Trên đường đến phòng trưng bày tác phẩm nghệ thuật của Gertrude Stein, tôi bước đi với tâm trạng phấn khích của một người sắp gặp Ernest Hemingway. Nắng chiều Paris phản chiếu từ cửa sổ những quán cà phê xuống con đường đá cũ tạo thành bóng râm dài phía trước. Tiếng reo hò chen lẫn tiếng đàn từ mấy quán bar nhỏ nơi góc phố gây nên bầu không khí sôi động dội vào tâm trí tôi. Tôi đến Paris làm nghiên cứu sinh về văn học so sánh tại Đại học Sorbonne. Đại học nầy là một trong những trung tâm văn học so sánh hàng đầu thế giới. James Joyce thường có mặt tại Sorbonne trong các cuộc hội thảo, vì ông có công trình nghiên cứu quan trọng về thể loại văn học so sánh. Ông nổi tiếng là một nhà văn, nhà thơ và nhà nghiên cứu người Ireland.Tôi được diện kiến James Joyce nhiều lần và biết rõ quan hệ giữa ông với Hemingway. Ông viết thư giới thiệu với Gertrude Stein để tôi có dịp gặp Ernest.
Tôi đến nhà Stein dự buổi họp mặt giữa các văn nghệ sĩ quen biết với Stein như Pablo Picasso, Ernest Hemingway, F. Scott Fitzgerald, Henri Matisse, và Sherwood Anderson... Trong không gian ấm áp và trang trí đơn giản của phòng trưng bày, ánh đèn vàng lấp lánh trên các tác phẩm nghệ thuật treo trên tường. Một nhóm nhà văn ngồi chung nhau ở một góc phòng. Gertrude Stein ngồi trên một ghế lớn, cặp kính trễ xuống mũi, đang chăm chú nghe Ernest phát biểu. Ernest nói về những kinh nghiệm của mình khi viết về chiến tranh và cuộc sống trong quân đội. Bên cạnh ông, F. Scott Fitzgerald mắt sáng lên khi nghe Ernest kể về những cuộc phiêu lưu… Pablo Picasso đứng cạnh bức tranh của mình, nói về nghệ thuật thể hiện cảm xúc và mô tả sự vật khiến các nhà văn phải suy ngẫm về sự kết nối giữa văn học và hội họa.
Không khí sôi động lắng xuống sau phát biểu cuối cùng của Sherwood Anderson. Tôi đến gần Ernest.
“Xin kính chào …” Tôi nhìn Ernest với ánh mắt ngưỡng mộ.
“Chào bạn. Bạn là một nhà văn?” Ernest hỏi.
“Tôi mới viết văn, đã đọc nhiều tác phẩm của ông. Ông là nguồn cảm hứng lớn đối với tôi.”
“Cám ơn. Điều gì khiến bạn quan tâm khi viết văn?”
“Chữ nghĩa và câu chuyện. Tôi luôn tin rằng ngôn từ và câu chuyện có thể giúp tôi khám phá nhiều điều mới mẻ về bản thân và thế giới xung quanh. Tôi muốn chia sẻ những câu chuyện của mình và góp phần kết nối mọi người.”
“Một quan điểm tốt. Viết văn không chỉ là việc sáng tạo, mà còn là cách để thấu hiểu sâu sắc cuộc sống. Bạn bắt đầu viết về điều gì?”
“Tôi đang viết về những trải nghiệm bản thân, về những người và những nơi tôi đã gặp.”
“Một lựa chọn xác đáng. Hãy tiếp tục theo đuổi đam mê và đừng ngần ngại chia sẻ câu chuyện của bạn với người khác. Hãy luôn trung thực và dũng cảm trong viết văn.”
“Lời khuyên của ông là nguồn động viên lớn cho tôi. Xin cám ơn.”
Rồi ông hỏi tên tôi bằng tiếng Pháp:
“Quel est ton nom?”
