Hôm nay,  

Mùa tuyết đầu tiên của tôi ở California

24/01/202408:48:00(Xem: 3240)
BuiVanPhu_2024_0122_MuaTuyetDauTienOCalifornia_H03
Tuyết trên công viên quốc gia Yosemite, California (Ảnh: Bùi Văn Phú).


California nắng ấm, biển xanh. Tôi nghe nói thế trong những ngày còn ở trại tị nạn trên đảo Guam. Đến đây vào giữa tháng Sáu, vừa ra khỏi cửa máy bay tại phi trường quân sự El Toro ở miền nam California để lên xe buýt mà lạnh run người.
    Những ngày sống trong trại tị nạn Camp Pendleton, ban ngày đi lại dưới ánh nắng mà nhiều người vẫn phải mặc áo len, áo jacket hay áo lính trê-di mới được phát cho. Từ miền nhiệt đới nay qua miền ôn đới, đêm nằm trong lều, ngủ trên giường xếp của lính, có chăn nhưng vẫn không đủ ấm nên mỗi tối tôi ra khu nhà tắm lấy một bình nước nóng ôm ngủ cho đỡ lạnh.
    Định cư ở thành phố Berkeley trên miền bắc California, đi học tôi cũng vẫn khoác trên người chiếc áo jacket mang theo từ trại tị nạn vì lúc nào cũng cảm thấy lạnh. Dần hòa nhập vào đời sống mới, tôi nhận ra biển Cali có xanh dưới chân cầu Golden Gate, nhưng nước biển lạnh và nắng ở đây cũng không ấm.
    Học kỳ đầu tiên của tôi tại đại học cộng đồng là vào Winter Quarter 1976. Một hôm, đang trong giờ toán bỗng sinh viên lao nhao nhìn qua cửa kính lớp học thì thấy những bông trắng bay lất phất. Một lúc sau sân trường phủ một màn tuyết. Thầy nói và tôi lõm bõm hiểu là hiếm khi có tuyết rơi trên đường phố ở đây, còn tôi mơ màng nhớ đến người tình Lara với bác sĩ Zhivago tình tứ bên tuyết trắng trong phim “Dr. Zhivago” nổi tiếng được chiếu ở Sài Gòn năm nào.
    Hôm đó không phải là lần đầu tiên tôi thấy tuyết. Vài tháng trước, trong lớp ESL ở Berkeley Adults School có nghe mấy bạn từ Nhật, Thụy Sĩ nhắc đến Lake Tahoe, một nơi vào mùa đông có tuyết, không xa San Francisco. Đó là một điều lạ khiến tôi tò mò.
    Sau Giáng sinh, mấy anh em trong nhà rủ nhau lên Lake Tahoe, quãng đường dài chưa đến 200 dặm. Mới qua Mỹ chưa rành đường sá, cũng chẳng biết thời tiết ra sao, nhưng nghe nói cảnh tuyết đẹp nên mạo hiểm, cầm bản đồ đi theo xa lộ 80 East đến Sacramento qua 50 East rồi cứ theo bảng chỉ South Lake Tahoe mà phóng tới. Trên người chỉ có bộ quần áo với chiếc áo len, không mũ phủ đầu, không giầy đi tuyết mà chỉ có đôi bata thường ngày đi học. Tuyết lạnh đến cỡ nào không biết, cứ đi xem sao.
    Từ nhà, chạy xe chừng hai giờ thì thấy có tuyết bên đường và thông xanh tuyết phủ đẹp như trong phim, như hình ảnh trên thiệp Giáng sinh. Lúc đó tôi không rõ ông anh họ cầm tay lái có sợ gì không vì đường tuyết mà xe lại không có xích. Nhìn bên lề thấy có chỗ ghé vào được, chúng tôi dừng lại, bước ra chạm tay vào tuyết xem thế nào. Rất mềm mịn, rất lạnh và đúng là trắng như tuyết. Cảnh đẹp như ở một xứ sở thần tiên nào đó vào mùa đông mà những ngày còn ở Việt Nam tôi mơ ước được thấy thì hôm nay đang hiện ra trước mắt.
    Đến Lake Tahoe, bờ hồ đầy tuyết và mặt hồ như đóng băng. Nhiều trẻ em với mũ áo quấn kín người ngồi trên những tấm nhựa mầu xanh đỏ lướt xuống trên tuyết. Chúng tôi bốc tuyết ném nhau. Đứng trong tuyết, tay bốc tuyết tung cao sao thích thú, vui quá quên cả cái lạnh. Rồi đắp tượng Snowman, chụp hình để khoe với bạn bè. Mấy anh em vui chơi một lúc, thấy buốt giá tay chân thì trở lại xe.
