
    – Đi tắm và lấy bộ đồ mới mặc vào!
    – Đi đâu hả cha?
    – Mày có quyền lên tiếng hả?
    Chưa nói hết câu, ông đã sán lại tát lên má tôi một cái thật đau điếng mà tưởng chừng thấy ngàn ngôi sao quay vòng vòng trên đầu. Té thụp xuống đất, tôi thút thít và biết là ông sẽ làm hại tôi:
    – Con chờ mẹ về rồi mới đi.
    – Mày còn trả treo hả! Đi ngay với tao! Tao không phải là cha mày sao?
    Tôi lấy hết sức bình sinh và tất cả can đảm, hét lên:
    – Không! O8ng không phải cha tôi! Ông là người ác độc, ông là…
    Bốp! bốp!
    Ông ta táng vào đầu tôi, túm tóc vặn ngược ra đàng sau, hai con mắt đỏ ngầu, cả người ông tỏa ra mùi rượu nồng nặc, ông lết tôi ngược ra sau nhà, hai cánh tay tôi níu ngược lại sau đầu, nương cho mái tóc như sắp lìa khỏi da đầu, hai chân tôi cào cấu cố bám víu lấy những vật cản trong nhà, nhưng vô ích. Ra đến sau bếp, ông mở nắp lu nước đầy 2/3, ông bế xốc tôi lên bỏ vào đó một cách gọn lỏn không do dự. Cái nóng đau rát cùng mồ hôi đổ túa ra đầu cổ từ nãy giờ, gặp lu nước lạnh mát bất thình lình, nhiệt độ trong cơ thể tôi tụt nhanh bất ngờ, tôi hoàn toàn mất tri giác, toàn thân mềm nhũn. May là ngay lúc ông vừa bước ra khỏi bếp, thì mẹ tôi về đến nhà. Điều đầu tiên bà làm là vô bếp múc nước rửa tay chân rồi mới bắt đầu làm bếp. Khi mở nắp lu nước ra thấy tôi nằm gọn lỏn trong đó, nước lên ngập đầu, tưởng là đã chết, mẹ hết sức bình sinh lật đổ cái lu, vỡ toang tành, tay chân mẹ bị mảnh sành của lu cứa đến trầy rất nhiều vết thương nhỏ máu, và bế xốc tôi sang nhà hàng xóm cứu cấp.
    Từ đó tôi và mẹ theo nhau bén gót, mẹ không dám hở tôi ra, sợ ông ta sẽ giết hoặc hại đến tôi.
   
***
 
Ông bà ngoại chỉ có mỗi mình mẹ là con gái duy nhất ở Cao Lãnh, gia đình khá giả nên mẹ được đi học đàng hoàng cho đến hết lớp 12. Một vụ pháo kích bất ngờ của Việt Cộng vào nhà dân khoảng 1973 đã làm cả xóm sụp đổ hoang tàn, bao người chết chóc, trong đó có ông bà ngoại! Mẹ được những người dân xung quanh vực dậy, di tản lên Sài Gòn. Mẹ chỉ biết hớt hơ hớt hải chạy theo đoàn người, với hai bàn tay trắng, tâm hồn rạn nứt, trái tim đã chết theo cái chết oan khiêng của ông bà ngoại dưới đống đổ nát của nhà cửa làng mạc.
    Ở Saigon, chính phủ có xây một nơi tập trung khá rộng bằng mái tole cho những người chạy giặc từ quê lên tạm trú. Nơi đây mẹ một thân một mình, không người thân mà chỉ có những người cùng quê làng mà thôi. Mẹ phải bươn chải, phải tự tìm việc làm thêm để nuôi bản thân mình; còn những người khác ít học thì đi bán vé số, lượm ve chai, gánh hàng đi bán… May là mẹ đã có một số vốn kiến thức thời trung học và ngoại ngữ loại khá, nên làm cô giáo dậy toán và ngoại ngữ cho các em nhỏ ở Saigon.