James Joyce bất ngờ đến đứng cạnh tôi (hình như ông đã theo dõi tôi đối đáp với Ernest) và hỏi Ernest:
“Avez-vous aussi entendu le nom de Trac Bạt?”
Không đợi Ernest trả lời, Joyce nói tiếp:
“Trác Bạt từ cố đô Hóa Châu qua Sorbonne làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về văn học so sánh.”
Thật bất ngờ. Ernest quay qua tôi, hỏi như đùa cợt:
“Tiến sĩ dùng để làm gì?”
“Tôi là nhà giáo.” Tôi nói.” Tôi cần bằng cấp cao nhất để hành nghề, viết văn chỉ là việc phụ.”
Joyce tiếp lời tôi như nhấn mạnh vai trò quan trọng của tôi:
“Trác Bạt sẽ thiết lập ngành văn học so sánh cho các Đại Học Việt Thường. Anh là người đầu tiên của Việt Thường làm việc về ngành học nầy.”
“OK.” Ernest lên tiếng. “Bây giờ tôi mới biết Trác Bạt là ai. Cám ơn.”
*
Nhớ một lần ở Deux Magots, như thường lệ, Ernest ngồi viết và … tu rượu. Tôi có dịp chứng kiến giây phút xuất thần của cảm hứng sáng tác khi thấy ánh mắt ông rực sáng và viết nhanh liên tục để bắt kịp những ý tưởng tuôn trào vì sợ chúng tan biến. Viết xong, ông cười sảng khoái với niềm vui và hứng khởi...
Ông lim dim đôi mắt,cất tiếng đọc:
“Mùa xuân lệch lạc lại đến, mang làn gió nhẹ qua những con phố. Trong căn phòng nhỏ của tôi, hình ảnh về mùa xuân trong tôi rực rỡ hơn bao giờ hết. Những bông hoa anh đào bừng nở trên tường cho tôi tận mắt thấy một khung cảnh thơ mộng. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra bên ngoài và cảm nhận nhịp sống rộn rã của Paris. Thành phố đang thức dậy từ giấc ngủ đông. Những con đường tràn ngập ánh sáng mặt trời. Một ngày mới bắt đầu. Tiếng lao xao ồn ả từ các quán cà phê hòa vào hơi ấm của sắc xuân chớm nở, xen lẫn tiếng cười và những bản nhạc jazz nhẹ. Đó chính là âm nhạc của cuộc sống, là bản giao hưởng không bao giờ ngừng…”
Khi thấy ông ngừng đọc và uống một ly nước, tôi nói:
“Ở Hóa Châu của chúng tôi, người ta thường uống nước chanh để dã rượu, giảm say.”
“Kể cả nước có ga, nước dừa…” Ernest chuyện gì cũng biết (?)
Tôi bắt qua chuyện văn:
“Sao lại là mùa xuân lệch lạc, Ernest?”
“ Đó là Mùa Xuân Giả Dối, bạn sẽ có dịp đọc nó để tìm thấy câu trả lời.”
Ông đưa tay ra dấu bảo tôi ngồi yên và đứng dậy đến ngay bàn cô tiếp viên, quay số điện thoại nói gì đó với ai một hồi khá lâu. Sau đó, một thanh niên xuất hiện. Ernest đến bắt tay chúng tôi và bước ra khỏi quán. Tôi chưa hết ngỡ ngàng, người khách trẻ đến bên tôi thân mật:
“Chào Trác Bạt. Tôi là Jack Donova. Ernest xin lỗi phải về nhà gấp đưa cô vợ Hadley đến trường đua…”
Chỉ cần Donovan gọi đích danh tên tôi, cảnh vật xung quanh tôi đều trở nên thân thiện. Ernest đã cho Donovan biết về Trác Bạt trong điện thoại và bảo anh tiếp đón tôi.
Tôi chưa kịp có lời chào, Donovan hỏi tiếp:
“Trác Bạt biết Arnold Samuelson là ai không?”
