Hôm nay,  

Em Ở Nơi Nào…

05/10/202412:58:00(Xem: 4011)
minhhoa01
Minh họa Đinh Trường Chinh

 

Chừng năm sáu người làm chung nơi góc xưởng, cái góc khuất đến có người vừa làm việc vừa hút thuốc trong xưởng cũng chẳng phải sợ bị đuổi việc dù có yêu cầu từ ông chủ xưởng do sợ cháy, ông yêu cầu mọi người ra ngoài hút thuốc chứ đùng hút trong xưởng, nhưng ông bắt được quả tang người vừa chạy máy vừa hút thuốc trong xưởng thì ông yêu cầu người đó ra ngoài hút hết điếu thuốc rồi trở vô làm, ông chẳng đuổi việc ai nên cũng không ai sợ thì tôi sợ một người không hút thuốc có tấm lòng vị tha.

Người coi như đại diện của nhóm công nhân hạng hai nơi góc khuất cũng dễ tính với chính mình làm gương cho anh em, anh ta bày cơm ra ăn tại chỗ làm theo lệnh cái bao tử, cóc thèm lên phòng ăn của xưởng vì cạnh phòng làm việc của ông chủ mà ăn cơm trái giờ cũng lành ít dữ nhiều…

Cái xưởng cấp gia đình nhỏ nhoi, cũ kỹ nhưng đã truyền lại được ba đời. Trên văn phòng ông chủ có treo hình ông nội của ông là ông chủ sáng lập ra xưởng, đến hình cha ông là người thừa kế, đến ông là đời thứ ba tiếp tục điều hành cái xưởng thấp lè tè từ thời Đệ nhị thế chiến nhưng làm ra những cái xẻng đào giao thông hào, hố cá nhân cho quân đội Mỹ là niềm tự hào của một gia đình cha truyền con nối. Cái xưởng giờ đã cũ đến có rắn trên trần nhà chứ chuột đã có quốc tịch từ lâu, những con chuột bản địa, bản xứ già lụ khụ tới đi không nổi, một lần té xuống sàn nhà từ những lỗ thủng trên trần nhà là coi như vĩnh biệt vì không còn sức lực để trở lại giang sơn, quê quán trên ấy…

Một ngày như mọi ngày, tiếng máy giập kim loại cứ đều đặn chạy, cho ra những sản phẩm kim loại nhỏ nhỏ, xinh xinh cho người ta lắp ráp nhiều vật dụng trên đời từ máy móc tới đồ gia dụng. Nhưng đừng thấy xưởng nhỏ, cũ kỹ tồi tàn mà xem thường, nơi đây từng làm ra cái lò xo cho điện thoại Nokia thời còn hai nửa gấp lại, mở ra. Rất khó tin là xưởng được hợp đồng với hãng máy bay Boeing, dù chỉ làm ra tấm lưng bằng kim loại cho cái microway trên máy bay, một tấm kim loại mỏng phía sau cái microway nhưng xài trên máy bay nên không được nhiễu sóng điện từ, nên mắc tiền bằng nguyên cái microway mới ra đời, bán ngoài chợ đồ điện gia dụng khi cái microway còn chưa có đĩa xoay…

Mới đầu nơi đây còn mang hơi hướm Mỹ là Hợp chủng quốc nên có Mỹ đen, Mễ, Việt nam và người Nam Mỹ. Nhưng theo thời gian, những người quốc tịch khác Việt nam bỏ việc đi hãng khác, người xin được qua làm việc khác trong xưởng cho sạch sẽ hơn, nơi làm việc sáng sủa hơn được phần nào, không có chuột rơi, rắn lưọn trên trần nhà phát ớn... Nhìn đi nhìn lại còn toàn Việt nam là ba người cũ và ba người mới vào làm. Tới đây là đủ dân ca ba miền của quê ta vì bắc trung nam có hết. Ông bắc di cư thường não nề khi nghe ông than “giời ơi” và “ối giời ơi…” thì ai cũng ối não với giọng bi thương tới nổi da gà, “Ối…giời… ơ…i…, sao khổ thân tôi thế này!” Khổ hơn việc ông phải làm là giọng khổ đã ám vào thân ông từ lọt lòng mẹ hay sao mà nghe khổ tận cùng khổ. Thở dài thì ai chả từng thở dài khi bó tay, nhưng không ai thở dài não nùng và đẫm lệ như ông, nghe ông thở dài thì dế cũng khóc, cào cào châu chấu bay lượn chia buồn với chỗ làm của ông trống hoác ra một lỗ vách to tướng do xe xúc ủi xập mà không ai vá lại lỗ thủng cho ông nên gió bấc về, lạnh hơn Hà nội quê ông nhiều. Ông chỉ được mỗi việc giỏi hơn làm là khi nghe rủ nhậu là ông quên hết sự đời, hết ối giời ơi để hào hứng tham gia với hết lòng nhiệt tình. “Ối giời lạnh…” nghe bi ai sầu thảm thì “ối giời ngon, mồi ngon…” nghe muốn bỏ ăn lạt, bỏ theo Phật năm phút để suýt soa theo ông đưa cay miếng phèo heo chấm nước mắm mặn giằm ớt trái, lại kèm miếng dưa chua đưa cay rượu lạt thì ối giời ơi… trên cả tuyệt vời.

