Hôm nay,  

Hùng Lân

10/10/202500:00:00(Xem: 6770)
Hung Lan 8

Nhạc sĩ Hùng Lân (1922-1986)

 
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầy Hùng Lân đó là cả một nền thánh nhạc Việt Nam, trong đó đại diện là nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh cùng với bao nhiêu bài thánh ca bất hủ để lại trong lòng giáo dân…”.

Hung Lan 1

Nhạc sĩ Hùng Lân giảng dạy tại trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ.


Với một lễ tưởng niệm trong nhà thờ như vậy, người ta dễ nghĩ Hùng Lân là một nhạc sĩ của thánh ca. Nghĩ như vậy không phải là sai nếu nhìn vào những bước đầu tới với âm nhạc của ông. Hùng Lân tên thật là Hoàng văn Hương, sanh ngày 23/6/1922 tại phố Phủ Doãn, Hà Nội, trong một gia đình Công Giáo. Mới được 8 tuổi, ông đã học nhạc với linh mục người Pháp tên P. Depautis, tên Việt là Cố Hương. Năm 1934, 12 tuổi, ông tiếp tục học nhạc với cha J. Bois tại Tiểu chủng viện Thánh Phêrô Hoàng Nguyên ở Hà Đông và Đại chủng viện Xuân Bích ở Hà Nội. Ông thành lập Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh quy tụ những nhạc sĩ sáng tác nhạc và giữ chức Đoàn Trưởng. Ông là một trong những người tiên phong sử dụng tiếng Việt để hát thánh ca tại Việt Nam. Ngày nay, trong mùa Giáng Sinh, tại khắp nơi, trong và ngoài thánh đường, bản thánh ca “Đêm Thánh Vô Cùng” (Silent Night), lời Việt của Hùng Lân luôn văng vẳng trong suốt mùa lễ. Tham dự các thánh lễ ngày Chủ Nhật tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại, tôi nhiều lần nghe các bài thánh ca của Hùng Lân như Về Đây Mẹ Ơi, Về Bên Chúa, Trần Hoàn Vui Lên, Cao Vời Khôn Ví, Trên Núi Cây Dầu hay Tình Yêu Dâng Hiến mà không hề biết đó là nhạc của ông.

Hung Lan 2

Gia đình nhạc sĩ Hùng Lân.


Thánh ca chỉ giới hạn trong nhà thờ và hầu như giáo dân không biết tên tác giả nên không làm nên tên tuổi của nhạc sĩ sáng tác. Hùng Lân được nhiều người biết đến nhờ nhạc đời. Ngay từ những ngày còn nhỏ, tôi đã cùng các bạn học gân cổ hát Khỏe Vì Nước hay Hè Về. Các bài hát này quen thuộc với giới học sinh đến nỗi chúng tôi cũng hát một cách say sưa với những lời chế mà tác giả chắc không vừa lòng. Nhưng chính những lời chế đã chứng tỏ sức phổ biến của tác phẩm. Ca sĩ Quỳnh Giao, từ năm 1986, đã bắt đầu cầm bút viết về tân nhạc Việt Nam. Hát đã hay, cầm bút cũng hết xảy. Những bài viết của Quỳnh Giao trên báo Văn Học, Người Việt, Thế Kỷ 21 và giọng đọc trên các đài BBC và VNCR được mọi người theo dõi một cách say mê. Dĩ nhiên cô không quên viết về nhạc sĩ Hùng Lân, người thầy dạy cô môn nhạc lý và ký âm pháp tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn.  Cô tâm sự: “Thầy Hùng Lân rất tận tâm và nghiêm khắc nên lũ học trò vừa sợ vừa thương. Cho đến nay, đối với riêng Quỳnh Giao, thầy Hùng Lân là người dậy môn nhạc pháp giỏi nhất. Thầy đã đào tạo biết bao nhạc sinh xuất sắc và những người học trò của thầy sẽ không bao giờ quên ơn và quên phương pháp giảng dậy thật hữu hiệu mà dễ hiểu của thầy. “Hè Về” là ca khúc Mùa Hè đẹp nhất của chúng ta. Hùng Lân có biệt tài viết lời ca nhanh và liền lạc như một chuỗi hạt trai. Quý độc giả cứ thử hát lại rồi sẽ có cảm giác bồng bềnh, mênh mông, rào rạt trên sóng của áng mây hồng buổi sớm mai, của mầu xanh ngọc bích nơi cành lá, của mầu phượng đỏ rung rinh ngoài nắng. Và còn nữa: đám mây trắng đùa với nắng, đàn chim én tung cánh đo trời, dưới thì đồng lúa vàng nhịp nhàng cao thấp trên sườn đồi. Hương sen thanh nồng lan theo gió mát. Cảnh đã đẹp mà nhạc thì lôi cuốn, dìu dặt và trong sáng. Chỉ trong một đoạn mà người thưởng thức nghe được tiếng ve, tiếng trúc; ngắm được mây trắng, lá ngọc, chim én, lúa vàng, mà còn ngửi được hương thơm của sen nồng. Hát cả câu lên để thấy lòng lâng lâng, thanh thoát. Người ngoại quốc học tiếng Việt một trăm năm có lẽ cũng không thể đọc kịp lời khi hát ca khúc này”.