    Chạy vài phút là đến khu khách sạn và ranh giới phân chia hai tiểu bang, chỉ cách nhau con đường mang tên Stateline. Bên này cũng khách sạn, cửa tiệm nhưng thuộc về California nên không được phép mở sòng bài. Bên kia là Nevada, bước vào sảnh khách sạn thấy đèn nhấp nháy trên máy đánh bạc và nghe leng keng tiếng bạc cắc chạm vào nhau.
    Vào khách sạn Harrah’s tìm gì ăn uống cho ấm người và cũng thử vận hên xui. Mỗi người 5 hay 10 đôla, chỉ kéo máy vì không biết các trò chơi bài bạc khác. Một ông anh trúng gì đó mà đèn chớp liên tục và máy reo inh ỏi. Nhân viên sòng bài đến xem xét, báo cho biết trúng lớn, quá nhiều bạc cắc máy không đủ trả nên chuông vang lên. Ông anh vừa trúng được 80 đôla. Đây là một số tiền khá lớn, tương đương với thu nhập của một tuần làm việc, vì lương tối thiểu lúc đó là 2 đô 10 xu một giờ. Tôi làm thợ sơn được trả 2 đô 50 xu một giờ. Đi xe buýt đến trường chỉ 25 xu một chuyến. Gửi một lá thư cần con tem 10 xu.
    Chúng tôi ra về. Trên đường có tuyết rơi lất phất và trời đã tối khiến tầm nhìn không được xa, năm đôi mắt phải căng tròn nhìn phía trước để cảnh báo cho tài xế. Đường núi quanh co nên ai cũng lo, chỉ sợ bị kẹt trong tuyết hay tai nạn thì không biết phải làm sao. May mắn là tuyết không rơi nhiều và khi xuống đến đồng bằng, không còn tuyết chúng tôi mới hết lo.
    Sau vài năm sống ở Mỹ, quen với đường phố, xa lộ tôi đã có những chuyến đi chơi xa lên Canada hay xuống Mexico.
    Giáng sinh năm 1979, tôi và mấy bạn học cùng trong Bút nhóm Ý Thức đi xuyên bang từ Berkeley lên Vancouver, Canada là hành trình xa nghìn dặm. Chiếc xe Dodge Dart tám máy của anh bạn còn chạy khỏe, chỉ có máy sưởi trong xe không làm việc. Biết thế nên chúng tôi đã chất lên xe chăn mền, túi ngủ và ít thức ăn nước uống.
    Khởi hành vào sáng sớm. Trên đường, theo xa lộ 5 North chúng tôi ghé vào Lake Shasta ăn trưa, quay phim chụp ảnh. Xôi đậu xanh nấu đêm qua, bọc trong giấy bạc mà sao giờ nhão nhoẹt nên mỗi bạn ăn vài miếng rồi bỏ cho cá dưới hồ. Bữa ăn còn lại có khoai tây, bánh qui, bánh ngọt, các loại hạt đậu và uống Coke.
    Khi xe chạy qua núi Shasta gần biên giới với tiểu bang Oregon, trước mặt là một biển tuyết mênh mông. Xa lộ chỉ hơi quanh co và thoai thoải lên xuống dốc nên nhìn xa xa giữa mầu trắng thấp thoáng những hàng thông, với nhà có đèn trắng, đèn mầu treo trước hiên đón mừng Giáng sinh là một bức tranh tuyệt đẹp.
    Vào đến Oregon không còn tuyết nhưng chúng tôi ai cũng đã lạnh cóng tay chân, phải ráng chạy tới thị trấn Roseburg nơi có bạn cùng bút nhóm đang chờ ở nhà. Đến được nhà bạn, ba anh em chúng tôi đã ngồi trước lò sưởi rất lâu cho tan buốt giá tay chân, ấm lại trong người.
    Ngày hôm qua chúng tôi chạy xe 12 tiếng đồng hồ và mới đi được nửa đoạn đường. Tiếp tục hành trình, thêm bạn từ Oregon cùng đi, bốn anh em quyết định, vì máy sưởi trong xe không hoạt động, chỉ lái xe ban ngày từ 10 giờ sáng đến 4 hay 5 giờ chiều rồi tìm Motel 6 nghỉ qua đêm.
    Vancouver không lạnh lắm vì có mưa. Chuyến đi có mục đích thăm anh Vũ Mạnh Hải là hàng xóm của một bạn học. Anh Hải là vận động viên bóng đá của đội tuyển trong nước, vượt biển đến trại Bidong và được định cư tại đây. Hôm đó có nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, cũng từ Bidong, và vài bạn nữa ghé chơi. Sau bữa cơm tối là văn nghệ bỏ túi, đàn hát bên nhau thật vui.