Mấy người nam bộ, dân miền tây làm chơi ăn thật đã quen nên tỉnh bơ thế sự nhân tình. Chủ nói ngày mai làm sớm vì cần hàng nhưng tối lỡ nhậu thì hôm sau đi làm trễ hơn bình thường, người không tỉnh nồi thì nghỉ ở nhà luôn cũng không sao vì ông chủ là dân nhậu thứ thiệt nên rất sẵn lòng thông cảm, đích thân ông dậy sớm đến xưởng để khích lệ tinh thần anh em, và ông sẽ đứng máy thay cho người chưa tỉnh rượu bia nên không đi làm. Ông làm cho tôi có cảm tình với người Mỹ, nước Mỹ rất nhiều khi tôi mới qua Mỹ. Tôi chưa hề quên hình ảnh hai anh em ông là Mỹ trắng, là chủ xưởng mà ôm chặt ba thế hệ nhà ông Mỹ đen vừa qua đời. Họ khóc thương ông Mỹ đen như người thân ruột thịt khi tang lễ, anh em ông chủ vô cùng thương tiếc ông Mỹ đen đã làm việc ở xưởng nhà ông từ thời cha ông còn sống…

Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…



Tôi nghe mà nể trọng ông là người hiểu biết dù hơi khó nghe giọng ngoài trung của ông, tôi không hiểu vì sao ông cáu gắt khi có người hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung; nếu là người Quảng thì Quảng gì, có gì đâu mà ông cáu gắt với những người trong nam đặt câu hỏi. Ông dường như chỉ chừa mặt ông bắc kỳ là không cáu gắt vì ông cũng nổi da gà khi nghe “ối giời ơi” và tiếng thở dài sâu thẳm hơn hồ Gươm, hồ Hoàn kiếm…

Cuối cùng, chính là lão rùa vàng hồ Gươm phát hiện ra tài của dị tướng miền trung là hay hát, hát suốt trong lúc làm việc, hát cả ngày... Lão rùa hỏi tôi có nghe rõ chữ “ở” trong câu hát đi hát lại của lão dị suốt ngày? Tôi lắng tai nghe cho kỹ phát âm từ “ở” trong câu, “em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…” Tôi càng lắng nghe cho kỹ trong tiếng máy giập kim loại chạy ình ịch suốt ngày… tôi càng thấy bốc mùi vì chữ “ở” nghe mùi lắm, không phải mùi mẫn mà mùi hương… cho tới hôm hoàn toàn không cố ý, chỉ là ngẫu hứng với âm nhạc khi ông dị cất tiếng hát quen thuộc và tai nghe chưa hề có vấn đề của tôi thì chính xác là, “em ỉa nơi nào…” Tôi ngẫu hứng xuống xề… “có còn mùi hương không em?”

Mọi người cười tới ngưng làm vì ai cũng ôm bụng cười thì sao làm việc được, vừa lúc ông chủ xách chai rượu đỏ ngon xuống xưởng với một cọc chung nhựa nhỏ, ông rót cho mỗi người một chung thưởng thức rượu ngon ngay trong lúc làm việc là phong cách của ông chủ xưởng nhà. Ông chủ không hiểu chuyện gì mà đám Việt nam cười nghiêng ngả, ông lờ mờ hiểu chuyện không lành khi thấy ông dị cũng ngưng làm, mặt đỏ lên phừng phừng như uống rượu mạnh chứ không phải rượu đỏ, ông dị làm cho tôi một trận tới nơi tới chốn, nào là “chém cha không bằng nhái giọng”. Rồi chuyển qua chụp mũ liếm giày thực dân, bợ đít đế quốc… ông mạt sát tôi tối tăm mặt mũi. Tôi uống chung rượu đỏ của ông chủ cho để bình tĩnh lại khi còn trẻ, dễ bất chấp phải trái mà xử luôn, xử liền, xử đẹp khi bị lăng nhục… Cuối cùng tôi xin lỗi ông tôi đã sai khi nhái giọng là việc không nên làm. Ông không tha thứ cho tôi mới khó xử khi chỉ còn cách ra sân, ra bãi đậu xe để phân phải trái. Đến ông rùa hồ Gươm nổi nóng, “đếch nói phải trái, không xin lỗi xin phải gì nữa, có dám thì ra parking nói chuyện phải trái…” Nhưng tôi vẫn kiên trì xin lỗi những ngày sau đó dù không được tha thứ, bỏ qua…

