Hôm nay,  

Đủ Điểm Làm Người?

01/08/202500:00:00(Xem: 1968)
 
iStock-2159552400 học trò bé

Nghiên cứu cho thấy học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt. Ảnh: istockphoto.

 
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy.

Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.

Nói đến con số, không ai mê số như tổng thống Trump. Với ông, IQ là thước đo tuyệt đối. Ai về phe ông thì “IQ cao.” Ai phản đối – giáo sư, nghệ sĩ, nhà báo, thẩm phán – ai nấy đều “thấp”, đều “very stupid”. Còn ai vừa tâng bốc vừa có tiếng như Kanye West – người từng bảo chế độ nô lệ là “một lựa chọn” – thì được ông ca ngợi là “rất, rất thông minh.”

Niềm tin đơn giản  – rằng một con số có thể định nghĩa con người – nghe thiếu tim óc, nhất là khi thốt ra từ miệng một chính trị gia. Nhưng nó đã từng là một chính sách quốc gia.

Vào đầu thế kỷ 20, Alfred Binet, một nhà tâm lý học người Pháp, sáng tạo ra bài kiểm tra giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt được hỗ trợ trong học đường [1]. Nhưng khi bài kiểm tra ấy vượt đại dương sang Mỹ, nó không còn là công cụ hỗ trợ, mà trở thành công cụ phân loại. Henry Goddard – người tiên phong áp dụng Binet test tại Mỹ – nhanh chóng chia trí tuệ con người thành ba bậc: “idiot” (ngu si), “imbecile” (đần độn), và một chữ mới do ông sáng chế: “moron” (tửng/ngố) [2].

Moron – hay tửng – theo ông – là hạng nguy hiểm nhất, vì những người này có thể hòa nhập xã hội mà không ai biết. Họ biết đi làm, biết yêu, biết đẻ – nhưng không giỏi - và như vậy cần phải ngăn chặn họ, bằng cách ly, hoặc bằng triệt sản.

Năm 1911, Henry Goddard áp dụng bài kiểm tra IQ cho 2.000 học sinh trường công, rồi tuyên bố: có tới 18% trong số đó thuộc diện “thiểu năng trí tuệ” [3]. Kết luận này – không có nhóm đối chứng, không qua thẩm định khoa học – vậy mà nhanh chóng được xem như chân lý. Chỉ bốn năm sau, học khu Los Angeles mở chiến dịch “điều tra trí tuệ” toàn diện, thu thập hồ sơ học tập, đánh giá sức khỏe, và áp dụng bài kiểm tra Binet để xếp lớp học sinh. Những em bị xem là “lệch khỏi tiêu chuẩn” – không cần vi phạm kỷ luật hay thất học – lập tức bị tách khỏi lớp bình thường.

Đến năm 1921, tại Columbus, Ohio, người ta áp dụng cách phân loại tương tự. Giữa niên học, 41 học sinh bị buộc phải học lại chương trình học kỳ trước vì điểm IQ không khớp với “tuổi trí tuệ.” Sáu em bị giáng nửa lớp. Một em bị hạ nguyên năm. Ngược lại, 22 học sinh có điểm cao bất thường được nhảy lớp – không phải vì thành tích, mà vì con số.

Và kể từ đó, biểu đồ hình chuông trở thành giáo trình quốc gia. [4]

Đến năm 1954, việc kiểm tra IQ đã trở thành một định chế lớn trong giáo dục Mỹ. Chỉ riêng trong năm ấy, hơn 75 triệu bài thi chuẩn hóa được tổ chức cho khoảng 25 triệu học sinh – tức bình quân ba bài mỗi học sinh, chỉ để phân loại. Những em đạt điểm cao – nằm phía tay phải của biểu đồ hình chuông – được xếp vào lớp nâng cao, hưởng chương trình tốt hơn, giáo viên giàu kinh nghiệm hơn. Ngược lại, những em nằm bên trái đường cong – bị xem là thấp IQ – bị chuyển sang các lớp gọi là “Life Skills”. Nghe thì tưởng nhân văn, nhưng thực chất chỉ là nơi dạy trẻ cách tồn tại bên lề: không có văn chương, không có lịch sử, không có tư duy trừu tượng. Chỉ có những bài học căn bản để “làm theo,” và sống trong khuôn mẫu do người khác vạch sẵn.