     Từ mùa đông đầu tiên với tuyết rơi ngoài cửa lớp, đến nay tôi chưa thấy lại cảnh tuyết trên đường phố nơi mình sống. Những năm thật lạnh cũng chỉ có tuyết trên đỉnh núi quanh vùng là núi Tamalpais ở phía bắc San Francisco, núi Hamilton ở phía nam và núi Diablo ở phía đông.
    Tuyết trắng có vẻ đẹp hấp dẫn. Tôi không biết trượt tuyết nhưng thỉnh thoảng lên núi mùa đông là để thay đổi không khí, ngắm, chụp cảnh thiên nhiên. Có vui chơi cùng các con hay với bạn bè thì vợ chồng cũng chỉ ngồi trên đĩa hay thuyền nhựa lướt trên tuyết theo dốc thoai thoải. Lớn tuổi rồi, bị bong gân hay vẹo chân tay sẽ nhiều phiền phức.
    Vui chơi với tuyết thì thích, nhưng có nguy hiểm. Một lần đi cắm trại mùa đông, rời Lake Tahoe vào một sáng nắng chan hòa. Đang chạy chầm chậm bỗng xe như trôi, tôi hoảng hốt bẻ bánh lái khiến xe quay 360 độ. May là không có xe chạy bên kia đường hay chạy gần theo sau. Thật hú vía đứng tim, còn các con nhỏ lại tưởng bố biểu diễn quay xe vòng tròn. Thì ra vừa bị “black ice”, nước đông đá trên mặt đường mà không nhìn thấy.
    Nhiều người chỉ biết đến California nắng ấm với Hollywood, Rose Parade, Disneyland, cây cầu đỏ, nhưng ít ai biết tiểu bang này còn nổi tiếng với Lake Tahoe từng là nơi tổ chức Olympic mùa Đông 1960. Dọc theo phía đông tiểu bang là rặng Sierra Nevada, có tuyết mùa đông từ Lake Tahoe ở miền bắc, Yosemite ở miền trung, xuống đến Big Bear ở miền nam, mà nếu nhìn từ cửa sổ máy bay sẽ thấy tuyết trắng quanh năm trên những đỉnh của dãy núi này. Từ bắc California lái xe theo xa lộ 80 East qua Reno, Nevada phải qua đỉnh đèo Donner Summit ở độ cao trên 7 nghìn bộ, khoảng 2 nghìn 200 mét.
    Giữa thế kỷ 19, nhiều nhà thám hiểm trên đường tây tiến đã không vượt qua được đỉnh núi này, theo đường mòn gọi là Oregon Trail và đã có nhiều người bỏ mình. Tên của đỉnh đèo là để tưởng nhớ gia đình Donner mà thành phố Truckee ngày nay còn có một bảo tàng tưởng niệm. Chuyện kể rằng đoàn thám hiểm của Donner với 87 người gồm cả trẻ em đến đây vào mùa đông 1846-47, bị kẹt trong bão tuyết khiến 39 người thiệt mạng.
    Đây cũng là khu vực mà trong khoảng thời gian những nhà thám hiểm tìm cách vượt núi tây tiến thì người Hoa từ châu Á đã được đưa đến để làm đường rầy tàu hỏa hay đãi vàng trên những con sông, con suối mà ngày nay du khách có thể thấy dưới nước lấm tấm vàng trông như cát.
    Lake Tahoe là một hồ nước thiên nhiên rộng lớn, là nguồn nước cho nhiều khu vực của tiểu bang California. Thời tiết ghi nhận qua nhiều năm cho thấy tuyết rơi trên Lake Tahoe có thể sớm nhất từ tuần lễ Thanksgiving cuối tháng Mười Một và trễ nhất là ngày Memorial cuối tháng Năm.
    Một lần tôi đưa gia đình lên đây dịp lễ Memorial để bắt đầu cho kỳ nghỉ hè nên mang theo toàn quần soọc với áo ngắn tay, áo tắm. Ngủ một đêm, sáng dậy nhìn qua cửa sổ khách sạn thấy tuyết phủ trắng cả rừng thông nên phải bỏ sinh hoạt đạp xe quanh bờ hồ như đã dự tính và chỉ quanh quẩn trong khách sạn và mấy khu thương mại.
    Mỗi khi có bão tuyết, như năm nay, phủ ngập miền đông, miền trung và tuyết rơi xuống tận tiểu bang Texas làm tôi lại nhớ đến mùa đông năm 1976 ở California với tuyết rơi trên đường phố vùng Vịnh San Francisco và chuyến đi chơi tuyết đầu tiên trong đời trên Lake Tahoe.
    Năm đó cũng có bão tuyết ở miền đông vì thế nhiều người Việt mới đến Mỹ không chịu nổi cái lạnh đã tây tiến về California nắng ấm, biển xanh. Và nhiều nơi trong tiểu bang này cũng có tuyết vào mùa đông.
 