    Một buổi chiều đi dậy về tối, một đám côn đồ ra chận đường, mẹ hốt hoảng không biết phải làm sao với ba bốn tên mặt mày hung dữ, mẹ chả có tiền bạc gì cho chúng cả, mẹ quỳ xuống van xin chúng đừng động tới mẹ, nhưng chúng chỉ cười hung ác, nhào vô cấu xé mẹ. Mẹ sợ đến ngất lịm trên nền đất bùn xình với bóng đêm ngày càng dầy đặc như để che đi cái dã man tàn ác của bọn côn đồ.
    Khi chiếc áo nhỏ của mẹ vừa bứt ra khỏi người, tiếng cười man rợ của bọn ma cô vang lên thì ngay lúc ấy mẹ thấy một bóng người lao vút vào, con dao nhọn múa soạt soạt kinh hồn. Cả đám nhào vào đánh một người. Người « anh hùng » cứu mẹ bị một vết thương ở mặt, máu ồ ạt tuôn ra, ông ta vẫn không cảm thấy đau mà cúi người xuống vác mẹ trên vai băng băng chạy thật mau vào những ngõ tối mà cả bọn lưu manh không biết đường đuổi theo.
    Theo lời mẹ kể sau ngày ấy, mẹ ở với hắn. Hắn cũng chả yêu thương gì mẹ mà chỉ dùng mẹ như một công cụ kiếm tiền của hắn, một người phục vụ cho hắn. Đã bao lần mẹ muốn trốn đi nhưng không biết phải đi đâu, sợ ở cái đất Saigon rộng lớn này mẹ lại bị hại nữa; mẹ như một con cừu non chưa ra đời, không biết phương hướng giữa bầy sói hoang, thà ở lại với tên lưu manh, phục vụ cho hắn còn hơn!
    Thời gian trôi qua, hắn biết mẹ là người con gái đàng hoàng, trinh trắng, hắn là người đàn ông may mắn đầu tiên trong đời mẹ, nên hắn bớt hằn học và tin tưởng giao tiền cho mẹ giữ. Hắn không biết nói chuyện nhã nhặn mà chỉ biết la mắng, uống rượu, thô lỗ. Cả đời sống bên cạnh mẹ, nhưng chưa bao giờ hắn có lời nói nhẹ nhàng hay cử chỉ yêu thương với mẹ cả! Trên trán hắn có một vết sẹo dài, vết sẹo do lần đánh nhau với bọn lưu manh để cứu mạng mẹ, mỗi lần nhìn thấy vết sẹo ấy, mẹ lại không đành lòng rời xa hắn vì theo mẹ hắn là ân nhân cứu mạng mẹ.
    Rồi mẹ mang bầu tôi, hắn đã đánh mẹ một trận nhừ tử, muốn mẹ bỏ cái thai, hắn không muốn có trách nhiệm với con cái, cũng như không muốn nghe tiếng khóc trẻ thơ. Mẹ van xin hắn cho mẹ giữ lại đứa con vô tội trong bụng, mẹ hứa với hắn sẽ không để cho đứa trẻ bật lên tiếng khóc!
    Ngày mẹ đi sanh tôi chỉ một thân một mình, khi bế tôi về mẹ cũng cố gắng nuôi tôi bằng dòng sữa mẹ ít ỏi của người. Tôi là một đứa con gái ngoan ngoãn biết nghe lời mẹ từ khi còn trong bụng, sợ mẹ bị đòn đau nên tôi chả bao giờ khóc cho dù nhiều lúc tè đầy tã, ướt cả lưng mà tôi vẫn cứ nằm yên chơi với ngón tay, bàn chân mình và chờ mẹ rảnh mới đến lau chùi cho. Tôi lớn lên bên cạnh mẹ, chỉ biết một mình mẹ, chưa bao giờ được cái hôn hay vòng tay ôm của cha. Hắn đi suốt mấy ngày liền là những ngày tôi và mẹ thật hạnh phúc bên nhau, chúng tôi cười đùa, mẹ dậy tôi học những chữ cái, dậy tôi đếm. Khi nghe bên ngoài cánh cửa lách cách mở là mẹ và tôi thật im lặng, tôi sợ đến nỗi phải chui xuống gầm giường để trốn hắn!