Cho đến vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001. Kinh tế suy thoái sau đó, xưởng nhà cô quạnh đơn đặt hàng tới ông chủ tuyên bố đóng cửa xưởng vẫn chăm lo cho công nhân tới hết khả năng của anh em ông, làm nhiều người rơi lệ. Ông chủ gọi tôi lên văn phòng ông và nói chuyện ngoài ý muốn của tôi với ông. Ông viết cho tôi lá thơ giới thiệu đi bất cứ nơi đâu tôi xin việc làm, ông bảo đảm với nơi nhận tôi vô làm việc bằng lời giới thiệu tôi là người công nhân làm việc giỏi, siêng năng và chăm chỉ. Xin gọi cho ông khi muốn nhận tôi vô làm việc ở hãng xưởng nào đó mà tôi xin việc để biết rõ hơn về tôi. Xin hãy giúp ông nhận tôi vô làm việc, ông vô vùng biết ơn.... Và ông sẽ nhận lại tôi là người đầu tiên khi xưởng ông có lại việc làm… thì bố ai ngu dại khờ nhận tôi vô hãng họ như nuôi ong tay áo. Nhưng tấm lòng ông chủ xưởng tôi là điều tôi không quên về nước Mỹ và người Mỹ đích thực.

Tôi về ăn tiền thất nghiệp trong vận rủi có may đến liền, ông bạn lôi tôi đi làm nhà hàng thành ra có hai đầu lương, muốn nghèo cũng khó nhưng bất an với chuyện ông dị vì mình đã có lỗi nhưng không được tha thứ, bỏ qua. Tôi mang án treo không có ngày mãn án cho tới hôm nay, đã là ngày ông rùa hồ Gươm gọi cho tôi báo tin ông dị đã qua đời, có thể thì đi dự tang lễ ông ấy là lời xin lỗi cuối cùng, không bỏ qua thì làm gì nhau khi ông cất tiếng hát, “em ở nơi nào…” thì mọi người cùng vô điệp khúc, “có còn mùi hương không em…” Tôi chỉ có lỗi đã nghĩ ra điệp khúc ấy! Người bắc gốc gác của tôi mà tôi mới hiểu ra một đặc tính của người bắc là ông rùa…

Gặp nhau không ngờ ở nhà quàn vì ông rùa đã lên cụ. Ông dị vẫn đăm đăm nhìn tôi dù chỉ còn là di ảnh. Vợ ông đặc biệt quan hoài đến tôi với ông cụ rùa khi biết ra là bạn làm chung với ông dị đã mấy chục năm không gặp nhưng hay tin qua báo đài địa phương vẫn đi viếng tang lễ ông dị với hết tình xưa nghĩa cũ… Bà quả phụ mới toanh dành thời gian cho tôi với ông cụ rùa hơi nhiều khi tâm sự với chúng tôi về ông dị. Cha ông là người Quảng trị miền xuôi, nhưng là người buôn muối lên mạn núi và buôn thổ sản rừng về xuôi bán lại. Ông nội tụi nhỏ phải lòng và cưới làm vợ một cô sơn cước người dân tộc, sinh ra ông dị đi ngược lên núi là quê ngoại mà về xuôi với biển là quê nội. Tới chiến tranh ngày càng khốc liệt thì cha ông đưa gia đình về Đà nẵng để sinh sống, tốt hơn cho việc kinh doanh của ông nội đám nhỏ ở Quảng trị quê ông từ biển lên núi Trường sơn. Thế là ông dị nhập nhằng tiếng Quảng trị miền xuôi miền núi, tiếng Quảng nam ở Đà nẵng khi ông khôn lớn…

Điều tôi không bị trầy da mà đau như đổ ruột khi nghe vợ ông dị kể, ông đi lính Việt nam Cộng hoà chứ không theo Việt cộng. Đóng quân nhiều nơi thì có nơi ông có người yêu, và khi trở lại thăm thì người yêu ông đã chết trong bom đạn chiến tranh… nên ông tuy sau đó lập gia đình với bà nhưng thành thật tỏ lòng nên bà thông cảm ông hay hát chỉ một câu… “Em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…!”

Tôi nghe bà kể, nước mắt tôi trào ra không cầm lại được, là lời xin lỗi chân thành với vong linh ông dị. Xin ông tha thứ cho tôi…


Phan

Ý kiến bạn đọc
22/10/202410:36:07
Khách
Chuyện kể rất thật, rất có hậu về tình người rất hiếm có trong nhân gian! Lời văn mộc mạc, khúc chiết, dí dỏm... Rất mong tác giả viết thêm nữa...
06/10/202417:47:33
Khách
Hay, tức cười

Hay! Vừa vui, vừa ngậm ngùi, khi đọc bài này. Cám ơn tác giả.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.