“Có phải đó là anh chàng đến Key West năm 1934 tìm gặp Ernest? (1)”.
“Câu chuyện nầy quá nổi tiếng, tôi đọc báo biết rõ từng chi tiết… Điều báo chí không nói rõ là Samuelson đã làm những công việc gì để giúp Ernest.”
“Ernest tin tưởng và chấp nhận tôi ở gấn ông suốt một năm nay, và đổi tên tôi thành Jack Donovan. Ông bảo khi nào tôi trở thành nhà văn nổi tiếng sẽ lấy lại tên thật…”
Và cho tôi biết, anh đã làm thay Hemingway nhiều việc, giúp ông có thì giờ tập trung vào sáng tác và các dự án khác. Anh kể ra một số công việc: đọc, đánh máy và góp ý về bản nháp của Ernest, lên lịch và chuẩn bị các cuộc hẹn gặp, tìm tài liệu và thông tin cho các dự án, liên lạc với các biên tập viên, nhà xuất bản, hoặc những người khác liên quan đến công việc sáng tác của ông, hỗ trợ kỹ thuật… Trong số nầy, tôi đặc biệt chú ý công việc đọc, đánh máy bản nháp và góp ý.
“A False Spring tôi đã đọc và đánh máy.Đã viết bản tóm tắt. Sắp viết bài góp ý...”
“A False Spring cũng có thể là A Fake Spring?”
Nghe vậy, Donovan quay nhìn tôi dò xét:
“Hình như Trác Bạt có dự tính làm một luận án về Hemingway?”
“Tôi chưa nghĩ đến luận án, nhưng muốn viết về Hemingway mặc dù rất khó viết, vì đã có hàng trăm người viết về ông.Hơn nữa, muốn hiểu văn chương Hemingway phải cảm nhận được hồn chữ của ngôn ngữ tiếng Anh…”
“Ernest nói với tôi, Trác Bạt là nghiên cứu sinh về văn học so sánh. Thiết tưởng tiếng Anh của bạn đâu có khác gì chúng tôi.”
“Nhưng tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi.”
“Vậy Trác Bạt định viết gì?”
“Tôi muốn sống gần ông một thời gian như Donovan rồi mới viết những gì đã cảm nhận về ông. Công việc đọc, đánh máy bản thảo và góp ý với tác giả như Donovan là cơ hội học hỏi và viết về Hemingway tốt nhất. Donovan chắc cũng nghĩ như tôi?”
“Vâng. Tôi đã ghi nhật ký suốt trong thời gian làm công việc nầy. Giờ tôi cũng có chút vốn liếng để viết rồi.”
“Với trường hợp tôi, Donovan có ý kiến gì?”
“Tôi đang làm việc với Ernest để chỉnh sửa cuốn hồi ký A Moveable Feast. Sợ không thể xuất bản sớm. Trác Bạt có thể khai thác cuốn hồi ký nầy để viết những gì người khác không thể viết được.”
“Bằng cách nào khi nó chưa được xuất bản?”
“Tôi sẽ hỗ trợ.”
Trở lại chuyện mùa xuân lệch lạc của Ernest. Tôi cũng có thể phân biệt ý nghĩa khác nhau giữa False và Fake, nhưng vẫn muốn nghe Donovan nói:
“False? Fake?”
Không trả lời tôi, Donovan thản nhiên viết: “His statement about the incident was false” and “The painting was a fake (2)” và đẩy tờ giấy qua tôi thay vì giải thích bằng lời.
Tuyên bố của ông ta về sự việc là không đúng (false). Bức tranh đó là hàng giả (fake). Thông thường người ta chỉ biết "false”và "fake”là hai từ có ý nghĩa tương đương mà quên nghĩ đến khác biệt tinh tế (subtile) của chúng trong cách sử dụng và ngữ cảnh. "False” mô tả điều gì đó không đúng sự thật, hoặc không trung thực. Nó thường liên quan đến sự thiếu chính xác hoặc thất bại trong việc phản ánh một điều gì đó. Nói rõ hơn, nó mô tả thông tin sai lệch, giả định không chính xác, hoặc một tình huống không phản ánh đúng sự thật. Còn "Fake”thường ám chỉ điều gì đó là giả mạo hoặc làm ra nhằm mục đích gian lận và lừa đảo. "Fake” thường mang ý nghĩa tiêu cực hơn so với "false"...