Hung Lan 3
Hình như bài “Hè Về” liên kết với Hùng Lân nhiều nhất. Tôi cũng gọi ông là “ông Hè Về” khi may mắn gặp ông. Trong cuốn Phiếm 15, tôi đã viết về cuộc hội ngộ bất ngờ này: Ngày tôi phồng mang trợn má hát bài “Hè Về” một cách say sưa, tôi đâu có để ý tới ông nào là tác giả. Vậy mà tôi đã gặp ông Hùng Lân trong một trường hợp hết sức bất ngờ. Tháng 9 năm 1967, tôi qua thủ đô Hoa Thịnh Đốn tham dự một cuộc hội thảo về chuyên ngành tôi đang làm việc. Ban tổ chức sắp đặt cho tôi cư ngụ tại khách sạn Annapolis. Cái khách sạn này làm phiền tôi không ít. Mỗi lần bắt taxi về lại khách sạn là một lần tôi vất vả với cái tên khách sạn. Lần đầu lớ ngớ qua Mỹ, phát âm tiếng Mỹ của tôi chưa chuẩn với những chỗ cần nhấn mạnh hay thả yếu. Đọc cái tên Annapolis thẳng băng, không nhấn mạnh vào âm thứ hai như dân địa phương, chẳng ông tài xế taxi nào hiểu cả. Có nhiều lần phải móc tấm danh thiếp của khách sạn trình cho các ông ấy thì mới được đưa về tới nơi tới chốn. Còn không, họ cứ tưởng tôi muốn đi tới bót…police! Tôi đang chán cái khách sạn oái oăm này, nơi mà trần xì mình tôi là người Việt Nam, thì một buổi sáng cuối tuần, dậy sớm, ra đường còn thưa thớt người, đang chổng mông ngó vào tủ kiếng của một cửa hàng, thì thấy thấp thoáng trong kính hai ông đầu đen. Quay đầu lại, một ông buột miệng hỏi bằng tiếng Việt:“Việt Nam hả?”. Tôi mừng như bắt được của. Ngày đó thấy một cái đầu đen Á Châu đã thấy có cảm tình, cái đầu đen này lại nói tiếng Việt thì mừng hết lớn. Chuyện nổ như bắp rang, hỏi “lý lịch” nhau, ông mới xưng ông là nhạc sĩ Hùng Lân. Hoá ra là ông…Hè Về! Ông hỏi han người đang ở đâu tá, tôi nói tình thực, ông phán ngay: “Ở vậy thì buồn chết! Về chỗ tớ ở cho vui!”. Vậy là tôi về khách sạn, trả phòng, đi theo ông nhạc sĩ. Nhà ông ở gần Tòa Bạch Ốc. Nghe thì sang nhưng đó là nhà nghỉ rẻ tiền của sinh viên tên Hartnett Hall. Ngày đó, dân Việt du học hay đi tu nhiệp tụ nhau ở đây. Cuối tuần tổ chức ăn uống nhậu nhẹt với nhau vui hết biết. Tôi vui vì có đồng hương nhưng cũng vì nhẹ túi được chút đỉnh, có thêm tiền đi chơi, sắm sửa. Ngày đó ông Hùng Lân làm việc tại Trung Tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo Dục, được cử qua Mỹ tu nghiệp. Qua vài tháng ở với nhau, chúng tôi coi nhau như anh em, dù ông lớn hơn tôi 16 tuổi. Tôi trở về Việt Nam trước, khi ông Hùng Lân về lại thì chúng tôi tới chơi nhà nhau ở Sài Gòn rất thường. Lúc đó ông ở Đa Kao, tôi ở Thị Nghè, khá gần nhau. Hùng Lân có dáng người đạo mạo nhưng rất vui vẻ, bình dị và dễ thân tình. Chơi với ông, tôi hầu như quên đi ông là một tên tuổi lớn, có những nhạc phẩm lớn. Bản Khoẻ Vì Nước thì dịp trình diễn thể thao nào mà không vang lên một cách hùng hồn. Bài Rạng Đông chúng ta ai chẳng biết.  Bản Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Cô Gái Việt, Mùa Hợp tấu, Hận Trương Chi…Nhưng tôi hoàn toàn không biết ông cũng là tác giả bài Ông Nỉnh Ông Nang được ban hợp ca Thăng Long trình diễn rất xuất sắc. Tôi cũng không ngờ ông là cha đẻ của bài Em Yêu Ai mà lứa con tôi nghêu ngao hàng ngày. Nếu hỏi rằng, em yêu ai / Thì em rằng em yêu ba này /Thì em rằng em yếu má này / Yêu chị yêu anh / Yêu hết cả nhà. Hay là bản Thằng Tí Sún mà lũ con tôi ê a ngày nhỏ: Ê! Cái thằng Tí sún, Tí sún / Nhe cái răng nham nhở chổi cùn / Vì nó lười đánh răng sớm tối / Lại ăn kẹo suốt ngày không ngơi”.
Thời gian sống với nhau tại Harnett Hall đâu cũng chừng 3 tháng, mỗi cuối tuần đám sinh viên và viên chức tu nghiệp bày ra nhiều trò trong đó có trò ăn uống là sôi động nhất. Đầu têu là ông Hè Về. “Tiệc” thường là đùi gà chiên. Chén bát không có một tiệm nào sánh bằng. Những tên có chén ăn cơm đúng tiêu chuẩn không nhiều. Còn thì bất cứ thứ chi có thể đựng được đều được sử dụng hết kể cả bình cắm bông. Ông nhạc sĩ nhiều tuổi nhất săn sóc đám không vợ không con như ông anh cả nhiều tâm huyết. Ngày tôi về lại Việt Nam, va li của tôi được ông dán không biết bao nhiêu bảng tên chung quanh. Cho chắc ăn!