Bùi Văn Phú


BuiVanPhu_2024_0122_MuaTuyetDauTienOCalifornia_H01_LakeTahoe_1975

Trên đường đi Lake Tahoe cuối năm 1975 với người thân.

 

BuiVanPhu_2024_0122_MuaTuyetDauTienOCalifornia_H04_TuyetCalifornia

Cảnh tuyết mùa đông California.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng – từng nằm im dưới đáy Bắc Đại Tây Dương hơn một thế kỷ – vừa được đánh thức khỏi giấc ngủ dài bằng mức giá kỷ lục: 1,78 triệu bảng Anh. Chiếc đồng hồ ấy thuộc về Isidor Straus, người cùng sáng lập chuổi cửa hàng Macy’s, một thương gia 67 tuổi đã nằm lại cùng con tàu huyền thoại Titanic trong đêm định mệnh năm 1912. Chiếc đồng hồ – một mẫu Jules Jurgensen 18 carat khắc chữ, được tặng nhân sinh nhật lần thứ 43 của ông vào năm 1888 – nay trở thành hiện vật Titanic có giá cao nhất từng được bán. Kỷ lục cũ vốn thuộc về một chiếc đồng hồ vàng khác từng được trao cho thuyền trưởng con tàu cứu hơn 700 người, bán năm ngoái với giá 1,56 triệu bảng.
Thỉnh thoảng chúng tôi hay tới thăm ông niên trưởng Hải Quân của tôi. Ông đã gần 90 tuổi, mái tóc đã bạc trắng, bên khuôn mặt nhiều vết nhăn, đi đứng chậm chạp, nhưng ông vẫn minh mẫn, trí nhớ vẫn rành rẽ về những câu chuyện thời cuộc xa xưa, và hát vẫn rất hay. Lần thăm viếng vừa qua, ngồi nói chuyện với ông lâu hơn. Trong câu chuyện ông kể: “mình qua đây làm việc vất vả, mong ngày về hưu đưa vợ con đi du lịch cho biết đó biết đây, nhưng không thành, vì bà vợ bị tai biến mạch não khiến nửa người bị tê liệt phải ngồi xe lăn đã 25 năm qua, đi đâu cũng khó khăn”. Tôi bồi hồi xúc động, nhìn ông với tất cả sự cảm thông.
Cuộc sống này không có ai là hoàn hảo mà cũng không có cái gì là hoàn toàn, tất cả mọi sự vật trên đời này đều có khiếm khuyết và không vĩnh cửu. Chính vì thế nếu ai cố gắng đi tìm sự tuyệt đối, họ sẽ thất vọng. Câu thơ trên muốn nói lên ý tưởng, hãy chấp nhận và trân trọng những khiếm khuyết của nhau để chúng ta tới gần nhau hơn, hiểu nhau hơn. Nhà khoa học nổi tiếng Stephen Hawking còn đi xa hơn nữa, ông khẳng định „Nếu không có sự không hoàn hảo, cả bạn và tôi đều không tồn tại” ("Without imperfection, neither you nor I would exist."). Ông muốn nói sự „không hoàn hảo“ của vũ trụ, những giao động đột biến trong quá trình tiến hóa, những sai lệch trong định luật vật lý đã là những điều kiện để tạo nên sự sống trong đó có con người.
Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Nghịch Lý Fermi (Fermi Paradox) luôn là một câu đố hóc búa ám ảnh giới thiên văn học. Nói một cách ngắn gọn, nghịch lý này đặt ra câu hỏi: Nếu vũ trụ đã gần 14 tỷ năm tuổi, một khoảng thời gian quá đủ để các nền văn minh tiên tiến, xã hội hiện đại, công nghệ cao phát triển và du hành giữa các vì sao, vậy thì tất cả họ đang ở đâu? Sao chưa có ai ghé qua Địa cầu để “chào một tiếng”?