    Hắn rất ít khi nào thấy mặt tôi, trừ một hôm hắn về nhà vào nửa đêm khi tôi và mẹ đang say trong giấc ngủ. Hắn nhìn vào trong giường qua chiếc màn mỏng, tôi nằm co quắp bên cạnh mẹ. Thấy lạ, hắn vén màn vào trong sát mặt nhìn tôi rồi ra vẻ hài lòng. Đó là lần đầu tiên mẹ nói hắn có vẻ hài lòng khi thấy tôi. Nhưng tôi vẫn tránh hắn, im lặng và tự bảo vệ mình như con chim nhỏ sống bên cạnh con mãnh thú.
    Dòng đời vẫn cứ tuôn chảy, cho đến khi miền Nam bị đổi chủ, ai ai cũng bỏ nhà bỏ cửa chạy hết ra bến tàu, hy sinh thí mạng với biển cả. Cha tôi nhân cơ hội đó vơ vét của cải của những gia đình giàu có, ăn cắp tư trang trong sự sơ hở của người dân Sai Gòn rồi đem của cải đó về cho mẹ tôi giữ để bán dần đi tiêu xài.
    Mẹ tôi khuyên lơn bao nhiêu cũng bị hắn đánh cho vài bạt tai và không muốn nghe lời khuyên của mẹ. Hắn cứ tiếp tục ăn cắp, ăn cướp đến nỗi tên tuổi của hắn bị công an ở chế độ mới truy lùng. Hắn không dám về nhà thường xuyên nữa. Mà thỉnh thoảng hắn lại xuất hiện khi thì trong bếp, lúc thì ở phòng tắm, ẩn ẩn hiện hiện rồi lại biến. Lúc ấy tôi đã lớn gần 8 tuổi, tôi chỉ cầu mong cho hắn bị bắt, bị ở tù mọt gông, tôi cầu nguyện cho hắn sẽ biết mất trên cõi đời này để đừng hành hạ mẹ con tôi nữa.
 
***
 
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ bên ngoài, chỉ mới ba giờ sáng! Giọng nói khe khẽ vọng vào:
    – Tràm ơi, Mùi đây! Mở cửa đi!
    Mẹ ngồi bật dậy, bỏ cánh tay của tôi đang vắt ngang bụng mẹ sang một bên. Tôi lại giả ngủ, lắng nghe. Dì Mùi là người bạn thân nhất của mẹ ở đất Sài Gòn này, hồi xưa cả hai cùng đi học tiểu học, trung học ở Cao Lãnh, hai người gặp lại khi mẹ dọn đến đây ở, Dì Mùi xinh đẹp nhưng vẫn thua sắc đẹp kín đáo, trầm lắng của mẹ.
    Dì Mùi và mẹ thầm thì:
    – Tràm!... Ngày mai nghe, nhớ đó … theo tụi tui thì mình mới sống sót làm lại cuộc đời, chứ sống kiểu này tui không yên tâm thấy con nhỏ cứ bị nay bầm cái vai, mai tím cái mặt… lỡ sau này lớn lên… “ nó” cũng không tha cho con gái nó nữa thì sao? tui không tin được hắn!... Đi cho hai đứa nhỏ có bạn!
    – Thiệt ra mình cũng muốn lắm, nhưng sao tôi lo quá! Thật khó tính hết sức.
    – Bà chỉ có thể chọn, hoặc ở riết đây, hoặc đổi đời. Tui cho bà một đêm nay nữa thôi. Tội nghiệp con nhỏ, bà nhìn nó có được tương lai nếu chôn chân ở đây không? Suy nghĩ đi.
    Dì Mùi nói nhanh rồi bỏ về, mẹ thao thức cả đêm, thở ngắn, thở dài, cuối cùng mẹ chỉ đem một chiếc túi nhỏ quần áo và một chút tro trên bàn thờ của ông bà được xẻ vào hai chiếc túi nylon nhỏ chống nước và bọc thêm túi vải bên ngoài. Thương mẹ quá, đây là sự quyết định thật táo bạo và liên quan đến cả tương lai cuộc sống của hai mẹ con, mẹ làm sao suy nghĩ nổi chỉ trong đêm nay?! Tôi lại cắn chặt chiếc mền, giấu tiếng nấc!!