Năm 1959, James Bryant Conant – cựu hiệu trưởng Đại học Harvard – đề nghị hạ ngưỡng IQ dành cho học sinh “năng khiếu” từ 140 xuống còn 130. Chỉ một vạch nhỏ được kéo xuống trên biểu đồ, thế là nước Mỹ bỗng có thêm hàng trăm ngàn “thần đồng.” Nhưng ở phía bên kia đường cong, mọi chuyện lại khắc nghiệt hơn. Chỉ cần một học sinh có IQ 72 thay vì 70 là đã đủ để không bị liệt vào diện “thiểu năng trí tuệ,” và vì vậy có thể tránh khỏi các biện pháp cưỡng bức như triệt sản. Cho đến tận năm 1981, tiểu bang Oregon vẫn còn duy trì luật triệt sản đối với người bị dán nhãn “không đủ trí tuệ” [5].
Như thế, với chỉ một cú rê bút trên biểu đồ, vận mệnh con người bị đẩy sang bên phải hay bên trái vạch ngăn.

Vào đầu thập niên 1970s, một số học giả bắt đầu thấy rõ cái giá của việc gán nhãn. Trong một báo cáo công bố năm 1972, Nicholas Hobbs cảnh báo rằng trẻ em bị dán mác “thiểu năng” có thể bị tước quyền học hành, bị cô lập, thậm chí bị cưỡng bức triệt sản – tất cả chỉ dựa trên kết quả một bài kiểm tra, mà không hề có đánh giá độc lập nào khác. Thế nhưng thay vì đề nghị xóa bỏ nhãn, Hobbs lại kêu gọi tinh chỉnh nhãn cho “chính xác hơn,” “phân loại kỹ hơn.” Một hệ thống vốn đã sai, nhưng thay vì gỡ bỏ, người ta lại bọc thêm lớp – như thể sai lầm có thể sửa bằng cách… phân loại khéo hơn.

Đến năm 2001, Đạo luật ‘No Child Left Behind’ được ban hành [6]. Nghe thì đầy thiện chí – “không học sinh nào bị bỏ lại” – nhưng trên thực tế, nó biến nhà trường thành xưởng sản xuất điểm số. Học sinh buộc phải làm bài kiểm tra liên tục để được “lọc” vào chương trình học phù hợp. Theo một báo cáo năm 2014, học sinh lớp 11 tại nhiều bang dành đến 15% thời gian trong năm học chỉ để thi. Những gì không kiểm tra được – không được dạy. Những gì không hiện thành con số – không được tính.

Và thế là ta bước vào thời đại mà giá trị một học sinh không còn được đánh giá bằng hành vi, mà bằng biểu đồ.

Vài tháng trước, ngày 29 tháng Giêng năm 2025, một chiếc trực thăng quân đội và máy bay dân sự American Airlines va chạm trên không phận Washington D.C., khiến 67 người mất mạng. Khi nguyên nhân tai nạn chưa kịp điều tra, Tổng thống Trump trong cuộc họp báo không phải để chia buồn hay để điều tra, đã tuyên bố: chính sách tuyển dụng người khuyết tật của Cục Hàng Không Liên Bang (FAA) chính là thủ phạm [7]. Ông nói: “Họ đã tích cực chiêu mộ những người mắc chứng rối loạn tâm thần nặng, trí tuệ khiếm khuyết, và nhiều loại tật nguyền khác,” ông khẳng định, tai nạn xảy ra “chỉ vì thuê mướn theo chính sách đa dạng.”

Không dẫn chứng. Không bằng chứng. Chỉ cần ông thấy đó là “lẽ thường.” Và theo “lẽ thường” ấy, người khuyết tật thì không thể làm việc tốt. Ai không thấy vậy hẳn sẽ bị ông cho là thuộc loại trí khôn “thấp.”

Ngày 7 tháng 3, khi được hỏi về kế hoạch và hậu quả của việc giải thể Bộ Giáo Dục, bà Linda McMahon – người đứng đầu cơ quan này – không đưa ra định hướng hay lo ngại. Bà chỉ đáp: “Chúng ta sẽ thấy điểm số tăng.” Một câu trả lời ngắn gọn, vô cảm – như thể việc tháo gỡ toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ khiến mọi thứ tự động tốt đẹp hơn.

Còn Bộ trưởng Y Tế, Robert F. Kennedy Jr., thì dõng dạc tuyên bố: “Người tự kỷ sẽ không bao giờ làm việc. Không chơi bóng. Không làm thơ.” [8]. Có lẽ ông chưa từng đọc Emily Dickinson.

Ngược hẳn với những tuyên bố dễ dãi ấy, hàng chục năm nghiên cứu cho thấy: học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt – họ biết cảm thông, biết cộng tác, biết lắng nghe, trở thành những nhân tố tốt đẹp trong xã hội. Những điều ấy không nằm trong bài kiểm tra, không hiện thành con số – và vì không đo được, nên không được đếm.