Tôi gọi thêm rhum St-James cho Donovan… Anh ta nói về ý nghĩa khác nhau giữa A False Spring và A Fake Spring. A Fake Spring thường được sử dụng trong ngữ cảnh biểu cảm hoặc hài hước, mô tả thời tiết ấm áp, giống như mùa xuân, xuất hiện trong thời gian ngắn, và sau đó bị thay thế bởi thời tiết lạnh hơn hoặc giá rét trở lại… A False Spring nói về một mùa xuân lệch lạc, không đơn thuần mô tả mùa xuân, mà còn là cách diễn đạt tinh tế về sự không chắc chắn và phức tạp của cuộc sống, và về sự tương phản giữa hiện thực và những kỷ niệm ấn tượng về một mùa xuân tươi mới của quá khứ…
Donovan đưa tôi bản tóm tắt của A False Spring do anh viết từ bản thảo của Hemingway. Đây là cách Donovan hỗ trợ tôi như đã hứa? Tôi chăm chú đọc kỹ…
Vấn đề duy nhất của mùa xuân Paris là “nơi nào hạnh phúc nhất”. Nhưng những hạn chế của hạnh phúc lại xuất phát từ con người, trừ một số ít người tươi trẻ như mùa xuân. Được tiếp thêm năng lượng sau một đêm ngủ ngon giấc, Ernest dậy sớm làm việc, lắng nghe tiếng kèn (3) người chăn dê báo thức, đến bán sữa cùng đàn dê.
Ernest mua một tờ báo đua ngựa, nghĩ đến việc cá cược. Vợ chồng Ernest lên tàu đến trường đua. Hadley đặt cược vào một chú ngựa có tên Chèvre d’Or, cuối cùng toàn bộ số tiền họ chắt chiu để dành đủ sống trong sáu tháng bị mất sạch. Từ đó, cuộc sống càng trở nên khó khăn hơn khi Ernest rời bỏ công việc tại báo Toronto Star để tập trung vào sáng tác. Cố gắng thích nghi với hoàn cảnh, Ernest suy ngẫm về cuộc sống thiếu thốn của mình và cuộc chiến chống lại nghèo đói không bao giờ thắng nếu ta vẫn tiêu pha hoang phí. Ông tự hỏi một người hài lòng với công việc và hạnh phúc gia đình như ông không lý nào để chuyện nghèo khó ảnh hưởng đến. Ông viết:
“…Chúng tôi không bao giờ nghĩ mình nghèo. Cũng không chấp nhận mình nghèo. Vẫn nghĩ rằng mình thuộc vào hạng người vượt trội còn những người chúng tôi khinh bỉ và không đáng tin kia thì lại giàu có. Chẳng có gì lạ khi mặc áo nỉ thay đồ lót để giữ ấm. Nó chỉ lạ đối với những tên giàu có... Chúng tôi ăn ngon và rẻ, uống ngon và rẻ, ngủ ngon và ấm áp bên nhau và yêu thương nhau.”
(… We did not think ever of ourselves as poor. We did not accept it. We thought we were superior people and other people that we looked down on and rightly mistrusted were rich. It had never seemed strange to me to wear sweatshirts for underwear to keep warm. It only seemed odd to the rich. We ate well and cheaply and drank well and cheaply and slept well and warm together and loved each other.)