Hung Lan 4

Trong cuộc sống thường ngày, ông là người cẩn thận nhất trong những người cẩn thận mà tôi gặp. Tôi nghĩ khi sáng tác, chắc ông cũng mân mê bản thảo tới nẫu ra thành nước. Nhưng Hùng Lân không viết nhạc tình, thứ nhạc nẫu ra thành nước. Hình như ông chỉ có vài bài như “Sầu Lữ Thứ”, “Hận Trương Chi” là hơi tình một chút. Ngày ở Washington D.C. ông có khoe với tôi bài “Tuyết Rơi” không biết ông viết khi nào. Có lẽ là trong những ngày nhìn tuyết rơi tại Mỹ. Bài này ông chỉ viết lời Việt cho nhạc phẩm bất hủ “Tombe la Neige” của Adamo mà Phạm Duy đã đặt lời Việt trước đó. Đây là mấy câu đầu trong bản tiếng Việt của Hùng Lân: “Ngoài kia tuyết rơi đầy / Em không đến bên anh chiều nay / Ngoài kia tuyết rơi rơi /  Trong băng giá tim anh tả tơi”.
Nhạc Hùng Lân không phải nhạc có thể ngồi yên nghe mà là nhạc…giật. Nó thúc giục người nghe lắc lư nghêu ngao theo. Làm sao có thể ngồi yên trên ghế để hát Hè Về, Khỏe Vì Nước, Rạng Đông? Phải đứng lên, há họng hết cỡ, căng người rống lên mới đã. Nhưng bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” thì khác, trầm buồn nghiêm trang làm lắng đọng người nghe. Nhiều người cho rằng bản nhạc này xứng đáng là quốc ca của Việt Nam. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Quốc Hội Lập Hiến khai mạc vào tháng 3/1956 đã có bàn về việc chọn quốc ca. Có nhiều bài đã được mang ra thảo luận gồm: “Chào Mừng Việt Nam” của Phạm Duy, “Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam” và “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của Hùng Lân, “Một Trời Sao” của Ngô Duy Linh, “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” của Ngọc Bích và Thanh Nam. Sau khi bàn cãi, bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của Hùng Lân được coi là sáng giá hơn nhưng cuối cùng Quốc Hội Lập Hiến lại chọn bài quốc ca mà chính phủ Nguyễn văn Xuân và sau đó chính phủ Nguyễn văn Tâm đã chọn trước đó, rồi ra lệnh cho nhân viên đài Phát Thanh Sài Gòn giữ nguyên phần nhạc nhưng phải sửa lại tên từ “Tiếng Gọi Sinh Viên” thành “Tiếng Gọi Công Dân” và phần lời ca cho phù hợp với giai đoạn mới và vận hội mới của đất nước. Nhiều người tiếc cho quyết định này của quốc hội. Tại sao các dân biểu thời đó không can đảm chọn một bài  tụng ca đất nước tươi đẹp với nét nhạc trầm hùng của một nhạc sĩ đã có nhiều cống hiến cho nền nhạc Việt từ thuở phôi thai mà lại giữ lại một bản có lời lẽ sắt máu của một nhạc sĩ khi đó ở bên kia chiến tuyến. Lưu Hữu Phước đã phát biểu một cách biếm nhẽ về việc này trên đài phát thanh Hà Nội với những lời lẽ giễu cợt là bài hát của ông “vẫn cứ bị người bên kia chiến tuyến sử dụng vào một mục đích khác”. Nhắc tới chuyện này, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đã nhận xét: “Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân Dân Chủ bị lôi kéo vào Đảng Cộng Sản. Anh ta không đủ khí phách để chống lại việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Đặng Ngọc Tốt, cũng không đủ tinh thần sắt máu để được Cộng Sản Việt Nam tin dùng như Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một khả năng đặc biệt về chánh trị mà Cộng Sản Việt Nam có thể khai thác được như Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó, Cộng Sản Việt Nam đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Đảng và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Đảng thấy cần. Nói tóm lại, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc Tiếng Gọi Sinh Viên lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia. Ngày nay, anh ta là một văn công của Cộng Sản Việt Nam và mọi lời phát biểu của anh ta chỉ là do Đảng Cộng Sản Việt Nam mớm cho”.