Trong một bài viết đăng trên trang mạng Psychology Today, Tiến Sĩ Jeff Degraff kể lại một trải nghiệm khá thú vị của mình. Ông cho biết cách đây không lâu, ông bị mắc kẹt. Không phải là kẹt xe hay xếp hàng, mà là một khoảnh khắc mịt mờ về mặt tinh thần. Ông không thể suy nghĩ sâu sắc, không thể cảm nhận được những gì mình đang tiếp xúc. Rồi bất chợt một bài hát hiện lên trong đầu. Không phải bài hát mới nghe gần đây, và cũng không phải bài hát mà ông yêu thích. Nhưng lời bài hát thật sự chạm đến trái tim của ông. Chúng nói lên một điều gì đó mà ông không thể diễn đạt thành lời. Giống như não không muốn nói những lời đơn giản, nên đã quyết định cất tiếng hát.
Cựu Ước chép: “Thiên Chúa lấy đất sét nặn ra ông Adam theo hình ảnh của Ngài. Sau đó làm ông mê đi rồi rút một chiếc xương sườn ra tạo thành bà Eva, dẫn tới tặng cho ông Adam. Ông nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra”. Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau”. Đọc đoạn sách Sáng Thế Ký này, tôi bâng khuâng. Vậy là hai ông bà chưa trưởng thành, nhìn nhau như hai đứa trẻ ở truồng tắm mưa, chẳng động tĩnh chi. Thua xa ông Luân Hoán.
Sáng Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10, giữa lúc khách tham quan vẫn đang tấp nập trong viện bảo tàng Louvre, một nhóm gồm bốn tên trộm bịt mặt đã thực hiện vụ trộm liều lĩnh hiếm thấy. Bốn kẻ bịt mặt đã đột nhập Bảo Tàng, dùng cần cẩu phá vỡ cửa sổ tầng trên của tòa nhà Galerie d’Apollon, khu trưng bày các bảo vật hoàng gia Pháp, cuỗm đi những món báu vật vô giá rồi tẩu thoát bằng xe gắn máy (motorbike).
Trong một đêm nhạc thính phòng trình bày nhạc Từ Công Phụng và Ngô Thụy Miên được tổ chức tại Vancouver, Canada, ít năm trước đây với sự có mặt của hai nhạc sĩ, tôi có tham dự. Phần đầu các ca sĩ hát nhạc của họ Từ, phần sau nhạc của họ Ngô, có nghỉ giải lao ở giữa. Trong giờ giải lao, tôi vào sau sân khấu để hàn huyên với ca sĩ Diễm Liên. Chúng tôi đang nói chuyện thì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đi ngang qua, nói với Diễm Liên: “Nhớ hát đúng lời nhạc nhé!”. Diễm Liên le lưỡi, cười. Tôi giữ ý đi ra cho cô…ôn bài.
Ai cũng biết rằng học chơi nhạc cụ có thể mang lại nhiều lợi ích bên ngoài lĩnh vực âm nhạc. Nhiều nghiên cứu cho thấy chơi nhạc rất tốt cho não bộ, giúp cải thiện các động tác tinh tế, khả năng tiếp thu ngôn ngữ, đối thoại, trí nhớ, giúp não bộ chậm lão hóa. Sau nhiều năm làm việc với các nhạc sĩ, chứng kiến họ kiên trì luyện tập âm nhạc bất chấp cơn đau do thực hiện hàng ngàn động tác lặp đi lặp lại, một nhà nghiên cứu thần kinh học Đan Mạch đặt câu hỏi: nếu luyện tập âm nhạc có thể thay đổi não bộ theo nhiều cách như kể trên, liệu nó có thể thay đổi cách các nhạc sĩ cảm nhận cơn đau?
Áo dài là y phục cổ truyền của người Việt Nam, đàn ông cũng như đàn bà. Bài này cho các ông ra rìa, chỉ nói tới áo dài của các bà. Kể ra các ông cũng chẳng ghen tỵ chi được vì nói tới áo dài là người ta thường nghĩ tới sự mượt mà, uyển chuyển dịu dàng của phụ nữ. Các ông cũng chẳng mặn mòi chi với áo dài vì khi nước ta trở thành thuộc địa của Pháp, đa số các ông sống ở thành thị đã phụ áo dài để mặc đồ tây.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.