Và họ vui vẻ cùng nhau đến Gare du Nord, lên xe lửa băng qua những khu bẩn thỉu và buồn tẻ nhất rồi cuốc bộ đến trường đua một lần nữa. Chưa đến giờ, họ ngồi trên bờ cỏ ăn trưa, uống rượu, ngắm nhìn cảnh vật chung quanh: khán đài, quầy cá độ, màu xanh phủ khắp trường đua, tường đá và những cây cọc trắng, đường ray, bãi tập trung ngựa… Những chú ngựa đầu tiên lững thững đi vào. Ernest đến gần mấy ngựa chiến thì gặp người quen cũ ở San Siro, Milano (Ý). Ông nầy khuyên Ernest đặt cược vào hai ngựa chiến:
“Nên nhớ, đặt vào chúng không phải là khoản đầu tư. Nhưng đừng để chuyện tiền bạc làm mất cơ hội.”(Mind, they’re no investment. But don’t let the price put you off.)
Ernest làm theo. Ông đặt cược vào ngựa chiến thứ nhất theo tỉ lệ một ăn mười hai. Chú ngựa phi phóng tuyệt hay, tiến về đích trước hết. Họ thắng cược, cất giữ một nửa tiền, một nửa còn lại đặt vào ngựa chiến thứ hai, tỉ lệ cược là một ăn mười tám. Trong lúc chờ kết quả, họ đến quầy bar uống champagne và hồi hộp theo dõi cuộc đua. Kết cuộc họ lại thắng nữa.
Họ kiếm được rất nhiều tiền. Đã có tiền lại có cả thanh xuân, những gì Ernest cần đều có đủ. Đúng là một ngày hoàn hảo. Nếu mỗi người tiêu xài một phần tư tiền thắng cược,thì vẫn còn một nửa để cá cược tiếp. Hemingway viết:
“Tôi bí mật cất giữ tiền dành riêng cho cá cược và tách biệt nó với các khoản khác.” (I kept the racing capital secret and apart from all other capital.)
Sau đó, họ đến quán Prunier, thỏa thích với sơn hào hải vị: ăn hàu và cua Mêxico cùng với rượu Sancarre. Xong, đi bộ về nhà giữa đêm đen.
Ta còn phải chú ý đến một nhân vật đặc biệt: Chink. Chink là người bạn chân tình của vợ chồng Hemingway-Hadley. Cặp đôi nầy làm gì cũng nghĩ đến Chink…
Đọc ngang đây, tôi nhìn Donovan:
“Tôi đã đọc cuốn ‘Chink: A Biography’ của Lavinia Greacen (4). Đây là cuốn tiểu sử nổi tiếng về Chink Dorman-Smith. Chink tốt nghiệp học viện quân sự Sandhurst, thủ khoa khóa sĩ quan với điểm số cao nhất trong lịch sử Sandhurst, được trao tặng huân chương trong Thế chiến thứ nhất trước khi bước sang tuổi 20, và sau đó là vị tướng đã đánh bại Rommel trong trận Alamein lần thứ nhất năm 1942, giúp lật ngược tình thế cho quân đội Anh. Cuộc đời của Chink truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của Hemingway viết hai tác phẩm “A Moveable Feast”và “Across The River and Into The Trees”, chưa kể các yếu tố về nhân vật nầy được đưa vào các tiểu thuyết khác trong hơn 30 năm. Ảnh hưởng của ông đối với Hemingway kéo dài cho đến khi Hemingway qua đời…”
“Hiếm có người nào không ở trong văn giới được Hemingway đưa vào các tác phẩm nhiều như Chink…” Donovan nói. “Nhưng Chink Dorman-Smith vẫn còn là một bí ẩn hấp dẫn và gây tranh cãi, là một nhân vật phi lý như David Niven bước vào tiểu thuyết của Dostoyevsky. Tác giả Lavinia Greacen đã tiểu thuyết hóa nhân vật Chink. Trác Bạt phải cảnh giác về cuốn ‘Chink: A Biography’. Hemingway chỉ cho biết Chink là quân nhân chuyên nghiệp tốt nghiệp Sandhurst và tham chiến trong trận Mons. Ông gặp Chink lần đầu ở Ý và Chink trở thành người bạn thân nhất của vợ chồng ông trong suốt một thời gian dài. Lúc đó, cứ mỗi lần nghỉ phép Chink lại đến ở chơi với vợ chồng ông.”
