Hôm nay,  

Âm Dương khó giải

31/10/202314:28:00(Xem: 2925)
Halloween, truyện...

sad man

Tôi lớn lên từ khu xóm gần hồ Tịnh Tâm. Trong xóm tôi ở toàn các ông Giáo, ông Trợ, ông Phán, ông Nghè, ông Thông được ghép tên thật phía sau, và người ta thường gọi như thầy Trợ Hiếu, bác Phán Quỳnh, v.v... Tôi xin kể về gia đình bà Thông Hợp và gia đình thầy Giáo Mạnh.
 
Chuyện thứ nhất
 
Cách đây hơn 50 năm về trước, nhà tôi ở đối diện với khu biệt thự kín cổng cao tường, có cây vú sữa rậm rạp um tùm phủ ngay cổng vào. Bà Thông Hợp phân chia rất nhiều ngôi nhà trong khuôn viên, dành cho các con lập gia đình sinh sống. Người con trai trưởng tên Hùng có vợ bốn con ở căn nhà cao, cửa sổ nhìn qua nhà tôi. Trông anh ốm yếu, nước da xanh mét, trên người luôn có vết bầm tím. Anh ít tiếp xúc với ai. Trước anh có đi dạy tiểu học nhưng sau bệnh hoạn triền miên nên ở nhà, vợ anh làm y tá.
    Mỗi đêm thỉnh thoảng vọng qua nhà tôi tiếng anh Hùng “tao cũng sẽ giết mi’, rồi nghe có tiếng như ai đấm đá nhau. Sáng ra người ta để ý mặt mày anh sưng vù, tình trạng như vậy hoài nên ai cũng quen mắt nghĩ anh bị bệnh tâm thần. Một lần mẹ tôi sai đem qua chị vợ chai nước mắm, đi ngang phòng giữa tôi thấy anh ngồi nói một mình. Tôi tò mò hỏi, “Không có ai sao anh nói chuyện vậy?” Chị buồn rầu, “Tối ngày cứ vậy hoài đó, bệnh chẳng thuyên giảm tý mô, chị mệt mỏi lắm”.
    Thế rồi mùa học thi gạo bài, hồi đó các anh lớn rủ nhau học dưới cột đèn ngoài đường. Đêm nào anh cả tôi cũng ngồi dưới cột đèn miệt mài ôn luyện. Bỗng một đêm vào khoảng hai, ba giờ sáng, anh chạy thình thịch vào bật đèn sáng thức cả nhà dậy. Anh hổn hển kể, “Con đang học, tình cờ ngẩng đầu lên thấy một người con gái tóc ngang lưng mặc bộ trắng toát đi vào ngõ nhà bà Thông Hợp, tưởng mình hoa mắt nhìn kỹ lại rất rõ ràng là cô gái đang đi, rồi nhìn theo xem cô đi tới đâu nhưng sau đó không thấy nữa, người lạnh xương sống chạy lẹ vào đây.”
    Từ đó anh không dám ra cột đèn nữa, mà mẹ tôi cũng cấm đoán các con khi trời chạng vạng không được bước ra đường nữa. Lúc vợ anh Hùng qua nhà mua sữa, đường, mẹ tôi kể nhỏ cho chị nghe. Chị rất mến mẹ tôi nên dặn giữ kín chuyện, rồi kể rằng: Hồi thanh niên anh Hùng có quen cô bạn học, hai người thương nhau nhưng bị bà Thông Hợp chê không được môn đăng hộ đối, nhất định không chấp nhận, sau cô kia thắt cổ tử tự chỉ mới mười bảy tuổi, và từ đó anh Hùng cũng bị bệnh ma vương không chữa trị được.
 