    Sau đó mẹ đứng trước bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, có lẽ đây là lần cuối, mẹ khấn thật lâu, lâu đến nỗi tôi ngủ thiếp đi.
 
***
 
Thoáng chốc hai mươi năm trên đất Mỹ thanh bình như những giọt mật hạnh phúc mà mẹ con chúng tôi đang khát khao tận hưởng. Tôi đã thật sự trưởng thành, ra trường và làm luật sư cho một văn phòng  ở Connecticut. Mẹ chỉ còn làm bán thời gian nên có thì giờ nghỉ ngơi và đọc sách báo, không những thế mẹ còn sáng tác văn thơ đóng góp cho các báo Việt trên thế giới mà mẹ tìm thấy website trên net.
    Một hôm, lưỡng lự mẹ nói:
    – Nếu… vì bất đắc dĩ gặp lại cha thì con có muốn… không?
    – Không! Dù có tận thế con cũng không muốn nhìn lại ông ta nữa. Con không thể nào quên được, xin mẹ đừng hỏi con điều này.
    Ánh mắt mẹ nhìn tôi sâu lắng:
    – Con gái! Hãy bỏ qua tất cả… Dù sao cũng là cha con.
    – Nhưng ông ta không muốn có con trên đời này mà!
    – Con người sẽ thay đổi ý nghĩ khi ở một hoàn cảnh khác, hãy vì mẹ con nhé!
    Dì Dượng Mùi vẫn ghé thăm chúng tôi với Đan, con trai của vợ chồng dì, hơn tôi 3 tuổi, anh vừa xong bằng bác sĩ; chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ bên nhà, anh không những là người anh, mà còn là một người bạn tri âm tri kỷ thật hiếm có. Anh mới được nhận việc ở một nhà thương lớn.
Tôi chịu đựng chai lì từ thuở bé bao nhiêu, thì Đan có một tuổi thơ tuy nghèo nhưng thật trọn vẹn trong tình yêu chan chứa của bố mẹ, trưởng thành với một trái tim sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ chăm sóc người bệnh thật nhiệt tình!
    Anh điện thoại, năn nỉ tôi:
    – Dỹ Lan, Em… giúp anh đóng vai con gái của bác trai này nhé, bác bị bệnh thật nặng, chắc sẽ không qua khỏi trong nay mai… nguyện vọng của bác chỉ muốn được nắm tay con gái của bác lần cuối!
    – Em có phải là con gái bác đâu!
    – Anh biết. Người nhà của bác ấy có đăng tin từ mấy tháng nay trên khắp các mặt báo, mà vẫn không tìm ra thân nhân… Anh muốn làm một điều gì đó giúp bác trước khi ra đi, nên nghĩ đến em.
    – Đúng là anh có trái tim nhân hậu của một bác sĩ quá đó!
    – Không phải đâu, anh thấy bác lạ lắm, bác có một câu chuyện đời thật đau lòng, bác muốn tạ tội cùng người con gái của bác! Anh không nỡ không giúp. Bác nói sẽ mãn nguyện nhắm mắt nếu thấy được người con gái ấy.
    – Hừm… Thôi được rồi, em sẽ đến giúp anh.
    – Cám ơn em, mình hẹn chút nữa nhe, yêu em!
    Đan lúc nào cũng thế! Cuộc đời đối với chàng là những trang cổ tích màu hồng, ở bên chàng ai cũng cảm thấy được yêu thương bảo bọc, cả đối với bệnh nhân, chàng cũng muốn làm kỳ tích cho họ! Tôi yêu chàng chắc cũng vì điểm đặc biệt này! Chẳng bao lâu chiếc xe tôi đã đậu ngay trước bệnh viện chàng làm việc. Chàng chờ tôi bên ngoài với chiếc blouse trắng, dưới ánh nắng xuân đong đưa của tàn cây phong, nụ cười tươi nở trên môi, trông chàng thật trong sáng và đẹp; chàng hôn nhẹ lên trán tôi:
    – Cám ơn em đã đến! Em nhớ đóng cho nhập vai nhé, trấn tĩnh bác để giúp bác ra đi nhẹ nhàng.