Tôi đọc tiếp bản tóm tắt Donovan viết:
Những kỷ niệm cũ liên quan đến Chink in sâu vào tâm trí của Hadley và Ernest. Nàng hỏi Ernest có nhớ mùa xuân trên đèo St. Bernaud bên Ý và cùng với Chink cuốc bộ đến Aosta? Có nhớ chuyện ăn trái cây tại quán Biffi ở Galleria? Chuyện nàng và Chink ngồi đọc sách ngoài vườn nhà trọ ở Aigle trong lúc chàng đi câu? Chuyện do Jim Gamble kể chàng nghe về loại nho tím? Chuyện Chink và Ernest lúc nào cũng trao đổi ý kiến viết như thế nào để mọi vật trở nên chân thật? Nàng hỏi Ernest có nhớ những lần chàng và Chink tranh luận mà không có người thắng,kẻ thua? Có nhớ những khi cả ba người tranh cãi hoặc trêu đùa nhau về mọi thứ? Có nhớ tất cả những gì họ đã trải qua và những gì đã nói trong các chuyến đi? Nhớ hết mọi chuyện? Và mỗi khi mùa đông và mùa xuân đến họ lại nhớ Chink. Họ chờ Chink có giấy phép về thăm để cùng họ đi lang thang đây đó…
Nhớ đến sông nước, Hemingway viết: “Tôi nhớ sông Rhône, hẹp và đầy tuyết xám với hai luồng cá hồi mỗi bên bờ, nhớ dòng Stockalper và kênh Rhône. Dòng Stockalper ngày đó rất trong và kênh Rhône vẫn còn u ám.”(I remembered the Rhône, narrow and grey and full of snow water and the two trout streams on either side, the Stockalper and the Rhône canal. The Stockalper was really clear that day and the Rhône canal was still murky.)
Họ đi ăn tối tại nhà hàng đắt tiền Michaud's. Ernest tự hỏi liệu nỗi nhớ họ cảm thấy khi đứng trên cầu có phải là nguyên nhân của cơn đói hay không. Hadley thì nói ngay, trí nhớ là cơn đói. Sau khi cả hai trở về nhà, Hemingway vẫn còn “cảm giác như đói”. Cảm giác đó khiến ông thao thức suốt đêm, và nhận ra rằng ở Paris chẳng có gì đơn giản, kể cả nghèo đói, trái ngược với cảm giác đơn giản vào sáng hôm sau.
Hemingway viết đoạn cuối:
“Cuộc sống dường như thật đơn giản vào sáng hôm đó khi tôi thức dậy và nhận ra mùa xuân giả dối, nghe thấy tiếng kèn của người đàn ông cùng đàn dê và đi ra ngoài mua tờ báo đua ngựa… Nhưng Paris đã quá cổ kính trong lúc chúng tôi vẫn còn trẻ. Không có gì đơn giản ở đây cả, dù đó là nghèo đói, là món tiền bất chợt, là ánh trăng, là đúng sai hay là hơi thở của ai đó nằm bên cạnh bạn dưới ánh trăng.” (Life had seemed so simple that morning when I had wakened and found the false spring and heard the pipes of the man with his herd of goats and gone out and bought the racing paper. But Paris was a very old city and we were young and nothing was simple there, not even poverty, nor sudden money, nor the moonlight, nor right and wrong nor the breathing of someone who lay beside you in the moonlight.)
*
“Donovan góp ý thế nào với Ernest?” Tôi hỏi Donovan.
“Phải có phân tích về A False Spring, sau đó mới góp ý với Ernest.”