Trong năm học 2022–2023, có đến 7.5 triệu học sinh Mỹ – tức khoảng 15% – theo học dưới bảo trợ của Đạo luật IDEA [9]. Thế nhưng, trong số những em bị dán nhãn “khuyết tật trí tuệ,” chưa tới 18% được học chung với bạn bè cùng lớp quá 80% thời gian. Con số ấy không nhúc nhích suốt 25 năm qua.
Và ai cũng làm như không thấy cần sửa gì, bởi chấp nhận thứ “lẽ thường” kiểu Trump – thứ ‘Common Sense’ thời hậu sự thật – không cần đúng, chỉ cần được cho là đúng là đủ. Và khi nó được lặp lại đủ lâu, nó trở thành chính sách.

Bé gái cháu tôi vẫn đến trường mỗi ngày. Nhìn cháu kiên nhẫn buộc dây giày, tôi hiểu: trí tuệ không phải là tốc độ, càng không phải là kết quả điểm thi. Trí tuệ là sự nhẫn nại, là khả năng nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của người khác. Là khi một đứa trẻ không nói được câu hoàn chỉnh nhưng vẫn chìa tay ra nắm lấy tay bạn mình.

Điều đó – không có cột điểm nào đo được. Cũng không nằm trong “lẽ thường”.

Và nếu chúng ta cứ tiếp tục định nghĩa giá trị con người bằng biểu đồ, thì không chỉ trẻ khuyết tật bị loại trừ. Mà chính ta – những người đã quên rằng con người không phải một con số – mới là kẻ thiếu trí tuệ.

Nguyên Hòa
Chú thích:
  1. Alfred Binet phát minh ra bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên vào đầu thế kỷ 20, với mục
  2. Henry H. Goddard là người đầu tiên phổ biến bài kiểm tra IQ tại Mỹ và là người đề ra thuật ngữ “moron.” Xem: Zenderland, Leila. Measuring Minds: Henry Herbert Goddard and the Origins of American Intelligence Testing. Cambridge University Press, 1998.
  3. Tuyên bố của Goddard về việc 18% học sinh bị xem là “thiểu năng trí tuệ” không dựa trên dữ liệu kiểm chứng khoa học. Tham khảo: Rose, Nikolas. The Politics of Life Itself. Princeton University Press, 2007.
  4. Việc dùng điểm IQ để phân lớp học sinh đã trở thành tiêu chuẩn tại nhiều học khu, trong đó có Los Angeles (1915) và Columbus, Ohio (1921). Xem: Tyack, David & Cuban, Larry. Tinkering Toward Utopia: A Century of Public School Reform. Harvard University Press, 1995.
  5. Luật triệt sản người bị gán nhãn “thiểu năng trí tuệ” được duy trì tại nhiều bang Mỹ đến cuối thế kỷ 20. Oregon chính thức hủy bỏ luật triệt sản bắt buộc năm 1983. Xem: Lombardo, Paul A. Three Generations, No Imbeciles: Eugenics, the Supreme Court, and Buck v. Bell. Johns Hopkins University Press, 2008.
  6. Đạo luật No Child Left Behind (2001) và hậu quả của việc biến giáo dục thành cơ chế sản xuất điểm số. Xem: Ravitch, Diane. The Death and Life of the Great American School System. Basic Books, 2010.
  7. Về vụ va chạm trực thăng và phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày 30/01/2025, xem: Washington Post, “Trump Blames FAA Diversity Policy for D.C. Crash,” 31 January 2025.
  8. Tuyên bố của Robert F. Kennedy Jr. về người tự kỷ được ghi lại trong buổi họp báo Bộ Y Tế, ngày 12 tháng 3 năm 2025. Xem: CNN, “RFK Jr. Says Autistic Children ‘Can’t Play Ball or Write Poetry’,” 13 March 2025.
  9. Nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật: Hehir, Thomas et al. “A Summary of the Evidence on Inclusive Education.” Abt Associates, 2016. Đạo luật IDEA bảo đảm mọi trẻ em có khuyết tật tại Hoa Kỳ được học miễn phí trong môi trường phù hợp với nhu cầu riêng. Luật quy định phải có kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP), ưu tiên học chung với học sinh không khuyết tật, và có sự tham gia của phụ huynh. IDEA cũng bảo vệ quyền pháp lý của gia đình trong các quyết định giáo dục. 

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.