    Tôi thấy trong ánh mắt chàng, niềm lo lắng và tận tụy vì người bệnh khiến lòng tôi cũng nặng ưu tư; tôi gật đầu, hứa sẽ làm với tất cả trái tim để giúp người sắp lìa đời. Chúng tôi vừa bước vào, cả gia đình người bệnh giạt ra hai bên, một người đàn ông gầy yếu, nhỏ bé xanh xao nằm quắp lại, hai mắt nhắm nghiền, miệng há ra, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Tôi tiến đến, lòng xao động, cầm tay bác và vén những làn tóc đượm mồ hôi trên trán sang một bên, nhìn kỹ khuôn mặt. Vết sẹo! Vết sẹo dài trên chân mày trái hiện rõ nét.
    Vết sẹo! Trái tim như ngừng đập, tôi nghẹt thở. Tay chân bủn rủn.
    Tôi bật dậy, quay đầu bước ra, Đan chặn tôi lại:
    – Em có sao không? Sao mặt xanh vậy?
    – Không! Không! Đây không phải sự thật! Tôi… không muốn giúp người này đâu! Không! Không…
    Cả trái tim nhức buốt. Cả tuổi thơ khủng khiếp hiện về.
    Kẻ thù duy nhất của tôi đang nằm trước mặt tôi, thoi thóp! Chả lẽ nào lại là ông ta sao?! Người đã tàn nhẫn đầy đọa mẹ tôi cả nửa đời người, nhẫn tâm giết chết cả tuổi thơ của con gái ông ta. Tôi đã thề với lòng sẽ không nhìn lại ông ta nữa mà.
    Tôi bật dậy muốn chạy ra khỏi phòng. Lời mẹ bên tai, hãy bỏ qua lòng thù hận. Tôi muốn chạy thật xa khỏi đây.
    Nhưng, ông ta đang hấp hối.
    Tôi không nỡ, quay lại! lòng trắc ẩn.
    Ngồi xuống bên giường, khuôn mặt ông lúc này quằn quại nhăn nhó đau đớn, không còn sức rên rỉ nữa, như đang bị trừng phạt, trả nghiệp; tôi nắm lấy bàn tay chai đá, hằn những lằn gân xanh, vuốt trán, mỗi cái chạm vào da thịt ông, tôi thấy cả dòng máu hồi sinh đang chảy trong tôi, một huyết thống thật thân yêu khó tả vào giờ phút cuối của đời người, thật chan chứa không sao kể xiết.
Tôi cúi xuống, lần đầu tiên tôi hôn lên tay, hôn lên trán ông một cách thật trìu mến, chân thành như chính con gái ruột nhận lại người cha lâu đời của mình vậy!
    Tất cả sự thù hận chất chứa trong tim từ bao năm nay bỗng tan chảy thành hai dòng lệ nóng hổi, dồn dập tuôn tràn:
    – Cha ơi! Cha… Đừng bỏ con!
    Người bệnh bỗng mở mắt ra! Nhìn sững tôi! Thật lâu. Nhìn đến nỗi tôi tưởng như hàng thế kỷ.   Cuối cùng, ông ôm chặt tôi, níu vào lòng:
    – Ôi con gái… con gái của tôi đây rồi. Cám ơn Trời Phật! Hãy tha lỗi cho cha con gái nhé! Tha lỗi cho cha! Cha thật đáng chết! Thật… đáng chết!
    Bóng mẹ gục đầu sụt sùi bên ngoài cửa…
    Thì ra chính mẹ đã nhờ Đan chuyển lời đến tôi, để giải tỏa mọi khúc mắc u buồn trong tôi và người đàn ông mà tôi gọi bằng CHA.
 

– –  Sỏi Ngọc

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.