Và Donovan lại đưa thêm bản phân tích do anh viết để tôi đọc tiếp:
“Những gì Hemingway viết đều chứa đựng sự tri ân dành cho Hadley Richardson. Ông thường viết dưới dạng các cuộc đối thoại thân mật trong gia đình giữa hai vợ chồng. Tuy nhiên, việc tập trung vào Hadley như điềm báo trước ngày tận thế của hạnh phúc hôn nhân. Ở đây, Hadley được miêu tả là người ngây thơ và hoài niệm, phù hợp với những cuộc phiêu lưu nhàn nhã của họ. Hình ảnh “người chăn dê thổi còi”gợi nhớ đến một cảnh trong truyện ngụ ngôn, cổ tích. Hemingway đang thần thoại hóa trải nghiệm của mình ở Paris, tôn vinh bản thân và Hadley như những người hùng: nghèo, đã không nhận mình nghèo,còn khinh bỉ những người giàu. “Vậy thì họ là ai? “Họ là những người khẳng định quyết liệt quyền được hưởng hạnh phúc và không sống như những kẻ khốn cùng. Việc Ernest sống tiết kiệm hơn mức cần thiết chỉ do hoàn cảnh nhất thời… Họ chiêm nghiệm cuộc đời theo những cách khác nhau. Với Hadley, trải nghiệm là điều quan trọng nhất, vì trải nghiệm có thể gợi lên khao khát, nó cũng là nguồn gốc của nỗi nhớ. Còn nỗi nhớ thì giống như cơn đói, ám chỉ sự thiếu thốn và vắng mặt. Với Ernest, trải nghiệm sẽ lưu giữ trong tâm trí dưới dạng ký ức. Để mất khao khát, cảm xúc và trải nghiệm là nỗi đau lớn nhất của một nhà văn…”
“Tôi nghĩ Hemingway viết để thể hiện cuộc sống thực tế và sự nghiệp văn học của ông.”Tôi góp ý với Donovan. “Ông cố gắng tái hiện tâm trạng và kinh nghiệm từ quá khứ. Điều này giúp định hình nhân vật trong tác phẩm và tạo ra cái nhìn chân thực và sâu sắc về đời sống văn hóa tại Paris vào thời điểm mà ông gọi là một mùa xuân giả dối …”
Phần góp ý cho Ernest, Donovan chưa viết...
– Phan Tấn Uẩn
Gainesville, tháng 2 năm 2024
Chú thích:
(1) Năm 1934, một nhà văn 22 tuổi đầy tham vọng tên là Arnold Samuelson lên đường tìm gặp Hemingway để xin lời khuyên sau khi đọc truyện ngắn “ONE TRIP ACROSS” của ông. Là con trai một nông dân trồng lúa mì nhập cư Na Uy, anh vừa hoàn thành khóa học về báo chí tại Đại học Minnesota, nhưng đã từ chối trả 5 đô la phí tốt nghiệp. Tin chắc rằng học viết văn với Hemingway là cách hay nhất,anh ta theo một chiếc xe chở than từ Minnesota đến Key West. Samuelson sau này nhớ lại: “Đó dường như là một việc làm hết sức ngu ngốc, nhưng một kẻ lang thang 22 tuổi trong thời kỳ Đại suy thoái không cần phải có nhiều lý do cho những gì mình đã làm”. Cuối cùng Samuelson đã ở lại làm người phụ tá cho Hemingway gần một năm… Samuelson đã ghi lại trải nghiệm và nhiều bài học quý trong một bản thảo chỉ được con gái ông phát hiện sau khi ông qua đời năm1981. Cuối cùng sách được xuất bản với tên With Hemingway: A Year in Key West and Cuba.
(2) Danh từ hay tĩnh từ đều viết là False, Fake ( n & adj)
(3) Tiếng kèn (loa) của người chăn dê đến bán sữa cùng đàn dê:
(4) Cuốn “Tiểu Sử Chink”của tác giả Lavinia Greacen:
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn.
Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.
Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.
Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”
Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.
Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.
Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.