Chuyện thứ hai
 
Nhà tôi có bậc thềm xi măng rộng được che bóng mát rậm của cây nhãn. Mỗi trưa hè các bác trong xóm thường qua ngồi hóng gió và “tám” chuyện. Lúc nhỏ tôi có tật hay bung búi tóc của mẹ ra vọc và bắt chí, nên nghe được chuyện O Hương (em thầy Giáo Mạnh) cất căn nhà nhỏ trong vườn nhà anh.
    Con trai đầu O Hương học sư phạm Quy Nhơn quen cô nào trong đó, có đứa con trai bồng về ra mắt Nội. O giận lắm vì lỡ hứa kết sui gia với bạn, O không chấp nhận. Con trai O thuê nhà sau bờ thành hồ Tịnh Tâm cho mẹ con ở tạm, chờ tình hình giải quyết. Không ngờ O giận lẫy nghiêm khắc không nhìn mặt. Cô kia một đêm nọ dại dột cắt tay lấy máu viết lá thư tuyệt mạng, rồi bồng con đến cầu Bạch Hổ nhảy xuống sông tự vẫn, trong lúc cầu mới xây xong sắp khánh thành. O Hương hối hận lặng lẽ đến đem xác hai mẹ con về chôn, nhưng bị người ta chửi rủa quá, nên gia đình O dọn vào Nam sinh sống.
    Ngôi nhà hương hỏa thờ tự của thầy giáo Mạnh có khu vườn rất rộng, chính O Hương đã xây ngôi nhà nhỏ bên góc. Vợ thầy rất thân với mẹ tôi, thường qua lại, rủ nhau xem cải lương đoàn Kim Chung hát, xem xi-nê phim Tàu “Hồn Bướm Mơ Tiên”. Năm 1971 một hôm bác bị bệnh cảm cúm, sợ lây bệnh cho con nên muốn nằm ngủ ngôi nhà sau. Tự dưng nửa đêm anh Ngọc (con đầu) đang nằm ngủ chợt thức giấc thấy vạt lửa đỏ vụt qua khung cửa kính. Anh vùng dậy la làng tung cửa chạy theo dập lửa, bác gái chạy thật nhanh ra cổng, thì loạng choạng té xuống hố có vũng nước sau cơn mưa. Cả nhà thức dậy phụ bế bác gái vào đặt trên giường và gọi xe cấp cứu của bệnh viện. Trong lúc chờ đợi tiếng bác gái kêu gào hét lớn vang rõ trong đêm khuya, “Nói Ngọc đừng ra ngoài, công an đang ngồi trên nóc nhà rình bắt đó, Ngọc ơi không được ra ngoài.” Chỉ một câu đó bác gái lặp đi lặp lại, cả xóm không ai ngủ được vì tiếng thét hãi hùng, mẹ tôi mấy lần định chạy qua vì nóng ruột, nhưng anh tôi không cho sợ Nhân Dân Tự Vệ đang gác ngoài đường bắn lộn. Gần sáng xe cứu thương mới đến chở đi. Khoảng trưa xe chở xác về nhà, trên nệm những tấm da rớt lại từng mảng, mặt bác đen thui. Bác mất rồi thỉnh thoảng anh Ngọc chạy qua nhà tôi gọi mấy chị về, và đứng kể, “Tụi bây biết răng không? Tao bị ai xô xuống hố giống mạ lúc bị té rứa đó, hay là mạ xô không biết”. Anh vừa kể vừa giơ tay chỉ mấy vết bùn dính áo trước sau, ai cũng sợ hãi im lặng hoang mang.
    Hai năm sau, một buổi sáng tôi còn nhớ rõ đang đi tới cổng nhà anh, xe bệnh viện đậu ở trước, thấy anh vừa đi vừa xoa bụng cười trả lời hàng xóm, “Đau bụng đi cầu nhiều lần chú ơi, qua bệnh viện khám thử xem”. Ai ngờ chỉ qua một đêm ngày mai xác anh được chở về (không biết có chính xác mà người thân nghi bị chích lộn thuốc). Trong khi thầy giáo Mạnh lại đi chơi xa trước đó một ngày. Thầy đi chẳng cho con cái biết tới đâu ở nhà ai. Các em anh Ngọc quá đau buồn chỉ biết ngồi khóc than trời đất. Các bạn dạy chung trường và bạn lính ra tay lo đám tang sắp xếp mọi bề. Anh Ngọc mất lúc 27 tuổi, đang dự tính lập gia đình với người bạn đồng nghiệp dạy chung trường.
    Ngày cuối cùng đưa đám xong thì buổi chiều từ đằng xa có bóng thầy Giáo Mạnh xuống xe lam đi bộ về. Một đám con nít bám đuôi theo thầy, bao nhiêu con mắt bà con lối xóm đều đứng đổ về phía thầy, tôi cũng đọc được trong ánh mắt thầy lộ vẻ ngạc nhiên lạ lùng. Vào cổng bước lên bậc thềm, đám nhỏ và người lớn cũng chạy theo. Thầy thấy quang cảnh khác lạ, phòng nhoi ra bên hông trái cây bàn thờ nghi ngút. Thầy thảng thốt thấy hình anh Ngọc trước khói hương. Thầy khóc gào, “Khốn nạn, người cha khốn nạn, đáng lẽ để ba chết, con phải sống Ngọc ơi, khốn nạn quá...” Thầy ngồi bệt xuống kể lể cho các con nghe: bốn hôm trước ba nằm ngủ, tự dưng thấy hai ông cầm giáo mác mặc quần áo màu đỏ đến đứng đầu giường nói, “Ta đến bắt nhà ngươi đi, nhưng chưa tới số, hai hôm nữa sẽ trở lại đón”. Thầy thức dậy hoảng sợ quá, lặng lẽ dọn hành lý trốn con cái vào Phan Rang chơi với bạn không cho ai hay, như đi trốn lời cảnh báo của hai ông áo đỏ.
    Từ đó đến nay không nghe chuyện gì xảy ra nữa. Ngôi nhà buồn tênh vì các chị em gái đi lấy chồng xa. Chỉ còn em trai út lấy vợ nối tiếp thờ tự hương hỏa. Cô dâu út rất mộ đạo, hay đi Chùa tụng kinh niệm Phật, làm công quả giúp các hội từ thiện. Có lẽ cô đã cúng bái cầu siêu các vong hồn người mất nên được yên ổn chăng?
    Chuyện âm dương thật khó hiểu và huyền bí.

 

– Minh Thúy Thành Nội

(10/2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.