Hung Lan 5

Bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”  được sáng tác vào năm 1944 đã đoạt ngay giải nhất kỳ thi âm nhạc toàn quốc năm đó. Sau đó bản này được chọn làm bài ca chính thức của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã từng ca ngợi bản nhạc này: “Một bài âu ca oai linh, nghiêm trang nhất, xứng đáng nhất để làm bài quốc ca như đã có lần được đề xướng”.

Hung Lan 6
Hùng Lân đã đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam nhiều sáng tác mà người dân Việt Nam ít nhiều đều thuộc. Các em bé mẫu giáo có “Em Yêu Ai”, ‘Thằng Tí Sún”, “Con Cò”, Ông Trăng Thu”. Lớp thanh niên có “Hè Về”, “Rạng Đông”, “Cô Gái Việt”, “Khỏe Vì Nước” và nhiều bản nhạc hùng khác. Những người yêu quê hương đất nước có “Trăng Lên”, “Một Mùa Xuân Huyền Ảo”, “Vườn Xuân”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”. Nhạc của ông làm chúng ta yêu đất nước, mến quê hương hơn. Bên cạnh những sáng tác quý giá nặng lòng với quê hương và các thế hệ người Việt đồng bào của ông, Hùng Lân còn dành cả đời mình cho sự nghiệp giáo dục âm nhạc. Ông giảng dậy tại Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ và nhiều trường trung học. Ông đã viết nhiều sách nghiên cứu và giáo khoa nhạc: Nhạc Ngữ Việt Nam, Tìm Hiểu Dân Ca Việt Nam, Nhạc Lý Tân Biên, Giáo Khoa Âm Nhạc, Nhạc Lý Toàn Thư, Hỏi và Đáp Nhạc Lý, Nhạc Hòa Âm và Nhạc Đơn Điệu, Thuật Sáng Tác Ca Khúc.

Hung Lan 7
Đã gặp ông, sống với ông một thời gian, hát nhạc của ông từ thuở nhỏ nhít, tôi thấy ông là người luôn lạc quan, vui vẻ, yêu người, yêu đất nước, không bao giờ tắt tiếng cười trong một cuộc sống hết sức nhẹ nhàng.  Ông rong chơi trong thế giới đong đầy nắng hạ này khi Hè Về, hết hè ông rộn ràng lên đường khi Rạng Đông vừa tới. Anh nghe chăng cung kèn rạng đông / Đang uy linh lừng vang trên không / Đang tha thiết hùng hồn / Khơi chí gan Lạc Hồng / Cháy lên nhuộm trên ánh hồng”.

Dù ờ bất cứ đâu ông vẫn là người mẫn tiệp trong xử thế, nhẹ nhàng trong cung cách sống. 64 năm tại thế có quá ngắn cho một người Việt yêu nước, tài hoa và hiền lương không?
  
                                                                                                      09/2025
                                                                                    Website: www.songthao.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng. Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi! Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết.
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.